Tải bản đầy đủ

xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế thị trường ở việt nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
-------oo0oo-------

TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

GVHD: Ths. Nguyễn Thanh Minh.
.

Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 04/2018


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU.......................................................................................................................4
DANH MỤC HÌNH VẼ...................................................................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................................................5
1.


2.

LÝ LUẬN CHUNG.................................................................................................................................6
1.1

Nghèo đói.........................................................................................................................................6

1.2

Thước đo nghèo đói ở Việt Nam.....................................................................................................6

1.3

Nguyên nhân nghèo đói ở Việt Nam...............................................................................................8

1.4

Xóa đói giảm nghèo.........................................................................................................................9

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM...........................................9
2.1

Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế Việt Nam.......................................9

2.2

Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam..............................................................................................10

2.3

Thực trạng về đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam........................................11

2.3.1

Các chỉ số đánh giá nghèo đói...............................................................................................11

2.3.2

Thực trạng nghèo đói.............................................................................................................13



2.3.3

Khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng ngày càng gia tăng.............................................15

2.3.4

Nghèo về dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam đang đứng vị trí số một......................................17

3. Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG VIỆT NAM...................................................................................................................................18

4.

5.

3.1

Xóa đói giảm nghèo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế:..................................................19

3.2

Nghèo đói tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế:..................................................................20

THÀNH TỰU VÀ BẤT CẬP TRONG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO..............................21
4.1

Thành tựu.......................................................................................................................................21

4.2

Bất cập............................................................................................................................................24

GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM................................................26

KẾT LUẬN....................................................................................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................................................33
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN..................................................................................................................35

2


DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.3.1 Các chỉ số thống kê HDI của Việt Nam từ năm 2010 - 2015................11
Bảng 2.3.2: Xét về sự phân hóa giàu nghèo thông qua hệ số Gini (lần)................12
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011 - 2017..................................13
Hình 2.3.2: Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo của các khu vực trên toàn quốc giai đoạn 2012
- 2016......................................................................................................................15
Hình 2.3.3 Tỷ lệ nghèo (%) tính cho nhóm dân tộc thiểu số năm 199 và 2009......16
Hình 2.3.4 Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo phân chia theo khu vực nông thôn và thành thị
2012 - 2016.............................................................................................................17

3


LỜI MỞ ĐẦU
Nạn đói năm 1944 - 1945 đã để lại nỗi ám ảnh quá sâu sắc trong hình dung
người dân lúc bấy giờ. Khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người đã chết, vợ mất
chồng, con mất cha, anh em li biệt. Cả miền Bắc hoang tàn, lầm than đến tột cùng.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, nghèo đói không chỉ riêng của một quốc gia,
một tổ chức mà nó là vấn đề của cả cộng đồng quốc tế. Chính nghèo đói đã kiềm
hãm sự tăng trưởng và phát triển của một quốc gia từ đó kéo theo nhiều hệ luỵ,
nhiều vấn đề liên quan khác như trình độ dân trí thấp, tệ nạn xã hội, bệnh tật,... Vì
vậy, cho đến nay, mặc dù nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt về kinh tế cũng
như là xã hội so với trước nhưng chưa bao giờ vấn đề đói nghèo được loại bỏ ra
khỏi các chính sách an sinh xã hội cho người dân. Nhận thấy được tầm quan trọng
cũng như sự ảnh hưởng của xóa đói giảm nghèo đến kinh tế Việt Nam nhóm chúng
tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế thị trường và xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam”. Hy vọng với bài tiểu luận này chúng tôi sẽ giúp các bạn có một cái nhìn từ
khái quát đến cụ thể về vấn đề này.

4


1. LÝ LUẬN CHUNG
1.1

Nghèo đói

Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế
hoặc thiếu cơ hội việc làm, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn
và dễ bị tổn thương… Nghèo được định nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau.
Việc đo lường được từng khía cạnh đó một cách nhất quán là rất khó.
Hội nghị chồng nghèo khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã đưa ra định
nghĩa chung như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của
địa phương.”
1.2

Thước đo nghèo đói ở Việt Nam

Ngưỡng nghèo hay chuẩn nghèo là ranh giới để phân biệt người nghèo và
người không nghèo. Nó có thể là một ngưỡng tính bằng tiền hay phi tiền tệ. Có hai
cách để xác định ngưỡng nghèo:
Cách thứ nhất, ngưỡng nghèo tuyệt đối là chuẩn tuyệt đối về mức sống được
coi là cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh. Có hai
ngưỡng nghèo tuyệt đối. Ngưỡng thứ nhất là số tiền để mua một rổ lương thực thực
phẩm hằng ngày gọi là nghèo lương thực thực phẩm. Ngưỡng nghèo này thường
thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác. Ngưỡng
nghèo thứ hai là ngưỡng nghèo chung bao gồm cả phần chi tiêu cho các sản phẩm
phi lương thực.
Cách thứ hai, ngưỡng nghèo tương đối được xét trong tương quan xã hội,
phụ thuộc địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ phổ biến nơi đó. Sự
nghèo khổ tương đối được hiểu là những người sống dưới mức tiêu chuẩn có thể
chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định.
5


