Tải bản đầy đủ

Phân tích diễn biến lạm phát ở việt nam giai đoạn 2008 2014 và nguyên nhân của lạm phát trong giai đoạn này

MỞ ĐẦU
Hiện nay nước ta đang phải đối mặt với chỉ số lạm phát ở mức cao.
Điều này làm ảnh hưởng tiêu cực đến toàn xã hội, đặc biệt đối với nền
kinh tế đang trong giai đoạn hội nhập như ở Việt Nam.
Mặt khác, tình hình thế giới hiện nay diễn ra ngày một phức tạp. Giá
xăng dầu liên tục tăng, giảm bất thường do diễn biến chính trị của các quốc
gia. Từ đó, kéo theo giá cả của các mặt hàng khác như lương thực - thực
phẩm cũng leo thang. Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế non trẻ,
đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới. Với đông đảo lực lượng
đang trong độ tuổi lao động, nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong
phú. Dân số đông kéo theo sức tiêu dùng ngày càng mạnh, vì thế đầu tư
trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng cao. Hơn nữa Việt Nam
trong những năm gần đây phải chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh.
Thêm vào đó một số chính sách của Chính phủ liên quan đến tài chính
chưa thực sự hợp lý. Vì vậy, lạm phát là điều không thể tránh khỏi.
Nên việc kiểm soát lạm phát là vấn đề hàng đầu của Chính phủ Việt
Nam hiện nay. Khống chế được lạm phát sẽ giúp ổn định kinh tế - xã hội
và tạo tiền đề cho sự tăng trưởng bền vững.
Qua bộ môn kinh tế vĩ mô, nhóm chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và
phân tích đề tài “Phân tích diễn biến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008 2014 và nguyên nhân của lạm phát trong giai đoạn này” nhằm phục vụ cho
việc học tập, chia sẽ thông tin, đưa ra những quan điểm của nhóm đến với

mọi người.
Để hoàn thành tốt bài tiểu luận này, xin chân thành cảm ơn Giảng viên:
TS. Nguyễn Thị Thu Hiền đã hướng dẫn tận tình, chỉ ra những thiếu xót và
góp ý cho bài thảo luận.

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

1


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
1.1. Định nghĩa về lạm phát
Trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics), lạm phát là sự tăng mức
giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trịcủa một
loại tiền tệ. Nói cách khác lạm phát là sự giảm sức mua của đồng tiền đối
với tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, lạm phát sẽ làm tăng chi phí
sinh hoạt.
1.2. Các loại lạm phát
1.2.1. Lạm phát vừa phải
Tỷ lệ lạm phát ở mức dưới 10% một năm. Lạm phát này không gây ra
những tác động đáng kể đối với nền kinh tế.
1.2.2. Lạm phát phi mã
Xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 - 3 con số một năm.
Lạm phát này gây ra những biến động kinh tế nghiêm trọng.
1.2.3. Siêu lạm phát
Xảy ra khi giá cả tăng lên đột biến với tốc độ cao, vượt xa lạm phát phi
mã. Lạm phát này gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc đối với
nền kinh tế.
1.3. Đo lường lạm phát
Lạm phát thường được đo lường bởi chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số
giảm phát GDP, chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân PCEPI,...
Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index) - chỉ số phản ánh giá
của một “rổ” hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ở thời kỳ hiện hành so với giá
của “rổ” hàng hóa và dịch vụ như thế tại thời kỳ gốc.
Chỉ số giá tiêu dùng được tính như sau:
CPI t  0 

p q
p q


it

i0

100%

i0 i0

Pit : giá bán lẻ hàng hóa i tại thời kỳ t
Pi0 : giá bán lẻ hàng hóa i tại thời kỳ gốc
1.4. Nguyên nhân của lạm phát
1.4.1. Lạm phát do cầu kéo
Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

