Tải bản đầy đủ

Trình bày những lý do nên ủng hộ hay phản đối quan điểm nên tăng học phí đối với giáo dục đại học

ĐỀ TÀI :

Trình bày những lý do nên ủng hộ hay phản đối quan điểm nên tăng
học phí đối với giáo dục đại học


LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế thì
nguồn lực con người càng trở nên có ý nghĩa và quan trọng, quyết định sự thành công của
công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong
việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Giáo dục bậc đại học là một trong những hoạt động quan trọng góp phần phát triển nguồn
nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập, nâng cao trình độ tay nghề và tăng nguồn thu
cho đất nước đặc biệt là trong bối cảnh nguồn nhân lực nước ta hiện nay đang rất dồi dào
nhưng thiếu chất lượng. Việc nâng cao chất lượng đòi hỏi cần có kinh phí để đầu tư trang
thiết bị, đồ dùng cho người dạy cũng như người học được tốt hơn. Song kinh phí đó được
lấy từ đâu? Vì vậy đặt ra câu hỏi có nên tăng học phí hay không?

CHƯƠNG I : CÁC LÝ LUẬN CHUNG



1.1 Khái niệm học phí
Học phí đại học là khoản chi trả của gia đình/sinh viên để nhận được những lợi ích của
giáo dục đại học như cơ hội việc làm tốt hơn trong tương lai và mức thu nhập suốt đời
cao hơn (Đại học Kobe và UNESCO Bangkok, 2014); Học phí đại học là giá mà sinh
viên và phụ huynh trả cho dịch vụ giáo dục đại học vì những lợi ích cá nhân (Wei Huang
và Haiquan Wu, 2008).
1.2. Cơ sở để quy định học phí
- Quy định học phí đại học từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021
Mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ đại học tại các cơ sở
giáo dục công lập chưa tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư áp dụng
theo các khối ngành, chuyên ngành đào tạo từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 2021 (kể cả các cơ sở giáo dục đại học được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực
hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động):
Đơn vị: VNĐ/tháng/sinh viên
Khối ngành,
chuyên ngành
đào tạo

Năm học Năm học Năm học Năm học Năm học Năm học
20152016201720182019- 20202016
2017
2018
2019
2020
2021

1. Khoa học xã 610.000
hội, kinh tế,
luật; nông, lâm,
thủy sản

670.000

740.000

810.000

890.000

980.000


2. Khoa học tự 720.000
nhiên; kỹ thuật,
công nghệ; thể
dục thể thao,
nghệ
thuật;
khách sạn, du
lịch

790.000

870.000

960.000

1.060.00 1.170.000
0


3. Y dược

880.000

970.000

1.070.00 1.180.00 1.300.00 1.430.000
0
0
0

Mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ đại học tại các cơ sở
giáo dục công lập tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư áp dụng theo các
khối ngành, chuyên ngành đào tạo từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021
(kể cả các cơ sở giáo dục đại học được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện
thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động), cụ thể:
Đơn vị: VNĐ /tháng/sinh viên
Khối ngành, chuyên
ngành đào tạo

Từ năm học
2015-2016 đến
năm học 20172018

Từ năm học
2018-2019 đến
năm học 20192020

Năm
học 20202021

1. Khoa học xã hội,
kinh tế, luật; nông, lâm,
thủy sản

1.750.000

1.850.000

2.050.000

2. Khoa học tự nhiên;
kỹ thuật, công nghệ; thể
dục thể thao, nghệ
thuật; khách sạn, du
lịch

2.050.000

2.200.000

2.400.000

3. Y dược

4.400.000

4.600.000

5.050.000

- Mức thu học phí đại học năm 2010-2011 đến 2014-2015:
Mức trần học phí đối với đào tạo trình độ đại học tại trường công lập theo các nhóm
ngành đào tạo chương trình đại trà từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015
như sau:

(đơn vị: VNĐ/tháng/sinh viên)


Nhóm
ngành

Năm học
2010 -2011

Năm học
2011 -2012

Năm học
2012 -2013

Năm học
2013 -2014

Năm học
2014 -2015

1. Khoa học 290.000
xã hội, kinh
tế, luật;
nông, lâm,
thủy sản

355.000

420.000

485.000

550.000

2. Khoa học 310.000
tự nhiên; kỹ
thuật, công
nghệ; thể
dục thể
thao, nghệ
thuật; khách
sạn, du lịch
3. Y dược
340.000

395.000

480.000

565.000

650.000

455.000

570.000

685.000

800.000

- Mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục đại học công lập không được hỗ trợ ngân
sách chi thường xuyên được xác định theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí thường
xuyên trình cấp thẩm quyền cho phép và phải công khai mức học phí cho người học biêt
trước khi tuyển sinh . Mức thu học phí đào tạo theo phương thức giáo dục thường xuyên
áp dụng mức không vượt quá 150% mức thu học phí so với hệ đào tạo chính quy tương
ứng cùng trình độ đào tạo, nhóm ngành, chuyên ngành và nghề đào tạo theo chương
trình đào tạo đại trà tại cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chưa thực hiện
tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư.
- Mức thu học phí các cơ sở giáo dục ngoài công lập được tự quyết định mức thu học
phí. Học phí các cơ sở giáo dục của nhà đầu tư nước ngoài do các nhà đầu tư quyết định
nhưng phải thực hiện Quy chế công khai của Bộ Giaso dục và Đào tạo quy định để
người học, các cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan tài chính biết thực hiện việc kiểm
tra, giám sát.
 Có sự khác nhau về mức thu học phí vì:
Về phía nhà trường, mức học phí được so sánh với chi phí đào tạo, bao gồm cả đầu tư
phát triển. Về phía người học, mức học phí so sánh với triển vọng thu nhập trong tương