Ở Việt nam chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình được
xác định như sau: Theo Điều 2, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, Quyết định về
việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020:
 Hộ nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở
xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến
1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 900.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến
1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
 Hộ cận nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường
mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
 Hộ có mức sống trung bình
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

6


- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.
1.3

Nguyên nhân nghèo đói ở Việt Nam

Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân của
nghèo đói. Trên thực tế không có một nguyên nhân biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đói
nghèo, nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó cũng không phải là
nguyên nhân thuần túy về mặt kinh tế hoặc do thiên tai dịch họa. Ở đây nguyên
nhân của tình trạng đói nghèo là có sự đan xen, thâm nhập vào nhau của cái tất yếu
lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản và cái tức thời, cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên
nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam, nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
- Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão
lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó
khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một
vùng, khu vực.
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn,
thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã
hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro…
- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không
đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó
khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm
ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách trong giáo dục đào tạo, y tế, giải
quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn
chế.
Kết quả điều tra về xã hội học cho thấy:
- Thiếu vốn: 70-90% tổng số hộ được điều tra.
- Đông con: 50-60% tổng số hộ được điều tra.
7


-

Rủi ro, ốm đau: 10-15% tổng số hộ được điều tra.
Thiếu kinh nghiệm làm ăn: 40-50% tổng số hộ được điều tra.
Neo đơn, thiếu lao động: 6-15% tổng số hộ được điều tra.
Lười lao động, ăn chơi hoang phí: 5-6% tổng số hộ được điều tra.
Mắc tệ nạn xã hội: 2-3% tổng số hộ được điều tra.
1.4

Xóa đói giảm nghèo

Là một chiến lược của chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết vấn đề đói
nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam.
2. XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăng
trưởng bền vững. Xóa đói giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt mà còn là
nhiệm vụ lâu dài. Trước mắt là xóa hộ đói, giảm hộ nghèo; lâu dài là xóa sự nghèo,
giảm khoảng cách nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng,
dân chủ, văn minh.
Xóa đói giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách
thụ động mà phải tạo ra một lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát
nghèo. Xóa đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng
trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan
trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lực
lượng sản xuất dồi dào và đảm bảo cho giai đoạn “cất cánh”.
Do đó, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu của tăng trưởng (cả
trên góc độ tăng trưởng và kinh tế), đồng thời cũng là một điều kiện tiền đề cho
tăng trưởng nhanh và bền vững. Trên phương diện nào đó, xét về ngắn hạn, khi
phân phối một phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình xóa đói giảm
nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét

8


một cách toàn diện về dài hạn thì kết quả xóa đói giảm nghèo sẽ tạo tiền đề cho
tăng trưởng nhanh và bền vững.
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam.
“Năm 2016, năm đầu cả nước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
5 năm 2016 – 2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự
báo, tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm mạnh, hoạt động của thị trường hàng
hóa kém sôi động, giá cả hàng hóa thế giới ở mức thấp đã ảnh hưởng đến kinh tế
nước ta, nhất là hoạt động xuất – nhập khẩu và thu ngân sách Nhà nước. Ở trong
nước, bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu khởi sắc của năm 2015, kinh tế nước ta
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến
đổi khí hậu. Rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc, tình trạng hạn hán tại Tây
Nguyên, Nam Trung Bộ và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu
Long, bão lũ và sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng nặng
nề đến sản xuất và đời sống nhân dân. Trước tình hình đó, Chính phủ đã lãnh đạo,
chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết
số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều
hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước
năm 2016. Đồng thời, ban hành hàng loạt các Nghị quyết để chỉ đạo, giải quyết
những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định
đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái như: Nghị quyết số 19-2016/NQCP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định
hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát
triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 8/7/2016 về
những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn
đầu tư công năm 2016; cả Nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ. Với
9