2


Là loại lạm phát xảy ra do sự tăng nhanh của tổng cầu khi tổng sản
lượng đã đạt hoặc vượt mức sản lượng tiềm năng.
Bản chất là nền kinh tế đã chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng
cung hạn chế về hàng hóa và dịch vụ trong điều kiện thị trường lao động
đã đạt cân bằng.
1.4.2. Lạm phát do chi phí đẩy
Là loại lạm phát xảy ra do giá cả của các yếu tố đầu vào tăng làm giảm
tổng cung. Nếu tiền công danh nghĩa, giá nguyên liệu, thuế... tăng lên thì
chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn
mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của
toàn thể nền kinh tế cũng tăng theo.
1.4.3. Lạm phát tiền tệ
Cung ứng lượng tiền quy ước vượt quá mức mà nền kinh tế đòi hỏi,
chính sách tiền tệ được mở rộng trong thời gian dài.
Quản lý tiền mặt kém hiệu quả: Tính tới cuối tháng 6 năm 2007 lượng
tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở Việt Nam đã tăng 21.1%
so với đầu năm. Nguyên nhân do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột biến
buộc ngân hàng nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng
và đưa thêm tiền vào lưu thông.
1.4.4. Nguyên nhân khác: Lạm phát do cầu thay đổi, lạm phát do cơ cấu,
lạm phát do xuất khẩu,...
CHƯƠNG II: DIỄN BIẾN VÀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2008 - 2014
2.1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2014 (đơn vị %)
Năm 2008:

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

3


Trên biểu đồ tốc độ tăng CPI theo tháng đạt đỉnh 2 lần trong năm ở các
tháng 2 và 5. Với mức tăng lần lượt là 2.38 và 3.56. Từ sau tháng 5, đường
biểu diễn giá trị CPI có chiều hướng giảm dần. Điều đó chứng tỏ lạm phát
được kiềm chế và đẩy lùi. Khép lại năm 2008, được đánh giá là năm có chỉ
số lạm phát cao nhất trong các năm từ 2008 đến 2014, với mức lạm phát
đạt 2 con số (19.89%). Chỉ số CPI có chiều hướng giảm dần từ sau tháng
5, chuẩn bị bước vào năm 2009.

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

4


Năm 2009:

Không có những đột biến lớn, không bất thường về quy luật, diễn biến
chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 cho cảm giác khá trầm lắng. Nhưng trong
một năm nền kinh tế trầm, thăng phức tạp, CPI vẫn có sự đảo chiều tương
ứng.
Trên biểu đồ, tốc độ tăng CPI theo tháng đạt đỉnh 4 lần trong năm qua,
ở các tháng 2, 6, 9 và 12, với các mức tăng 1,17%; 0,55%; 0,62% và
1,38%. Quy luật nén - nhả nới lỏng dần qua các vòng “xoắn ốc”, và lạm
phát gia tăng sau mỗi chu kỳ được hình thành. Trong 8 tháng đầu tiên, diễn
biến chỉ số giá là biểu hiện của kìm nén, ít nhiều theo tính quy luật và cho
cảm nhận an toàn. Tuy nhiên trong 4 tháng còn lại, đường biểu diễn xóc
nhẹ, báo hiệu những đột biến, để rồi tăng dần và dựng ngược lên trong
tháng tận cùng của năm, hiện thực hóa phần cảm nhận lơ lửng đâu đó về
nguy cơ tái lạm phát. Năm 2009 khép lại với chỉ số giá chấp nhận được
trong tất cả các mức so sánh. Nhưng sự gia tăng mạnh mẽ chỉ số CPI tháng
cuối cùng của năm là một điều đáng lo ngại chuẩn bị bước vào năm 2010.

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

5


Năm 2010:

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 vẫn cao ở đầu và cuối
năm, thấp ở giữa năm. Diễn biến CPI năm 2010 như hình chiếc cốc, tạo
bởi mức chênh lệch giữa tháng tăng đỉnh và đáy lên đến hơn 1,5%. Hai
điểm cao nhất đều được tạo thành từ mức tăng xấp xỉ 2% của tháng 2 và
tháng 12, trong khi đáy kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8. Xuống chậm trong
quý đầu năm, bằng mức tăng rất thấp giữa năm, để rồi lại dốc ngược rất
sớm trong tháng 9, kéo dài mức tăng trên 1% liên tiếp 3 tháng sau đó, diễn
biến CPI năm 2010 hình thành nên hai thời điểm thay đổi của cảm nhận về
lạm phát, sau các cú đột biến tăng, giảm. Lo ngại lạm phát một lần nữa vào
mức tăng 1,98% của tháng 12/2010.
Năm 2011:

Diễn biến lạm phát năm 2011 khá phức tạp, thể hiện ở việc tăng cao
Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

6


những tháng đầu năm và giảm dần từ quý II. Từ đầu năm đến tháng 5, chỉ
số giá tiêu dùng gia tăng ở mức cao. Tuy nhiên, lạm phát đã có xu hướng
giảm từ tháng 5. Đến hết tháng 11/2011, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng tới
17,5% so với cuối năm 2010. Trong 4 tháng cuối năm, lạm phát có dấu
hiệu giảm tốc, chỉ dưới 1% mỗi tháng. Gần cuối năm 2011 chỉ số giá có
dấu hiệu tăng lên chuẩn bị bước sang năm 2012.
Năm 2012:

Năm 2012 là năm đầu tiên trong vòng 4 năm trở lại đây có mức tỷ giá
khá ổn định. Tỷ giá hiện nay đang thấp hơn so với đầu năm và dao động
quanh mức 20.800 – 20.100 VND/USD. Đây được xem là một nét khá tích
cực đối với nền kinh tế.
Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) liên tục giảm trong 6 tháng đầu năm
2012, tính đến hết tháng 6/2012 tăng 2,52% so với tháng 12/2011 và tăng
6,9% so với cùng kỳ năm 2011.
Tuy nhiên từ sau tháng 9 chỉ số giá tiêu dùng lại có dấu hiệu tăng lên
sang đến tháng 12.
Năm2013:

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

7


Tháng 2/2013 là tháng có chỉ số CPI cao nhất với mức 1.32% và tháng
3/2013 có chỉ số CPI thấp nhất với mức 0,19% trong năm 2013. Tháng 2
có chỉ số CPI tăng cao phù hợp với diễn biến giá tiêu dùng hàng năm khi
chuẩn bị và đón Lễ Tết truyền thống thì giá các hàng hóa đều tăng cao;
Sau nhiều tháng tăng liên tiếp, chỉ số CPI tháng 3/2013 đã giảm 0,19% so
với tháng 2/2013. Sau khi CPI tăng trở lại ở tháng 4/2013 với mức tăng là
0,02% thì chỉ số CPI tiếp tục giảm nhẹ 0,06% vào tháng 5/2013. Chỉ số
CPI tháng 6/2013 tăng 0,05% so với tháng 5/2013. Từ sau tháng 6 chỉ số
CPI tiếp tục tăng đến tháng 10, sau đó giảm dần đến tháng 12.
Năm 2014:

Biểu đồ trên cho thấy, tỷ lệ lạm phát của các tháng năm 2014 so với
cùng kỳ đạt cao nhất vào tháng 1 cũng chỉ là 5,45%. Kể từ tháng 6, tỷ lệ
Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

8


tăng của CPI ngày càng giảm. CPI tháng 12 chỉ tăng 1,84% so với cùng kỳ
năm 2013, kéo tỷ lệ lạm phát bình quân tháng chỉ còn 4,09%/năm, thấp
hơn mức trung bình của năm 2013 là 2,5%.
Theo Tổng cục Thống kê (24-12-214) công bố chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) cả nước tháng 12-2014 giảm (âm) 0,24% so với tháng 11. Tính
chung cả năm 2014, lạm phát chỉ tăng 1,84%.
Đây là mức rất thấp so với mục tiêu kiềm chế lạm phát 7% và cũng là
mức thấp nhất trong 13 năm trở lại đây.
So với mặt bằng giá năm 2013 thì lạm phát năm 2014 tăng 4,09%.
Đáng lưu ý, CPI năm nay có 3 đợt giảm vào các tháng 3, 11 và 12, các
tháng còn lại cũng tăng rất thấp.
Diễn biến lạm phát giai đoạn năm 2008 - 2014:
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2014 mức lạm phát cao nhất vào năm
2008, với mức lạm phát 19.89%, tiếp theo là năm 2010 mức lạm phát giảm
xuống còn 11.75% và năm 2011 lại tiếp tục tăng lên đến 18.13%. Như đã
thấy, trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2014 có 3 năm (2008, 2010, 2011)
tình trạng lạm phát rơi vào mức 2 con số.
Bắt đầu từ năm 2012 trở đi, tình trạng lạm phát được kiềm chế và liên
tục giảm: năm 2012 mức lạm phát là 6.81%, năm 2013 là 6.04%, năm
2014 là 4.09%. Với mức lạm phát năm 2014 là 4.09% thấp nhất trong các
năm từ 2008 đến năm 2014, điều đó báo hiệu bước sang năm 2015 nền
kinh Việt Nam sẽ có những khởi sắc nhất định và kèm theo đó là những
khó khăn và thách thức mà Việt Năm cần phải vượt quá. Đặc biệt với Hiệp
định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được kỹ kết vào ngày 5
tháng 10 năm 2015.