lai. Về phía quản lý hệ thống, mức học phí so sánh với thu nhập trung bình đầu người
và so sánh với các quốc gia khác.
Để giải quyết thất nghiệp, các trường buộc phải nâng cao chất lượng đào tạo mà
nguồn lực tài chính lại là điều kiện cần để thực hiện việc này. Vì vậy, chủ trương tăng
học phí là cần thiết nếu đặt đúng mục tiêu. Hơn nữa, mức học phí hiện nay dù sao cũng
còn thấp so với các nước. Tính trung bình học phí 1 năm ở trường công của Mỹ là 9.804
USD, chiếm 17,7 % GNI đầu người; ở Malaysia là 8.500 USD, chiếm 79% GNI đầu
người..
 Học phí được sử dụng để:
Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học tập (như sửa chữa, cải tạo cơ sở
vật chất hiện có, xây dựng nhỏ các Phòng học, Phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, thư
viện, ký túc xá học sinh - sinh viên; mua sắm, thuê mướn cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ giảng dạy, học tập, quản lý chuyên môn, hành chính và các công việc khác cú
liên quan).
+ Bổ sung kinh phí cho các hoạt động của sự nghiệp giáo dục đào tạo, kể cả hỗ trợ thi
tốt nghiệp (Bao gồm tất cả các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn và các khoản chi
thường xuyên thuộc nội dung chi hoạt động sự nghiệp giáo dục đào tạo, kể cả chi cho
thi tốt nghiệp ở các trường và cơ sở giáo dục - đào tạo, chi nghiệp vụ quản lý quỹ học
phí tại cơ sở).
+ Hỗ trợ cho hoạt động trực tiếp giảng dạy, phục vụ giảng dạy. Bao gồm chi hỗ trợ cho
hoạt động trực tiếp giảng dạy và phục vụ giảng dạy của giáo viên, cán bộ nhân viên
phục vụ giảng dạy và các bộ phận liên quan, chi khen thưởng và chi phúc lợi tập thể ở
các trường và các cơ sở giáo dục đào tạo..
- Các yếu tố ảnh hưởng đến mức học phí theo quan điểm của người học có thể chia
thành 3 nhóm yếu tố chính sau:
Nhóm 1: Đặc điểm của bản thân người học: Các yếu tố trong nhóm này gồm: Thị
hiếu và kỳ vọng trong tương lai.
Nhóm 2: Đặc điểm hộ gia đình: Các yếu tố trong nhóm này gồm: Thu nhập của
người tiêu dùng và dân số.
Nhóm 3: Chất lượng giáo dục của trường Đại học: Các yếu tố trong nhóm này
gồm: Giá hàng hóa liên quan và chất lượng giáo dục của các trường đại học
Theo cách tiếp cận từ người học thì học phí hay mức chi phí khi tham gia học đại
học càng thấp càng tốt trong khi đó họ lại mong muốn nhận được các dịch vụ, chất
lượng giảng dạy càng cao càng tốt.


1.3. Quan niệm về chia sẻ học phí GDĐH và vấn đề học phí.
Quan niệm chia sẻ lợi chi phí GDĐH cũng là hệ quả của việc xem GDĐH không
hoàn toàn là lợi ích công mà có phần là lợi ích tư. Theo đó, chính phủ phải có các chính
sách qui định mức độ chia sẻ tài chính giữa nhà nước, phụ huynh người học và bản thân
họ, cũng như các doanh nghiệp và cộng đồng nói chung. Quan niệm về chia sẻ học phí
tất yếu dẫn đến chính sách thu học phí, một chính sách được mọi nước quan tâm.
Ở một số nước việc đề xuất thu học phí thường gặp nhiều khó khăn. Ví dụ như ở Đức: ở
đây chính phủ muốn các trường đại học thu học phí để giảm bớt kinh phí bao cấp của
nhà nước, trong khi đó các trường đại học lại đòi quyền thu học phí nhưng lại yêu cầu
chính phủ không được cắt giảm ngân sách cấp cho các trường đại học. Do đó chủ
trương thu học phí không được chấp thuận. chính sự cam kết về một nền GDĐH đã đặt
toàn bộ gánh nặng tái chính của GDĐH nên vai chính phủ.
Ở Việt Nam, ở thập niên đầu thế kỉ 21 chủ trương tăng học phí GDĐH đã được Bộ
trưởng Bộ GD-ĐT trình quốc hội nhưng đều bị phản đối mạnh mẽ nên phải gác lại. Đầu
năm 2007- 2008 nhà nước đưa ra quyết định 157/2007 QĐTTG và 319/2008 QĐTTG
về chủ trương huy dộng khoảng 30-35 nghìn tỉ để cho khoảng 1/3 sinh viên nghèo vay
với l lãi suất thấp để theo học và sẽ trả sau khi tốt nghiệp, là một cố gắng lớn của chính
phủ, sẽ tạo cơ hội tực hiện chính sách năng học phí ở các trường đại học.
1.4 Quan niệm GDĐH là hàng hoá
Việc huy động tái chính từ các nguồn tư nhân, nhất là việc chuyển từ quan niệm
GDDH là lợi ích công sang lợi ích tư tất yếu dẫn tới quan niệm dịch vụ GDĐH là hàng
hoá có thể mua bán trên thị trường. có nhiều ý kiến chống lại quan niệm này, tuy nhiên
không thể phủ nhận thực tế tại các trường đại học. phản ứng gay gắt của nhiều tổ chức
lớn trên theses giới đối với hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATs chứng tỏ đây
là một cuộc dấu tranh lâu dài. Cho nên UNESCO cũng phải chấp nhận một giải pháp
nước đôi: ‘’Thương mại GD là một thực tế nhưng GDĐH không thể mua bán như các
loại hàng hoá khác. Chính phủ và các trường đại học không thể từ bỏ quan điểm GDDH
là một hàng hoá công và mục tiêu cuối cùng là lợi ích công toàn cầu.
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM NÊN ĐỒNG Ý HAY PHẢN ĐỐI QUAN ĐIỂM TĂNG
HỌC PHÍ ĐẠI HỌC
2.1. Vì sao nên tăng học phí
Tăng học phí là vấn đề hết sức nhạy cảm, tạo nên các luồng dư luận khác nhau. Mức
tăng này có ảnh hưởng nhiều đến những người nghèo hay không? Có giúp tăng chất
lượng đào tạo lên tương xứng với tăng học phí hay không? Hai câu hỏi này liên quan