những đổi mới mạnh mẽ và sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và toàn dân, kinh
tế - xã hội nước ta năm 2016 đã vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những
thành tựu đáng kể” – Theo Tổng cục Thống kê.
2.3 Thực trạng về đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối khá, đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập
trung bình. Theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong
nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016. Mức tăng trưởng
năm 2017 vượt mục tiêu đề ra 6,7% và cao hơn mức tăng trưởng của giai đoạn
2010 – 2016. Tăng trưởng kinh tế không ổn định làm cho nhiệm vụ xóa đói giảm
nghèo đã trở nên khó khăn hơn, tốc độ giảm nghèo hiện nay không còn cùng nhịp
với tăng trưởng kinh tế như trước.
2.3.1 Các chỉ số đánh giá nghèo đói.
Chỉ số HDI
Công thức tính: HDI = 1/3(chỉ số tuổi thọ bình quân + chỉ số giáo dục + chỉ số
GDP bình quân đẩu người.
Bảng 2.3.1 Các chỉ số thống kê HDI của Việt Nam từ năm 2010 - 2015
2010
0,572

2011
0,593

2012
0,614

2013
0,617

2014
0,638

2015
0,666

(Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu con người)
Nhìn chung chỉ số HDI của Việt Nam từ năm 2010 – 2015 có xu hướng tăng
lên qua các năm, nhưng tốc độ tăng của HDI Việt Nam lại ngày càng chậm.
Nguyên nhân của HDI Việt Nam tăng qua các năm là: tuổi thọ tăng lên 85 năm,
số năm đi học bình quân 15 năm và số năm đi học kỳ vọng 18 năm, và GNI bình
quân đầu người 5.092 đô la Mĩ.
10


Hệ số Gini
Hệ số Gini (hay còn gọi là hệ số Loren): là hệ số dựa trên đường cong Loren
(Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân và hệ kinh
tế trong một nền kinh tế.
Bảng 2.3.2: Xét về sự phân hóa giàu nghèo thông qua hệ số Gini (lần)
Năm

2006

2008

2010

2012

2014

Hệ số Gini 0.424
0.434
(Nguồn: Tổng cục thống kê)

0.433

0.424

0.430

Sơ bộ
2016
0.436

Hệ số Gini ngày càng cao, đồng thời mức chênh lệch ngày càng lớn cho thấy ở
Việt Nam sự phân hóa thu nhập và hiện tượng bất bình đẳng có xu hướng tăng lên
theo thời gian. Năm 2010 có mức chênh lệch cao nhất trong các năm là 9.2 (lần)
Xét theo vùng miền, bất bình đẳng thu nhập ở khu vực nông thôn, vùng Đông
Bắc, Duyên hải Nam Trung bộ đang gia tăng liên tục bởi chênh lệch về thu nhập
giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và cao nhất cũng được giãn ra. Năm 2010, mức
chênh lệch này ở vùng nông thôn là 7,5 lần, còn đối với các vùng Tây Bắc, Đông
Bắc, Tây Nguyên tương ứng là 8,2, 7,2, và 8,3 lần.
Thu nhập bình quân đầu người qua các năm
Với tốc độ tăng GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái
bình quân đạt 14%/năm, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam từ năm
2008 đã vượt qua mốc 1.000 USD. Nếu tính thêm yếu tố giảm giá của đồng USD,
thì từ năm 2010 Việt Nam đã chuyển vị thế từ nhóm nước có thu nhập thấp sang
nhóm nước có thu nhập trung bình .
(Nguồn: tổng cục thống kê.)

11

Hình 2.3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011 - 2017


Dựa vào hình ta thấy tốc độ tăng trưởng GDP nước ta đạt mức cao, đỉnh điểm
là năm 2017 với 6.81%, vượt sự dự đoán của các chuyên gia trong và ngoài nước.
Quy mô nền kinh tế nước ta hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng tương đương 220
tỷ USD.
2.3.2 Thực trạng nghèo đói
- Theo kết quả điều tra, theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020,
tổng số hộ nghèo trên toàn quốc là 2.338.569 hộ (chiếm 9,88%), hộ cận
nghèo là 1.235.784 hộ (chiếm 5,22%).
- Trong đó, tổng số hộ nghèo trên địa bàn 64 huyện nghèo (62 huyện nghèo
theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ và hai huyện nghèo
theo Quyết định số 1791 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ) là 371.990
hộ chiếm tỷ lệ 50,43%, số hộ cận nghèo là 94.611 hộ chiếm tỷ lệ 12,83
%...
- Kết quả điều tra cũng cho thấy, khu vực miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ
nghèo cao nhất cả nước với 34,52%, tiếp theo là miền núi Đông Bắc
(20,74%) và Tây Nguyên (17,14%). Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp
12