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

9


2.2. Nguyên nhân lạm phát giai đoạn 2008 - 2014
2.2.1. Nguyên nhân lạm phát năm 2008 - 2009
Nguyên nhân tăng lạm phát trong gia đoạn này là do ngày 22 tháng 5
năm 2008 tăng giá xăng dầu từ 13.000 đồng đến 14.500 đồng 1 lít, tăng
11.5%. Cuối tháng 3 đầu tháng 4 tình trạng thiếu lương thực trên toàn thế
giới tăng nhanh có thời điểm 50% đến 100%, kể từ tháng 5 giá gạo đã có
xu hướng giảm nhưng mức tăng vẫn 15% - 20% so với trước khi sốt gạo.
Nhìn vào đồ thị diễn biến CPI ở trên có thể nhận thấy sau khi lạm phát
lên đến mức đỉnh điểm vào năm 2008 và suy giảm vào năm 2009 do tác
động của suy thoái kinh tế thế giới, thì ngay cuối năm 2009 chỉ số CPI bắt
đầu tăng trở lại, tới đầu năm 2010 xu thế này vẫn tiếp tục và ngày càng trở
nên rõ nét. Tuy nhiên, cũng phải tính đến tính quy luật của lạm phát trong
năm. Năm 2008 là một ví dụ cho thấy những diễn biến bất thường của chỉ
số CPI và rất có thể một kịch bản tương tự sẽ xảy ra nếu không có các biện
pháp kiểm soát tốt lạm phát.
2.2.2. Nguyên nhân lạm phát 2010
Sức ép lạm phát năm 2010 đến từ nhiều phía: Cầu kéo, chi phí đẩy đến
các yếu tố tiền tệ và tâm lý.
Nguyên nhân cầu kéo:
Nền kinh tế phục hồi sau ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới, nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất dần tăng trở lại. Cầu tăng giúp kích thích nền
kinh tế nhưng vấn đề đáng lo ngại hơn là nhu cầu giả tạo, làm giá cả tăng
cao không cần thiết. Cán cân thương mại Việt Nam chịu thâm hụt lớn kéo
dài trong nhiều năm (năm 2007 thâm hụt hơn 12 tỷ USD, năm 2008 mức
thâm hụt tăng lên đến 17 tỷ USD). Sang năm 2009 nhập siêu ở mức 12.2 tỷ
USD ngang với 2007 và cao hơn rất nhiều so với năm trước đo. Sự nới
lỏng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa theo chương trình kích thích
kinh tế đã đẩy mạnh nhập khẩu, góp phần làm thâm hụt cán cân thương
mại lớn quay trở lại. Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại triền miên và
chênh lệch tỷ giá tạo ra cầu giả tạo, giá cả tăng cao.
Nguyên nhân chi phí đẩy:
Thứ nhất: Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2
và ngày 29/3), xăng tăng khoảng 30% một lít, dầu tăng khoảng 38% một
lít đã tác động trực tiếp làm tăng chỉ số nhóm giao thông vận tải và gián
tiếp vào các hoạt động sản xuất khác của các lĩnh vực khác.
Thứ hai: Giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnh tăng
Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