đến chất lượng đào tạo và công bằng xã hội và nêu một câu trả lời thỏa đáng theo hướng
tích cực thì việc tăng học phí là đúng đắn. Kinh phí ảnh hưởng đến chất lượng và số
lượng cán bộ giảng dậy, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, thư
viện, phòng học, năng lực quản lí giáo dục và nhiều yếu tố khác.
Theo Bộ GD&ĐT cũng như lãnh đạo một số trường ĐH, muốn nâng cao chất lượng
đào tạo thì phải có kinh phí, do đó có việc tăng học phí… việc tăng học phí nhằm nâng
cao chất lượng giảng dạy ở các cơ sở giáo dục ĐH công lập, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực là điều cần thiết. Kinh phí ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Chất lượng đào
tạo phụ thuộc hàng loạt yếu tố: chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy;
chương trình đào tạo; cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm, thư viện, phòng học; năng
lực quản lý giáo dục và nhiều yếu tố khác. Trước hết, muốn có đội ngũ cán bộ giảng dạy
chất lượng, trường đại học phải đưa ra một mức thu nhập tương đối thu hút. Giải quyết
tăng thu nhập cho giảng viên cũng chính để cho trường tiếp tục tồn tại, nhiều trường khi
có điều kiện là tăng số lượng sinh viên mỗi lớp học trên một trăm, thậm chí một số môn
học quan trọng cũng ghép lớp 400, 500 sinh viên, nhờ đó tiết kiệm chi phí đào tạo rất
lớn (cần ít giảng viên, trả số tiền giảng ít). Nhưng chính điều này đã làm giảm chất
lượng đào tạo rất nhiều, giảng viên không thể nào vận dụng phương pháp lấy sinh viên
làm trung tâm trong việc học, cũng như không thể cho thảo luận nhóm, bài tập lớp, làm
chuyên đề. Như vậy, có thể thấy một trong những nguyên nhân chính của sự thiếu hụt số
lượng cũng như chất lượng thấp là do vấn đề thu nhập của giảng viên.
Cơ sở vật chất hiện nay trong các trường cũng là vấn đề hết sức bức xúc. Sổ sách và
ghế ngồi trong thư viện theo đầu sinh viên là rất thấp, số phòng thí nghiệm máy móc
thiết bị không đủ và rất lạc hậu. Nhiều trường khoa có 2000 sinh viên mà chỉ có 100
máy tính. Với hiện trạng này, dễ hiểu vì sao chất lượng đào tạo thấp. Do đó cần có
nguồn tiền để đầu tư vào cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy
Như vậy tăng nguồn kinh phí là điều hết sức cần thiết để tăng chất lượng hiện nay.
Nhưng vấn đề là nguồn ở đâu ra thì khả thi và hợp lí? Ngân sách là nguồn chính yếu
xưa nay, đòi hỏi tăng them nữa không phải đơn giản vì ngân sách quốc gia đã chi cho
giáo dục gần 17%, một tỉ lệ cao so với các nước trên thế giới. Mặt khác nếu ngân sách
có tăng chi cho giáo dục thì cần nhiều hơn cho cấp học thấp và vùng sâu vùng xa để
đảm bảo cho công bằng xã hội. Nguồn từ nghiên cứu khoa học hiện nay rất khiêm tốn,
trong các năm qua, các trường đại học nhận chưa đến 4% tổng số kinh phí cho nghiên
cứu khoa học từ ngân sách, vấn đề này lỗi không phải do các trường mà do cơ chế từ lâu
đã tách giảng dậy đại học và nghiên cứu khoa học riêng biệt, hậu quả dẫn đến không có
nghiên cứu khoa học, các giảng viên giảng bài tương tự như giảng cấp bốn ( với giáo
trình hoặc bài giảng có sẵn lên thuyết giảng cho sinh viên, mà không biết vấn đề đang
giảng này trong thực tế nó ra sao, và làm sao hướng dẫn cho sinh viên ứng dụng). Hiện