nhất cả nước với 1,23%, tỷ lệ hộ nghèo của đồng bằng sông Hồng cũng chỉ
4,76%...
Những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước là: Điện Biên (48,14%), Hà
Giang (43,65%), Cao Bằng (42,53%).
Thanh Hóa là tỉnh có số hộ nghèo nhiều nhất cả nước với 128.893 hộ, tiếp
theo là Nghệ An là 95.205 hộ), Sơn La là 92.754 hộ...
Trong khi đó, Bình Dương là địa phương duy nhất không có hộ nghèo và
cận nghèo theo chuẩn nghèo mới, TP Hồ Chí Minh cũng có tỷ lệ hộ nghèo (0,02%)
và cận nghèo (0,2%) rất thấp.
Ngoài ra, có một số địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp, như: Đồng Nai là
0,91%, Bà Rịa - Vũng Tàu là 1,91%, Tây Ninh là 2,1%, Hà Nội là 2,97%...
Theo kết quả sơ bộ của 60 tỉnh, thành điều tra cho đến thời điểm này, tỷ lệ
hộ nghèo của cả nước rơi vào khoảng gần 10%, cận nghèo là hơn 5%
Theo thống kê của Bộ LĐ - TBXH, cả nước có hơn 2,31 triệu hộ nghèo
(chiếm tỉ lệ 9,79% so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc) và hơn 1,24 triệu hộ
cận nghèo (chiếm tỉ lệ 5,27%) theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020.
Qua những số liệu trên cho thấy tỷ lệ nghèo đói trên toàn quốc có xu hướng
giảm, tuy nhiên lượng tăng giảm này không đều và khoảng cách nghèo giữa các
vùng ngày càng giãn rộng ra.

13


Hình 2.3.2: Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo của các khu vực trên toàn quốc giai đoạn
2012 - 2016
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy:
- Xu hướng nghèo của các khu vực trong cả nước đang có xu hướng giảm từ
năm 2012 cho đến năm 2016.
- Các khu vực nghèo tập trung chủ yếu ở Trung du và miền núi phía Bắc, Tây
Nguyên, ngược lại ở những vùng đồng bằng thì tỉ lệ nghèo rất thấp, và thấp nhất là
Đông Nam Bộ chỉ chiếm khoảng 1 – 2 % tỉ lệ người nghèo trong cả nước.
Vì vậy Đảng và Nhà nước cần có các chính sách đầu tư nhiều hơn cho những
vùng trung du và miền núi đặc biệt là các vùng đặc biệt khó khăn, để tạo điều kiện
cho người dân vươn lên thoát nghèo cũng như thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
giữa các vùng miền.
2.3.3 Khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng ngày càng gia tăng.
Khoảng cách giữa các nhóm dân tộc thiểu số (chiếm 15% dân số) và người
Kinh tiếp tục giãn rộng. Khoảng cách về mức sống giữa các nhóm dân tộc thiểu số
và người Kinh đa số rất lớn: tới 66,3% người dân tộc thiểu số vẫn nghèo vào năm
2010, trong khi tỉ lệ này ở dân tộc Kinh chỉ là 12,9%, và 37,4% người dân tộc thiểu
14


số thuộc diện nghèo cùng cực. Nghèo trong các nhóm dân tộc thiểu số thành một
thách thức ngày càng tăng và kéo dài.

Hình 2.3.3 Tỷ lệ nghèo (%) tính cho nhóm dân tộc thiểu số năm 199 và 2009
Các bản đồ nghèo mới được xây dựng trên cơ sở kết quả Tổng Điều tra Dân số
và Nhà ở năm 2009 và năm 2010. Bản đồ này cho thấy hiện nay tình trạng nghèo
chủ yếu tập trung ở các vùng cao của Việt Nam, gồm miền núi Đông Bắc và Tây
Bắc và một số khu vực ở Tây Nguyên. Ngược lại, các bản đồ “giàu có” hộ bổ xung
cho thấy: các hộ giàu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng (gần Hà Nội) và
Đông Nam bộ, cũng như các trung tâm đô thị dọc bờ biển. Người dân tộc thiểu số
chiếm 15% dân số Việt Nam và gần nửa trong số họ vẫn ở diện nghèo.