10


khoảng 15.3% áp dụng từ 1/3.
Thứ ba: Ảnh hưởng của tỷ giá giữa VND và USD, đồng Việt Nam mất
giá mạnh trong 3 tháng đầu năm làm tăng giá nguyên, nhiên vật liêu nhập
khẩu. Đây là nguyên nhân Việt Nam bị tăng giá kép từ giá thế giới và thay
đổi tỷ giá.
Thứ tư: Hiệu ứng từ việc tăng lương tối thiểu. Năm 2010, mức tăng
lương được điều chỉnh tăng khoảng 10 - 15%, tùy từng khu vực. Việc tăng
lương tối thiểu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và ảnh
hưởng tới giá cả hàng hóa. Ngoài ra còn tạo ra hiệu ứng tăng giá ăn theo
trên thị trường.
Nguyên nhân tiền tệ: Năm 2009, chính sách tiền tệ được mở rộng, lãi suất
và tỷ lệ dự trữ bắt buộc ấn định ở mức thấp. Tốc độ tăng trưởng tín dụng
năm 2009 đã ở mức 38%, gấp 7 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Tăng trưởng
tín dụng và cung tiền cao trong năm 2009 sẽ ảnh hưởng đến lạm phát trong
năm 2010.
Yếu tố tâm lý người dân: Tâm lý người dân rất nhạy cảm với lạm phát và
thường có phản ứng đôi khi quá mức càng đẩy lạm phát lên cao. Trong khi
đó, các phản ứng của Chính phủ chống lại lạm phát thường chậm, chính
sách điều hành không nhất quán, khiến người dân càng mất niềm tin vào
hiệu quả chính sách.
2.2.3. Nguyên nhân lạm phát năm 2011 - 2012
Lạm phát do chi phí đẩy: Giá cả biến động.
Lạm phát do cầu kéo: do các chính sách điều chỉnh kiểm soát chưa hiệu quả
của nhà nước. Và do chư kiểm soát hậu quả nguyên nhân này mà nhà nước
ta hiện nay có tỉ lệ lạm phát cao nhất châu Á, nhì thế giới sau Venuezuela.
Ngoài ra còn yếu tố khách quan: thiên tai...
2.2.3.
Nguyên
nhân
lạm
phát
năm
2011-2012:
Lạm
phát
do
chi
phí
đẩy:
giá
cả
biến
động…
Lạm phát do cầu kéo: do các chính sách điều chỉnh kiểm soát chưa hiệu
quả của nhà nước. Và do chư kiểm soát hậu quả nguyên nhân này mà nhà
nước ta hiện nay có tỉ lệ lạm phát cao nhất châu Á, nhì thế giới sau
Venuezuela.
Ngoài ra còn các yếu tố khách quan: thiên tai,…
2.2.4. Nguyên nhân lạm phát năm 2013-2014:

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

11


Tái cơ cấu các tổ chức tín dụng triển khai chậm và gặp nhiều khó khăn;
nợ xấu của hệ thống ngân hàng chậm được xử lý, tỷ lệ nợ xấu vẫn còn ở
mức cao; thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút và
chưa có nhiều cải thiện; tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước
chậm…
CPI đang trong tầm kiểm soát, sức mua yếu, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy
cơ tăng giá. Bên cạnh thành tựu kiềm chế lạm phát thì hiển hiện nỗi lo về
các biểu hiệu của sản xuất vẫn còn đình đốn, đời sống người dân khó
khăn.
Tổng cầu yếu, không phải do năng suất chất lượng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh được nâng lên, làm cho chi phí sản xuất và giá thành hạ.
Thu nhập hạn chế làm người dân thắt lưng, buộc bụng, luồng vốn thu hẹp
làm doanh nghiệp cắt giảm quy mô sản xuất, chi tiêu công hạn chế... nên
đã làm giảm sức ép tăng giá.
Lãi suất giảm là tín hiệu vô cùng đáng mừng của nền kinh tế, là điều
không dễ đạt được trong thời gian trước đó. Tuy nhiên, thực tế cung và cầu
vẫn không thể gặp nhau. Doanh nghiệp không thể tiếp cận được khoản vay
do không đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng, trong khi đó, phía ngân
hàng có thể hạ lãi suất nhưng không thể hạ tiêu chuẩn cho vay. Khó khăn
thiếu vốn vẫn còn và nhiều doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nguy cơ phá
sản.
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH PHỦ ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ KIỀM
CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
3.1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng
các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, kiểm soát chặt
chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng nhưng phải đảm
bảo tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ
chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa và xuất khẩu phát triển.
Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để giảm dần lãi xuất
huy động theo hướng thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Tăng
cường kiểm soát và giám sát chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng thương
mại để bảo đảm việc tuân thủ đúng các quy định về huy động, cho vay và
chất lượng tín dụng. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm theo đúng quy
định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
3.2. Các giải pháp khác