nay, hầu hết các trường đều tăng cường nghiên cứu khoa học từ các nguồn hợp tác quốc
tế, các công ty kinh doanh và các cơ quan quản lí nhà nước nhưng với mục tiêu chính là
tăng thu nhập cho giảng viên để tiếp tục công việc giảng dạy. Muốn tăng thêm từ nguồn
này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ giảng dạy có chất lượng cao mới có thể tạo ra kết
quả nghiên cứu được chấp nhận ( mới được trả tiền) và số lượng đông để vừa thực hiện
được giảng dạy vừa làm nghiên cứu. Nhưng tăng cường chất lượng và số lượng giảng
viên lại mâu thuẫn với nguồn kinh phí hiện có.
Việc tăng học phí là nằm trong lộ trình đổi mới cơ chế hoạt động và giao dần việc tự
chủ toàn diện đối với các cơ sở giáo dục ĐH công lập nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo, giảm chi ngân sách Nhà nước. Thực tế cho thấy, kinh phí đào tạo của các trường
ĐH, CĐ hiện nay đều đang dựa vào nguồn thu từ học phí. Do đó, việc tăng học phí theo
lộ trình mà Bộ GD&ĐT đang xây dựng trong Dự thảo mới là cần thiết. Bên cạnh đó,
mức học phí và chi phí học tập ĐH ở Việt Nam vẫn nằm trong nhóm thấp so với các
nước trong khu vực, việc điều chỉnh theo lộ trình cũng là phù hợp với xu thế, nhất là khi
mà cộng đồng kinh tế ASEAN đang hình thành vào cuối năm 2015.
2.2. Lợi ích của việc tăng học phí:
Tăng chất lượng giáo dục giảng dậy cho sinh viện và giảng viên góp phần nâng cao
chất lượng cho nhà trường nói riêng và nền giáo dục Việt Nam nói chung.
Bên cạnh vấn đề tăng học phí có một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là sinh viên đi
học không nghiêm túc tăng học phí để họ tiếc số tiền bỏ ra mà học tập chăm chỉ hơn.
Học phí thấp sẽ có nhiều người lao vào học đại học kể, nếu học phí cao sẽ có ít người
vào đại học và họ sẽ có hướng mới không nhất thiết phải học đại học mà học nghề hay
hướng nghiệp ngay sau khi học xong cấp ba. Vì không phải sinh viên nào sau khi học
đại học xong tốn bao nhiêu tiền của công sức cũng xin được công việc như những gì đã
bỏ ra của cha mẹ và thầy cô.
2.3. Tác hại của việc tăng học phí:
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra khiến cả chuyên gia giáo dục lẫn người học băn khoăn
là chất lượng đào tạo liệu có được cải thiện và theo kịp với lộ trình tăng học phí?
- Trên thực tế, một số gia đình không có khả năng chi trả mức học phí này. Nếu không
có chính sách hỗ trợ, hệ quả sẽ là khoảng cách ngày càng nới rộng giữa các nhóm thu
nhập khác nhau, tạo ra bất ổn xã hội.
- Học sinh viên nghèo, sinh viên nông thôn sẽ mất cơ hội học tập khi gánh nặng học phí
ngày càng trở nên quá tải. Học phí tăng đè nặng lên vai các bậc phụ huynh khiến nhiều
người không có khả năng chi trả cho việc học tập của con em mình.


- Hơn nữa, khi học phí tăng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên. Một số
bạn sinh viên sẽ phải lao động, làm thêm để phụ giúp bố mẹ tiền ăn ở, sinh hoạt nên sẽ
khó tập trung vào việc học.
2.2.1. Lý do phản đối:
Việc tăng học phí là nằm trong lộ trình đổi mới cơ chế hoạt động và giao dần việc tự chủ
toàn diện đối với các cơ sở giáo dục ĐH công lập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo,
giảm chi ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, Việt Nam còn là một nước nghèo, đời sống của người dân ở từng khu vực,
vùng miền có sự khác biệt nên chắc chắn việc tăng học phí sẽ tác động không nhỏ đến xã
hội, đặc biệt là đối tượng sinh viên nghèo, gia đình khó khăn.
 Ý kiến của chuyên gia:
Theo giáo sư Hoàng Tụy - là một giáo sư, nhà toán học tiêu biểu của Việt Nam thì việc
tăng học phí chỉ nên thực hiện sau khi đã tiến hành các biện pháp chống lãng phí, chống
tham nhũng.
Giáo sư Hoàng Tuỵ nói thậm chí chỉ cần chấn chỉnh việc sử dụng các nguồn thu hiện thời
của ngành giáo dục cũng đã đáp ứng được đáng kể việc tăng lương cho giáo viên và bổ
sung kinh phí giáo dục. Do vậy, ông nói, việc tăng thu để bù đắp các khoản thất thoát là
điều vô lý.
Cũng có ý tưởng chỉ tăng khoản thu đối với người giàu trong lúc duy trì mức đóng góp
hạn chế đối với người nghèo, hoặc thậm chí cấp học bổng cho các đối tượng nghèo, được
đưa ra.
Tuy nhiên, Giáo sư Hoàng Tuỵ nhận xét đây là một hình thức nhằm biến giáo dục thành
một lĩnh vực kinh doanh, chuyển sang cổ phần hoá các đại học công để biến những nơi
này thành các cơ sở kinh doanh và do vậy, làm mất đi tính công bằng của hệ thống trường
công.
Ông nói, trong bối cảnh số người nghèo là quá đông so với số người giàu, việc đầu tư
giáo dục lẽ ra phải hỗ trợ người nghèo thì quá trình thực hiện từ trước tới nay lại thường
là ưu đãi người giàu, phục vụ tốt những đối tượng có tiền trong lúc người nghèo lại
không được hưởng nhiều những lợi ích từ việc phát triển giáo dục.