15


Hình 2.3.4 Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo phân chia theo khu vực nông thôn và thành
thị 2012 - 2016
Dựa vào hình ta thấy tỷ lệ chênh lệch giàu nghèo ở khu vực thành thị và nông
thôn rất cao, dẫn đến mất cân đối nhiều mặt trong kinh tế - xã hội, nhà nước cần có
nhiều chính sách phát triển kinh tế nông thôn, chuyển dịch kinh tế để tái cân bằng
nhằm giảm tình trạng chênh lệch giàu nghèo quá cao giữa 2 khu vực thành thị và
nông thôn.
2.3.4 Nghèo về dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam đang đứng vị trí số một
Theo số liệu Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm
2006 (MICS), để ước tính số trẻ em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của
con người, thì nghèo về dinh dưỡng là vấn đề lớn nhất, với tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng lên tới 35,8% (chỉ tiêu suy dinh dưỡng tính theo chiều cao, mức độ
vừa). Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, năm 2007, tỷ lệ trẻ em dưới 5
tuổi suy dinh dưỡng tính theo cân nặng là 21,2%; tính theo chiều cao là 33,9%.
Nghèo về nơi ở và thường đi kèm theo đó là thiếu các công trình vệ sinh cơ bản
đứng ở vị trí thứ 2 và thứ 3 về mức độ nghiêm trọng, với tỷ lệ 20 – 30% số trẻ em
đang chịu những thiếu thốn này. Con số 8,7% trẻ em thiếu nước sạch có thể quá
16


thấp. Về yếu tố dân tộc, những dân tộc ít người, sống phân tán ở vùng cao, điển
hình là người Mông trong mẫu điều tra, có tỷ lệ trẻ em nghèo cao về tất cả các lĩnh
vực. Trẻ em thuộc các dân tộc có dân số đông, sống tập trung và ở vùng núi thấp,
vùng đồng bằng như Tày, Nùng, Mường, Thái… thì mức độ nghèo về thông tin là
điều đáng chú ý.
 Tóm lại:
Sau 10 năm nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc
(FAO) đã công nhận Việt Nam có thành tích trong xóa đói giảm nghèo. Việt Nam
nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao bằng khen chứng nhận việc sớm đạt được
Mục tiêu Phát triển thiên niên kỉ 1 (MDG1) – hướng tới mục tiêu giảm một nửa số
người bị đói vào năm 2015. Điều đó khẳng định định hướng chiến lược toàn diện
về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là đúng đắn, hợp lòng dân và
phù hợp với xu thế chung của thế giới.
Tuy nhiên, tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu –
nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn; nhiều vùng còn nhiều khó khăn, có
vùng còn trên 50% hộ nghèo, cá biệt có vùng còn 60% -70% hộ nghèo. Tỷ trọng
hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước, thu
nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân cả
nước. Với mục tiêu cụ thể đặt ra, đến cuối năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước
giảm 2%/năm (từ 9,6% xuống còn 7,6%), riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo
giảm bình quân 4%/năm (từ 43,89% năm 2012 xuống còn 38,89% năm 2013), đến
cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn dưới 5% theo chuẩn nghèo hiện
hành, tỷ lệ nghèo các huyện nghèo còn dưới 30%.
3. Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM.

17


3.1 Xóa đói giảm nghèo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế:
Một là, hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo có ý nghĩa rất lớn, tác
động đến sự tăng trưởng kinh tế đất nước, nó thúc đẩy sản xuất, kích thích nền kinh
tế phát triển.
Hai là, khi mức nghèo tuyệt đối giảm đáng kể thì song song đó, chúng ta
thường chứng kiến mức tăng trưởng kinh tế cao, bởi vì phần lớn những chính sách
tăng thu nhập của người nghèo một cách hiệu quả như đầu tư vào giáo dục tiểu học
hạ tầng nông thôn, chăm sóc sức khỏe và nâng cao dinh dưỡng cũng là các chính
sách gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Ba là, hoạt động của công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả đã tạo ra được
nhiều việc làm cho người nghèo, giúp họ có thu nhập, nâng cao mức sống, hỗ trợ
người nghèo về vốn để họ có nguồn vốn trong sản xuất, làm ăn. Tiếp đó, là những
hỗ trợ về mặt kiến thức kỹ năng trong sản xuất, dạy nghề cho người nghèo, tổ chức
sản xuất, mở rộng làng nghề giúp cho đời sống kinh tế của người nghèo dần đi lên
và người nghèo đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, góp phần vào quỹ phục vụ
cho công tác xóa đói giảm nghèo.
Bốn là, hoạt động của công tác xóa đói giảm nghèo có hiệu quả giúp cuộc
sống của người nghèo được cải thiện, nâng cao kéo theo đó là tỷ lệ hộ nghèo giảm
xuống, tức là giảm được một phần ngân sách nhà nước chi trả hằng năm cho công
tác xóa đói giảm nghèo. Góp phần làm giảm chi phí xã hội, tăng nguồn vốn đầu tư
vào quá trình sản xuất, ổn định phát triển kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã
hội.
Năm là, thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ
đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông
dân ổn định cuộc sống lâu dài. Xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn
còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền
18


vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to
lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí,
chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống,
sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội
lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo,
ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ
trương của đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn xã hội
khác, bảo vệ môi trường sinh thái.
3.2 Nghèo đói tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế:
Thứ nhất, người nghèo có năng suất lao động thấp do sức khỏe kém và kỹ
năng lao động bất cập sẽ làm xói mòn năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Thứ hai, nghèo đói cũng làm suy giảm năng lực tiết kiệm và đầu tư, làm cho
tăng trưởng kinh tế bị triệt tiêu dần.
Thứ ba, thêm vào đó, những đòi hỏi khắt khe về tài sản thế chấp cũng ngăn
cản người nghèo tiếp cận với các khoản vay trên thị trường tín dụng.
Thứ tư, thu nhập thấp ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống con người, mức
sống không đảm bảo dẫn đến hệ quả tất yếu, đó là suy dinh dưỡng ở trẻ em và
giảm tuổi thọ ở người lớn, các hoạt động chi tiêu cho giáo dục, cho y tế và cho các
sinh hoạt khác sẽ bị cắt giảm để nhường chổ cho chi tiêu về lương thực, quần áo,...
Thứ năm, thiếu sự chăm sóc về y tế, giáo dục, thiếu kiến thức về sức khỏe
sinh sản, phòng tránh thai cũng như chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em sẽ dẫn đến tỉ
lệ sinh cao, tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh, thậm chí là các bà mẹ,…Tỷ lệ phát triển
dân số cao dẫn đến áp lực về việc làm. Mặt khác chính lực lượng lao động được bổ
sung một cách hào phóng hằng năm lại thiếu kiến thức do chính sách giáo dục, đào
tạo kém, dẫn đến thất nghiệp tràn lan, năng suất lao động thấp.

19


Thứ sáu, những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có
cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm
nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ
của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, trình độ học
vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục sinh đẻ, nuôi
dưỡng con cái không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai. Suy
dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường
của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ là cho việc thoát nghèo thông qua giáo
dục trở nên khó khăn hơn.
Thứ bảy, hệ quả tất yếu đó là người nghèo ít có khả năng khai thác những cơ
hội tích lũy vốn vật chất và vốn con người. Điều này làm giảm tốc độ tăng trưởng
của thu nhập, và hệ quả có thể là nghèo đói gia tăng.
Thứ tám, ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các
nhiệm vụ và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu
hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu
quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội
làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết thành
công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng
xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và phát triển
bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều
kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển
nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước nhằm đưa nước ta đạt tới trình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu
vực, tháo khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu.

20


4. THÀNH TỰU VÀ BẤT CẬP TRONG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO
4.1 Thành tựu
Chính phủ đã ban hành các hệ thống chính sách về giảm nghèo toàn diện cho
các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo. Một số chương
trình lồng ghép như: Các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội, các chính sách
hỗ trợ cho hộ nghèo... được triển khai đồng bộ, có hiệu quả.
Điểm nổi bật trong các chính sách giảm nghèo mà Chính phủ hướng tới là
các hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, nhằm hạn chế tình trạng tái nghèo, bảo đảm
giảm nghèo bền vững. Năm 2016, tổng kinh phí thực hiện các chính sách an sinh
xã hội khoảng 324 nghìn tỷ đồng, bằng 35,8% tổng chi ngân sách Nhà nước, tăng
33,2% so với năm 2015.
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ - TBXH), đến cuối năm
2017, ước tỉ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn dưới 7% (giảm 1,3% so với
cuối năm 2016). Thông tin này được đưa ra tại Lễ trao giải báo chí viết về công tác
xóa đói giảm nghèo (XĐGN) giai đoạn 2016-2020 lần thứ 1 do Bộ Thông tin
Truyền thông phối hợp cùng Bộ LĐ - TBXH và Hội Nhà báo Việt Nam đồng tổ
chức.
Theo báo cáo của Bộ LĐ - TBXH, giai đoạn 2016 - 2020, tổng nguồn lực
ngân sách trung ương dành cho Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững là 41.449 tỉ đồng. Trong đó vốn đã giao năm 2016 - 2017 là hơn 14.584 tỉ
đồng, chiếm 35,18%. Ngoài ra, trong 2 năm 2016 - 2017, ngân sách nhà nước cũng
đã bố trí 44.214 tỉ đồng để thực hiện các chính sách giảm nghèo thường xuyên, hỗ
trợ người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng.