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

12


Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu công; Tập trung sức
phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, bảo đảm cân đối
cung cầu về hàng hóa; Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu,
giảm nhập siêu; Triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng...
KẾT LUẬN
Tăng trưởng đạt mức cao so với khu vực, nhưng đang có khuynh
hướng chậm lại, đồng thời tăng trưởng vẫn lệ thuộc nhiều vào mở rộng vào
đầu tư. Nền kinh tế có nhiều cơ hội và kèm theo thách thức khi hội nhập
sâu vào nền kinh tế thế giới - đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Hiệp định
Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Ngân sách thâm hụt, đi liền với thâm hụt thương mại (thâm hụt kép).
Ngay cả khi được hỗ trợ một dòng kiều hối lớn, cán cân vãng lai vẫn thâm
hụt. Cán cân tổng thể được hỗ trợ bởi mức thặng dư cao từ cán cân vốn.
Tuy nhiên, chịu ảnh hưởng của điều kiện quốc tế, các dòng vốn đang dần
có khuynh hướng kém ổn định hơn, dẫn tới khả năng cán cân tổng thể có
những dao động lớn, chuyển từ thặng dư sang thâm hụt. Chính sách tỷ giá
neo một cách linh hoạt vào đồng USD, nhưng có khuynh hướng đánh giá
cao đồng nội tệ.
Kiềm chế lạm phát là một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong
chính sách kinh tế của các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Vì vậy
việc tìm hiểu bản chất, nguyên nhân gây ra lạm phát là điều hết sức quan
trọng và cần thiết. Từ đó ta có thể tìm ra giải pháp tối ưu nhất để khắc
phục lạm phát và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nếu chính phủ không có
những chính sách tài chính linh hoạt thì nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng
suy thoái, lạm phát ở mức cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế học Vĩ mô của nhà xuất bản Giáo dục.
2. Bài giảng slide Giảng viên: TS. Nguyễn Thị Thu Hiền.
3. Trang web Tổng cục Thống kê: http://gso.gov.vn/.
4. Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự, “Nguồn gốc lạm phát ở Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2010”.
5. Kinh tế học của David Begg.

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

13


MỞ ĐẦU........................................................................................................1
NỘI DUNG....................................................................................................1
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT..............................................1
1.1. Định nghĩa về lạm phát...............................................................1
1.2. Các loại lạm phát........................................................................1
1.2.1. Lạm phát vừa phải................................................................2
1.2.2. Lạm phát phi mã...................................................................2
1.2.3. Siêu lạm phát........................................................................2
1.3. Đo lường lạm phát......................................................................2
1.4. Nguyên nhân của lạm phát.........................................................2
1.4.1. Lạm phát do cầu
kéo............................................................2
1.4.2. Lạm phát do chi phí đẩy......................................................2
1.4.3. Lạm phát do tiền tệ..............................................................2
1.4.3. Lạm phát tiền tệ...................................................................3
1.4.4. Nguyên nhân khác.................................................................3
CHƯƠNG II: DIỄN BIẾN VÀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2008 - 2014.................................................................3
2.1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2014 (đơn vị
%)........................................................................................................3
2.2. Nguyên nhân lạm phát giai đoạn 2008 - 2014............................9
2.2.1. Nguyên nhân lạm phát năm 2008 - 2009..............................9
2.2.2. Nguyên nhân lạm phát 2010.................................................9
2.2.3. Nguyên nhân lạm phát năm 2011 - 2012..............................10
2.2.4. Nguyên nhân lạm phát năm 2013-2014..............................10
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH PHỦ ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ KIỀM
CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM.............................................................11
3.1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ.......................................11
3.2. Các giải pháp khác....................................................................11
KẾT LUẬN..................................................................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................12

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô nhóm 6 - Khoa kinh tế luật - Trường ĐH Thương mại

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×