PGS. TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, hiện là Phó Chủ tịch Hiệp hội
các trường ĐH, CĐ Việt Nam cho biết: “Theo tôi, không phải cứ tăng học phí nhiều thì
chất lượng đào tạo của các trường ĐH, CĐ sẽ tăng theo.”
Ở Mỹ, trong một mẫu nghiên cứu, người ta thấy chi phí đơn vị ở những trường có chi phí
đơn vị cao nhất lớn gấp 7,5 lần chi phí đơn vị trung bình của nhóm 25% trường ĐH có
chi phí đơn vị thấp nhất. Nhưng người ta cũng không kết luận được hiệu quả và hiệu suất
của nhóm trường ĐH nào là cao hơn. Tuy vậy, khi quan sát cơ cấu chi phí của các trường
ĐH Việt Nam trong những năm gần đây, phần chi phí gián tiếp quá lớn, phần lương giáo
viên và phụ cấp chỉ chiếm khoảng 30%, trong khi con số này ở đa số các nước là trên
50%, ở Nhật đến 70%, tỷ lệ SV/ giáo viên đến 30/1, thậm chí có trường đến 80/1 trong
khi ở các nước khác chỉ là trên dưới 15/1…
 Ý kiến của sinh viên:
Không ít sinh viên đã phải phân tâm khi nghĩ mình là “gánh nặng” của gia đình khi hàng
tháng tiêu tốn một khoản tiền lớn, nhất là sinh viên vùng nông thôn ra Hà Nội học đại
học. Chưa kể, mức chi tiêu mỗi năm một tăng, nhất là ngay trong năm học này, mức học
phí đã được điều chỉnh tăng cao so với năm học trước.
Đau đầu” vì chuyện phòng trọ, giá cả tăng, đồng thời với thông tin tăng học phí mới, một
sinh viên của ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết: “Xem mức tăng học phí hàng năm mà em
cảm thấy lo lắng quá. Nếu như năm học trước đóng khoảng 7 triệu đồng/năm thì theo
biểu mới sẽ phải đóng gần 10 triệu đồng/năm học, chưa kể các năm sau nữa, mỗi năm
một tăng. Khoản học phí đã cao như thế rồi, chưa kể tiền nhà trọ, sinh hoạt phí, học thêm
ngoại ngữ, tin học… mỗi tháng cũng tiêu tốn của gia đình em hơn 4 triệu đồng”.
Tuy nhiên, theo tính toán mới đây mức học bổng cao nhất hiện nay cũng không quá 7
triệu đồng/suất/năm. Mức thấp nhất là 3 triệu đồng/suất/năm. Sinh viên nghèo có may
mắn được học bổng cao nhất, mang tiền học bổng để đóng học phí vẫn không thể bù nổi.
Đành rằng, Bộ GD&ĐT cho rằng mức tăng học phí không quá ảnh hưởng tới người dân,
nhưng với 70% sinh viên nông thôn thì tăng vài trăm với họ cũng đã là bao nỗi lo âu.
Thực tế là, từ năm 2007 đến nay, Chính phủ đã có chính sách hỗ trợ vay vốn để trang trải
việc học tập đối với học sinh, sinh viên nghèo. Tuy nhiên, chính sách cho vay hiện vẫn
chỉ ở mức tối đa là 1,1 triệu đồng/sinh viên/tháng. Vì vậy, nhiều trường ĐH được tự chủ
tài chính đến 80% sinh viên ở các miền quê, vùng khó khăn nên nếu mức tiền phải chi
trả như trên, sinh viên nào có hoàn cảnh khó khăn rất khó có thể theo học.
 Ý kiến của người dân:


Phản ánh của nhiều người dân Hà Nội và TP HCM, tăng học phí chắc chắn gia đình gặp
khó.. Tại Hà Nội và TP HCM, phần đông đều tỏ thái độ không tán thành mức học phí
được xem là quá cao đối với người lao động. Đối với những gia đình ở nông thôn vấn đề
tăng học phí sẽ có ảnhhưởng rất lớn, thu nhập thì ít chi phí bỏ ra cho con đi học lại tăng
họ khó cóthể tiếp tục cho con đi học được.
2.2.2 Lợi ích của việc không tăng học phí:
Thứ nhất việc tăng học phí sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều sinh viên (và rộng ra là rất
nhiều gia đình). Nếu chúng ta tính đến một thực tế là, càng nghèo, thì người dân càng tha
thiết cho con vào đại học để mong thoát khỏi cuộc sống khó khăn, thì sẽ thấy không ít gia
đình đã phải bán nhà cửa, ruộng vườn, vay mượn để con cái theo đuổi việc học”. Nếu
không tăng học phí thì cơ hội được đi học đại học của sinh viên nghèo sẽ cao hơn.
Thứ hai chính vì hiện nay có những lãng phí lớn ở tầm vĩ mô mà báo chí đã nêu rất
nhiều, cơ cấu chi tiêu ở các cơ sở giáo dục đại học cũng chưa hợp lý, chi phí gián tiếp quá
lớn, v.v…, trong khi chất lượng đào tạo lại còn rất hạn chế nên vấn đề tăng học phí luôn
được hỏi kèm với vấn đề liệu chất lượng giáo dục có tăng. Nhưng chất lượng dịch vụ ở
GDĐH là một vấn đề phức tạp và có một phạm vi biến thiên rất rộng, một vấn đề khác.
Vì vậy chỉ có thể nói, tăng nguồn thu cho GDĐH mới là điều kiện cần chứ chưa là điều
kiện đủ để có “chất lượng của khu vực”. Và cũng vì vậy, việc sử dụng có hiệu quả nguồn
lực, việc nâng cao trách nhiệm xã hội mà cụ thể ở đây là trách nhiệm giải trình tình hình
chất lượng và tài chính cho xã hội, cũng phải đặt ra song song với việc tăng học phí.
2.2.3 Tác hại của việc không tăng học phí
Theo nhiều chuyên gia từng nói học phí ở Việt Nam như vậy là quá thấp. Sinh viên
không có trách nhiệm với đồng tiền của bản thân và gia đình bỏ ra. Thi lại, học lại tràn
lan... Thử hỏi số tiền học lại thi lại đó có ai nghĩ đến, rồi lại phàn nàn là học phí cao. Sinh
viên Việt Nam mình học rất nhàn, thời gian rảnh rỗi như vậy tại sao không đi kiếm thêm
việc làm thêm. Quay lại ở Nhật, hầu hết sinh viên Nhật và du học sinh (nhất là không có
học bổng) đều đi làm thêm. Họ rất năng động chứ không ỷ vào gia đình 100%. Cộng với
môi trường học tập và nghiên cứu rất tốt nên sinh viên có điều kiện phát huy hết khả năng
vốn có của bản thân, theo đúng cái gọi là "Học đi đôi với hành".
Hơn nữa, học phí tăng, Bộ và trường sẽ có điều kiện tài chính tốt hơn để đầu tư cơ sở vật
chất cho chính các bạn đang học tập và cả những bạn sắp vào trường.