21


Cùng với nguồn lực nhà nước, các địa phương đã huy động khoảng hơn
7.303 tỉ đồng cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 2016. Riêng 9
tháng đầu năm 2017, đã huy động được 5.560 tỉ đồng.
Ngoài ra, các mô hình giảm nghèo ở các vùng đặc thù, mô hình giảm
nghèo liên kết giữa người nghèo với doanh nghiệp; mô hình giảm nghèo gắn với
củng cố an ninh quốc phòng có thể giúp tăng thu nhập của các hộ nghèo từ 15 20%, bình quân mỗi năm có ít nhất 15% hộ gia đình tham gia dự án sẽ thoát nghèo.
Đến hết năm 2017, ước tỉ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn dưới 7%
(giảm 1,3% so với cuối năm 2016). Trong đó bình quân tỉ lệ hộ nghèo ở các huyện
nghèo giảm còn dưới 40%; bình quân tỉ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn,
vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã biên giới, xã an toàn khu vùng dân tộc và
miền núi giảm khoảng 3 - 4% so với năm 2016, đạt mục tiêu đã đề ra của Chính
phủ.
Tuy nhiên, tiến bộ đạt được trong xóa đói, giảm nghèo là không đồng đều.
Tỷ lệ nghèo ở các nhóm dân tộc ít người vẫn cao hơn nhiều so với mức nghèo của
các nhóm người Kinh và Hoa. Hầu hết những người nghèo đều sống ở các vùng
nông thôn, với tỷ lệ nghèo đang tiếp tục giảm. Điều này trái ngược với mức nghèo
hầu như vẫn giữ nguyên ở thành thị. Đó là do giá cả ngày càng tăng cao ở khu vực
thành thị. Sự bùng nổ giá bất động sản làm tăng chi phí bán lẻ và các dịch vụ khác
trong thành phố. Giá cả leo thang ở khu vực thành thị có thể dẫn đến mức sống
thấp hơn cho những người mà thu nhập của họ không tăng theo một cách tương
ứng. Ngoài ra, giá cả tăng có thể khiến cho những người cận nghèo bị tái nghèo.
Sự kết hợp giữa tốc độ giảm nghèo nhanh ở những vùng nghèo hơn của Việt
Nam và giảm nghèo chậm hơn ở các tỉnh giàu hơn đã giúp thu hẹp khoảng cách
giữa các vùng. Bức tranh nghèo giữa các tỉnh cũng tương tự như giữa các vùng.
Vẫn còn những khoảng cách lớn những tỉnh giàu nhất và tỉnh nghèo nhất. Tuy
nhiên, ngay cả ở những vùng cao nguyên nghèo nhất, một số tỉnh cũng đang giảm
22


nghèo tốt hơn và bắt đầu theo kịp các tỉnh giàu hơn ở vùng đồng bằng. Điều đó là
do đối với các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chính phủ đã có
những chính sách ưu tiên như Chương trình 135, ổn định dân di cư tự do, chính
sách trợ giá, trợ cước, Chương trình 173, Chương trình 186... Những chính sách đó
đã giúp người nghèo, người dân tộc xóa đói, giảm nghèo, lĩnh hội được các thành
quả của quá trình phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Tuy chưa theo kịp tốc độ của vùng đồng bằng, vùng đô thị, song đời sống của
người dân nơi đây đã có những thay đổi tích cực, kết cấu hạ tầng phát triển, thị
trường hàng hóa đã bắt đầu hình thành, dần dần thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp
trước đây.
4.2 Bất cập
Thành tựu về xóa đói giảm nghèo trong những năm qua là không thể phủ
nhận. Tuy nhiên, những hạn chế và bất cập trong tiến trình này là không nhỏ, thể
hiện ở sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn giữa các vùng, các tầng lớp xã hội. Tỷ lệ
hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn cao gấp 4-5 lần so với mức bình quân của cả
nước. Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản. Bên
cạnh đó, những thành tựu xóa đói giảm nghèo đã đạt được còn thiếu tính bền vững,
nguy cơ tái nghèo còn cao. Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo trước những
rủi ro của cuộc sống (ốm đau, thiên tai, mất mùa, biến động thị trường, môi trường
ô nhiễm, mất đi người trụ cột của gia đình, thất nghiệp...) cũng vẫn rất lớn. Hệ
thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Đặc biệt nước ta nằm trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt và 80%
người nghèo làm việc trong nông nghiệp có thể dẫn đến nguy cơ tái nghèo đói cao.
Mặt khác, có không ít hộ tuy không thuộc diện nghèo đói nhưng mức thu nhập
không ổn định nằm giáp ranh chuẩn nghèo đói cũng có nguy cơ tái đói nghèo.
Ngoài ra, nghèo đói có mối liên quan mật thiết với tình trạng suy thoái môi trường.
23