Thực tế cho thấy, kinh phí đào tạo của các trường ĐH, CĐ hiện nay đều đang dựa vào
nguồn thu từ học phí. Do đó, việc tăng học phí theo lộ trình mà Bộ GD&ĐT đang xây
dựng trong Dự thảo mới là cần thiết.
Bên cạnh đó, mức học phí và chi phí học tập ĐH ở Việt Nam vẫn nằm trong nhóm thấp
so với các nước trong khu vực, việc điều chỉnh theo lộ trình cũng là phù hợp với xu thế,
nhất là khi mà cộng đồng kinh tế ASEAN đang hình thành vào cuối năm 2015.
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
3.1 Thực trạng ngành giáo dục ở Việt Nam hiện nay
3.1.1 Thực trạng
– Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất
lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với
yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách
hàng đầu.
– Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện
đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính
sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
– Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống;
giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn yếu
kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ
năng thực hành, kỹ năng sống…
– Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối.
– Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên
nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn
nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước.
– Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực
của một bộ phận còn thấp.
– Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết
với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương
châm.
– Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong
bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục


chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất
cập.
– Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế,
chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết
sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo
tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục
còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết
khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu
chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản
chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo –
quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy
đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu
trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.
3.1.2 Cơ chế chính sách của nhà nước:
Ở Việt Nam, các Chính sách giáo dục ĐH có 3 nguồn thu chính, gồm từ ngân sách nhà
nước (NSNN) và học phí, nguồn còn lại không đáng kể. Thời gian qua, cơ chế quản lý tài
chính đối với giáo dục đại học đã đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Điều này
thể hiện rõ qua Nghị quyết số 35/2009/ QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khoá XII về
chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm
2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị định số 49/2009/NĐ-CP quy định về miễn,
giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015...
Những đổi mới này, đã tạo động lực quan trọng đối với các Chính sách giáo dục ĐH công
lập trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm.
Thực hiện chủ trương, chính sách trên đã có nhiều chính sách tài chính liên quan tới giáo
dục ĐH được sửa đổi và ban hành; Kế hoạch chi tiêu trung hạn trong lĩnh vực giáo dục,
trong đó có các Chính sách giáo dục ĐH công lập cũng đã được đưa vào áp dụng thí
điểm. Theo đó, giới hạn ngân sách tổng thể cho ngành Giáo dục được xác định trong một
thời kỳ trung hạn 3 năm, tạo sự chủ động trong các kế hoạch phân bổ và sử dụng ngân
sách theo các ưu tiên đặt ra.
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các Chính sách giáo dục ĐH công
lập, các cơ chế chính sách này đã mở ra, tạo cơ hội cho các Chính sách giáo dục ĐH công
lập nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo trong quản lý tài chính và tài sản của đơn
vị, sử dụng NSNN được giao tiết kiệm, hiệu quả hơn; Phát triển nguồn thu sự nghiệp
thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ; Huy
động được nhiều nguồn vốn để đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị…