Nghèo đói có thể khiến cho nông dân khai thác quá mức nguồn tài nguyên vốn đã
hạn hẹp và càng làm cho nghèo đói trở nên trầm trọng hơn.
Theo Báo cáo của Dự án VIE, công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam sẽ
còn gặp nhiều khó khăn do nguồn lực xóa đói, giảm nghèo hạn chế; số lượng cán
bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo còn thiếu, yếu về năng lực. Bên cạnh đó, cơ
chế xác định hộ nghèo chưa được thực hiện thống nhất ở các địa phương và chất
lượng giám sát theo dõi báo cáo về xóa đói, giảm nghèo chưa cao... Một số nguyên
nhân cụ thể dẫn đến những bất cập trong công tác xóa đói, giảm nghèo có thể lý
giải như sau:
Thứ nhất, nguồn kinh phí do trung ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp
ứng được mục tiêu đề ra. Với nguồn kinh phí hằng năm bố trí cho xóa đói, giảm
nghèo khoảng 600 - 700 tỉ đồng (bình quân khoảng 100.000 đ/người) khó có thể
giúp người nghèo thoát nghèo trong thời gian ngắn. Trong điều kiện nguồn kinh
phí hỗ trợ từ trung ương còn hạn hẹp thì nguồn huy động tại chỗ đóng vai trò hết
sức quan trọng. Song, nhiều tỉnh gặp khó khăn, không chủ động được việc huy
động nguồn lực tại chỗ do không biết chính xác nguồn kinh phí được hỗ trợ từ
trung ương là bao nhiêu và thông thường tiêu chí phân bổ kinh phí không được
thông tin rõ ràng.
Thứ hai, một số chính sách hỗ trợ chưa thật sự phù hợp với người nghèo ảnh
hưởng đến hiệu quả của các chương trình. Ví dụ, như chính sách hỗ trợ khám chữa
bệnh cho người nghèo là rất có ý nghĩa, song mức hỗ trợ tối đa tại trạm y tế xã là
10.000 đ/lần khám chữa bệnh, tuyến huyện là 147.000 đ/lần khám chữa bệnh là
quá thấp (trong khi các chi phí đi lại, thuốc thang mà người bệnh tự chi trả có thể
cao hơn nhiều). Các thủ tục rườm rà, hệ thống cơ chế, chính sách mang tính bao
cấp kéo dài phần nào đã tạo ra tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà
nước và cộng đồng của một bộ phận người nghèo, xã nghèo cũng ảnh hưởng đến
tính bền vững của công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
24


Thứ ba, hệ thống theo dõi, giám sát chương trình chưa được tổ chức một
cách có hệ thống và đồng bộ. Thông thường công tác sơ kết, tổng kết chương trình
chủ yếu dựa trên báo cáo của các bộ và các tỉnh gửi về, song tình trạng một số chỉ
tiêu trong báo cáo không có số liệu hoặc không gửi báo cáo về vẫn xảy ra thường
xuyên. Trong khi đó, các chỉ tiêu được sử dụng để báo cáo, nhìn chung mang tính
liệt kê, chưa phân biệt rõ giữa chỉ tiêu đầu vào, đầu ra và vai trò tác động. Điều này
đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác theo dõi, đánh giá chính xác hiệu quả và
tác động của chương trình.
Thứ tư, thiếu đội ngũ cán bộ xóa đói, giảm nghèo có đủ năng lực để thực
hiện chương trình. Hiện nay, phần lớn đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm
nghèo ở xã vẫn kiêm nhiệm, trong khi chủ yếu các hoạt động của chương trình
được triển khai tại xã. Chưa được đào tạo có hệ thống, khối lượng công việc nhiều
là những lý do khiến họ khó thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Năng lực chuyên
môn của cán bộ cấp huyện, xã còn yếu, nhiều cán bộ làm công tác xóa đói giảm
nghèo chưa tốt nghiệp phổ thông trung học. Hơn nữa công tác xóa đói, giảm nghèo
đòi hỏi cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ còn phải nhiệt tình, nhạy bén, sáng tạo
để nắm chắc tình hình đói nghèo trên địa bàn.
5. GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
- Nâng cao kiến thức, kinh nghiệm kỹ năng sản xuất cho người lao động và hộ đói
nghèo.
- Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế cao tạo ra việc làm để nâng cao đời sống cho người
nghèo.
- Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế
văn hoá và bảo vệ môi trường.
- Phát triển các doanh nghiệp nhỏ, khu vực không kết cấu ở thành thị.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×