thông qua các hoạt động hợp tác liên doanh, liên kết. Cùng với việc khai thác các nguồn
thu, nhiều Chính sách giáo dục ĐH cũng đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, các quy
trình quản lý nhằm tiết
kiệm chi phí cũng như NSNN. Từ đó từng bước giảm dần sự bao cấp của nhà nước, đồng
thời tăng thu nhập cho cán bộ, công chức trong đơn vị.
Những hạn chế trong việc xây dựng chính sách học phí mới trên cơ sở xác định mức trần
học phí và hệ số áp dụng từ năm học 2010-2011 theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP (ngày
14/5/2010), phần nào khắc phục hạn chế về mức học phí không phù hợp với mặt bằng giá
cả. Chính sách học phí mới dựa trên nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước và
người học. Học phí đối với Chính sách giáo dục ĐH công lập chương trình đại trà được
căn cứ vào khung quy định của Nhà nước; Có tính đến đặc điểm, yêu cầu phát triển từng
ngành, hình thức đào tạo và hoàn cảnh học của sinh viên.
Ngay cả cơ chế cấp trực tiếp tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí cho các đối tượng được miễn,
giảm học phí cũng đã được xem xét chỉnh sửa hợp lý, để các đối tượng này đóng học phí
đầy đủ cho nhà trường. Điều này, thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước về chính sách xã
hội, khắc phục hạn chế các Chính sách giáo dục ĐH công lập phải thực hiện miễn, giảm
học phí như trước đây. Ngoài ra, đã mở rộng đối tượng được miễn học phí là những sinh
viên là người dân tộc thiểu số thuộc hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ
nghèo…
3.1.2 Kết quả chưa được như mong muốn
Bên cạnh các kết quả đã đạt được trên, việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho
các Chính sách giáo dục ĐH công lập chưa đạt được kết quả so với yêu cầu phát triển,
bởi các lý do sau:
Thứ nhất, phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN) chưa gắn với nhu cầu kinh phí cần thiết
cho việc đảm bảo chất lượng đào tạo, chưa khuyến khích việc điều chỉnh cơ cấu ngành
nghề đào tạo. Định mức phân bổ ngân sách cho các Chính sách giáo dục ĐH công lập về
cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp, bình quân và chủ yếu dựa vào các yếu tố "đầu vào"
nên chưa gắn kết giữa kết quả sử dụng nguồn lực NSNN với kết quả, hiệu quả thực hiện
nhiệm vụ. Theo đó, phần nào hạn chế tính năng động, sáng tạo của các Chính sách giáo
dục ĐH công
lập trong việc huy động thêm các nguồn lực xã hội mà còn trông chờ vào sự bao cấp của
Nhà nước.
Đối với cơ sở đào tạo: Một trong những điều kiện để thực hiện tự chủ tài chính là các đơn
vị phải hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhưng trên thực tế, do các Chính sách giáo dục
ĐH công lập được thực hiện cơ chế tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, các trường tự đăng ký


chỉ tiêu đào tạo, ngành nghề đào tạo, chỉ tiêu chất lượng đầu ra, bởi hiện nay vẫn còn
thiếu tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với NSNN được giao; Đồng thời,
thiếu tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo, các chuẩn mực chung để so sánh, đánh giá
mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng trường so với chuẩn chung. Chính vì vậy, việc
đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các trường chủ yếu do các trường tự đánh giá,
dẫn đến, việc hỗ trợ từ NSNN đối với các Chính sách giáo dục ĐH công lập vẫn thực
hiện một cách bình quân NSNN, không gắn với kết quả, chất lượng đào tạo… do đó
không tạo được động lực cạnh tranh giữa các trường đại học công lập.
Đối với Nhà nước: Thực tế hiện nay, cơ chế phân bổ nguồn lực NSNN vẫn mang tính
chất bình quân giữa các Chính sách giáo dục ĐH công lập, chưa gắn với các tiêu chí chất
lượng và kết quả đầu ra. Do vậy, chưa khuyến khích các Chính sách giáo dục ĐH nâng
cao chất lượng đào tạo thông qua việc đổi mới giáo trình, cải tiến phương pháp giảng dạy,
tăng cường cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của
giáo viên... Mặt khác, cơ chế phân bổ NSNN hiện hành vẫn thể hiện sự ưu tiên cho các cơ
sở đào tạo công lập, chưa bình đẳng với đối tượng ngoài công lập. Trên phương diện hiệu
quả xã hội, thì trường đại học công lập hay đại học ngoài công lập đều có nhiệm vụ, đào
tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội. Cơ sở nào hoạt động hiệu quả, có chất
lượng tốt thì phải được ưu tiên tiếp cận với nguồn lực tài chính công. Tuy nhiên, việc ưu
tiên cho các Chính sách giáo dục ĐH công lập đã không tạo điều kiện khuyến khích các
Chính sách giáo dục ĐH ngoài công lập phát triển.
Thứ hai, duy trì mức học phí thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên: Chế độ học phí
đối với các trường công lập chậm được đổi mới, mức thu học phí vẫn còn thấp, dưới mức
khả năng chi trả của người dân ở các khu đô thị, chưa phù hợp với mặt bằng giá cả. Điều
này, làm hạn chế quyền tự chủ của các trường trong quản lý và sử dụng các
nguồn lực tài chính. Việc duy trì mức học phí thấp, chưa bù đắp đủ chi phí đào tạo dẫn
đến một số hệ quả bất cập như:
Đối với các cơ sở đào tạo công lập: Các Chính sách giáo dục ĐH công lập không có đủ
nguồn tài chính, để bù đắp chi phí đào tạo, đảm bảo chất lượng đào tạo và tái đầu tư phát
triển, nâng cao chất lượng đào tạo, cho nên phần lớn đều không đáp ứng đủ tiêu chí về cơ
sở vật chất đảm bảo chất lượng. Bên cạnh đó, do bị khống chế về trần học phí, nên để có
thêm nguồn thu, các Chính sách giáo dục ĐH công lập buộc phải tăng số lượng và quy
mô đào tạo, mở rộng các loại hình đào tạo không chính quy, liên kết đào tạo. Việc duy trì
mức học phí thấp chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến các Chính sách giáo dục
ĐH công lập xé rào, ban hành nhiều khoản thu ngoài quy định, dẫn đến thiếu công khai,
minh bạch trong việc sử dụng nguồn thu.
Đối với người học: Việc duy trì mức học phí thấp dưới mức chi phí đào tạo và áp dụng
đồng đều cho tất cả các học sinh, dẫn đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người
học được thực hiện mang tính chất cào bằng, không có sự phân biệt giữa học sinh gia


đình nghèo với học sinh gia đình trung lưu. Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên của các gia đình
trung lưu chiếm tỷ trọng đa số trong các Chính sách giáo dục ĐH. Thực trạng này dẫn
đến nguồn NSNN đang trợ cấp ngược cho người giàu.
Đối với đội ngũ giảng viên: Việc duy trì mức học phí thấp, dẫn đến các Chính sách giáo
dục ĐH không có đủ nguồn để cải thiện thu nhập cho giảng viên từ nguồn học phí chính
quy, không thu hút và giữ được những giảng viên có trình độ tham gia giảng dạy. Để có
nguồn bổ sung thu nhập các trường phải khai thác từ các hoạt động đào tạo không chính
quy, dẫn đến thời gian đứng lớp của giảng viên đại học phần lớn bị quá tải. Hầu hết các
giảng viên đại học đều vượt định mức giờ giảng theo quy định, có những trường hợp
vượt tới 150% đến 200% định mức giờ giảng. Điều này dẫn đến, việc giảng viên đại học
không có thời gian để nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ nghiệp vụ, đổi mới nội
dung bài giảng, phương pháp sư phạm... Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh
hướng đến chất lượng đào tạo.
3.2 Giải pháp
Việc tăng học phí nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở các cơ sở giáo dục ĐH công lập
là điều tất yếu khi mà đất nước đang rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây cũng là
yêu cầu đổi mới cơ chế hoạt động đối với các trường ĐH công lập theo xu hướng tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, giảm chi ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, việc tăng học phí dù ở mức nào đi chăng nữa vẫn phải đảm bảo quyền lợi của
sinh viên nghèo vượt khó học giỏi, đạt thành tích xuất sắc trong học tập. Lộ trình tăng
học phí vẫn phải được Chính phủ và các trường ĐH đảm bảo chính sách hỗ trợ, cấp học
bổng cho sinh viên thuộc diện trên.
Để việc tăng học phí không ảnh hưởng lớn đến xã hội và người học, Bộ GD-ĐT cần
nhanh chóng tiến hành phân tầng, xếp hạng các trường ĐH. Theo đó, sẽ có trường ĐH ở
tốp đầu, tốp giữa hoặc ở mức trung bình. Mức thu học phí sẽ phụ thuộc rất lớn vào chất
lượng đào tạo thực tế ở các trường như thế nào.
Như vậy, học sinh có thể biết được chất lượng, mức học phí của từng trường để chọn lựa
nên đăng ký xét tuyển vào trường nào phù hợp với sức học, khả năng tài chính của gia
đình.
Việc phân tầng, xếp hạng các trường ĐH cũng là hướng tới cơ cấu lại ngành nghề đào tạo
phù hợp hơn cho xã hội. Theo đó, không nhất thiết tất cả học sinh tốt nghiệp THPT sẽ
học ĐH mà có thể chuyển sang học nghề phù hợp với năng lực của bản thân.
Từ nhiều năm nay, Việt Nam đang diễn ra tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Hàng năm, có
hàng chục nghìn sinh viên tốt nghiệp không xin được việc làm trong khi đó đất nước lại
thiếu lao động lành nghề, có kỹ năng tốt. Vì vậy, việc phân tầng, xếp hạng các trường ĐH


sẽ giúp cho xã hội biết được chất lượng giáo dục ở các trường đến đâu cũng như giảm tải
được tình trạng học sinh cứ thích vào ĐH hơn là học nghề hay vào bất kỳ một trường ĐH
nào cũng được. Để quá trình phân tầng, xếp hạng các trường ĐH diễn ra một cách minh
bạch, khách quan thì Bộ GD-ĐT nên để việc làm này thực hiện bởi các cơ quan ngoài
ngành Giáo dục và có sự giám sát của xã hội.

KẾT LUẬN
Học phí là một trong những vấn đề có ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng trong
giáo dục đại học hiện nay. Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục đại
học và có ảnh hưởng nhiều đến xã hội, đến mục tiêu và chiến lược phát triển giáo dục đại
học của một quốc gia. Cần phải xây dựng chính sách học phí đại học phù hợp với điều


kiện kinh tế - xã hội hiện tại là để đảm bảo thực hiện chiến lược phát triển con người đầy
đủ và toàn diện
Việc thực hiện chính sách học phí tăng trong giai đoạn hiện nay đã giảm bớt gánh
nặng đối với ngân sách Nhà nước. Việc huy động nguồn lực tài chính từ người học thông
qua tăng học phí một cách hợp lý, do vậy, là một yêu cầu cần thiết, không những giảm
bớt gánh nặng ngân sách cho nhà nước mà còn đảm bảo kinh phí để các trường thực hiện
nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
Việc tăng mức học phí đã góp phần tăng nguồn lực tài chính cho các trường đại
học. Tuy nhiên, các trường vẫn bị khống chế chỉ tiêu giáo dục đại học theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo: mức học phí bị giới hạn theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP. Vì
vậy, các trường vẫn phải thực hiện mức thu học phí trong trần quy định thấp nên không
bù đắp đủ chi phí hoạt động thường xuyên. Điều này khiến cho chất lượng giáo dục đại
học ở các trường đại học không có nhiều đột phá.
Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho người học, Nhà nước thực hiện các chính sách hỗ trợ tài
chính. Các chính sách này bao gồm miễn, giảm học phí; cấp học bổng và cho vay ưu đãi .

BẢN ĐÁNH GIÁ NHÓM 03
STT
1.
2.
3.

Họ và tên

Mã sinh viên

Đánh giá


4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×