Tải bản đầy đủ

Một số vấn đề pháp lý về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BỘ MÔN LUẬT

BÀI TẬP LỚN
MÔN PHÁP LUẬT KINH TẾ
Năm học: 2016 – 2017

BÀI TẬP SỐ: 4
Tiêu đề bài tập lớn: Một số vấn đề pháp lý về cơ
cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

1


HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BỘ MÔN LUẬT

BÀI TẬP LỚN
MÔN PHÁP LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Mạnh Phương


2


Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
…………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………….
Hà Nội, ngày … tháng…. năm 2016

3


MỤC LỤC
Lời nói đầu …………….

…………

Phần 1: Khái quát chung về công tuy Cổ Phần
1.1
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.

6
7

.Khái niệm và Đặc điểm công ty cổ phần.
Khái niệm công ty cổ phần
Đặc điểm công ty cổ phần
Nguyên tắc tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần



Phần 2: Những vấn đề pháp lý về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần

7
8
9
9

2.1. Cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo luật Doanh Nghiệp

9

2.1.1. Cổ đông và quyền của cổ đông trong công ty cổ phần

10

2.1.2. Tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần

10

2.1.2.1. Đại hội cổ đông

11

2.1.2.2. Hội Đồng quản trị

11

2.1.2.3. Giám Đốc( Tổng giám đốc)

11

2.1.2.4. Ban Kiểm Soát

12

3. Phân tích điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 về mô hình cơ cấu quản lý
của công ty cổ phần:
3.1.Về cơ cấu tổ chức quản lý Công ty cổ phần

12

3.2.Ý kiến khác nhau về sự thay đổi
3.3 Ý nghĩa của sự thay đổi

16

*Kết luận:

17
4


4. Những vướng mắc và một số kiến nghị nhằm tiếp tục hòan thiện những

17

quy định của pháp luật về tổ chức và quản lý công ty cổ phần

Lời nói đầu

5


Chủ Đề: Một số vấn đề pháp lý về cơ cấu tổ chức
quản lý công ty cổ phần
 Nội dung tình huống áp dụng cho bài tập lớn:
Công ty cổ phần có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành công
ty bởi các cổ đông không tham gia trực tiếp điều hành các hoạt động thường nhật của
công ty. Việc quản trị công ty cổ phần khác và phức tạp hơn so với việc quản trị các
loại công ty khác. Do đó vấn đề quản trị công ty cổ phần luôn luôn nhận được sự quan
tâm không chỉ của các thương nhân, người đầu tư, các nhà kinh tế, mà còn cả các luật
gia

Phần 1: Khái quát chung về công ty cổ phần

6


1.1

.Khái niệm và Đặc điểm công ty cổ phần.

1.1.1.Khái niệm công ty cổ phần
-

Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và
tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó . Công ty được phát hành cổ phần
huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các cá
nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông
được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử

-

và ứng cử vào các vị trí quản lý trong công ty.
Công ty cổ phần là một hình thức công ty hoàn thiện cả về mặt vốn và tổ chức.
Công ty cổ phần có kết cấu chặt chẽ nhằm bảo vệ cao nhất quyền lợi các cổ đông,
tạo các điều kiện tốt nhất cho việc quản lý công ty dân chủ, có hiệu quả. Các thiết
chế trong công ty cổ phần bao gồm: đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban

-

kiểm soát, giám đốc và các chức danh quản lý khác
Theo luật doanh nghiệp 2014 thì: Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn
chế sô lượng tối đa
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 điều 119 và khoản 1 điều 126 của Luật Doanh
nghiệp 2014

1.1.2. Đặc điểm công ty cổ phần:
Công ty Cổ phần có những đặc điểm – đặc trưng pháp lý như sau :
– Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng ( có thể
là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông) ;
– Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là
mệnh giá cổ phần.Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần ;

7


– Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ công ty
trong phạm vi số vốn đã góp;
– Cổ đông có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông hoặc các
nhân, tổ chức khác một cách tự do ;
– Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật ;
-Cơ cấu thành viên của CTCP:
CTCP là công ty duy nhất có khả năng huy động vốn bằng cách phát hành cổ phần và
cổ phần phổ thông được chuyển nhượng một cách tự do trên thị trường (ngoài một số
trường hợp luật hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông). Bất cứ tổ chức
cá nhân nào mua cổ phần của công ty đều trở thành cổ đông của công ty.
 Theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 và đến nay là luật doanh nghiệp 2014 vaee
cơ bản đã bỏ vốn pháp định đối với hầu hết các ngành nghề kinh doanh. Đây là
bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh đối với các doanh
nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng, đồng thời cũng là bươc đột phá
trong việc rỡ bỏ rào chắn về vốn để các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào những
ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của mình. Việc bỏ vốn pháp định
là hoàn toàn phù hợp với cải cách hành chính trong quản ly doanh nghiệp, là
bước thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm. tuy
nhiên việc bãi bỏ vốn pháp định không phải là bỏ hẳn, cũng không đồng nghĩa
với sự buông lỏng quản lý nhà nước. Vì vậy, đối với một số ngành nghề mà theo
quy định của pháp luật phải có vốn pháp định thì các công ty phải tuân theo.

1.1.3. Nguyên tắc tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần:
- Quản lý và tổ chức công ty cổ phần là một hệ thống các cơ chế mà các chủ sở hữu đặt
ra trên cơ sở các quy định vè chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận trong

8


bộ máy quản lý, nguyên tắc hoạt động và thủ tục thông qua các quyết định”. Trong đó
bao gồm hai công việc là quản lý CTCP và tổ chức CTCP.
-Nói đến quản lý công ty là hoạt động tổ chức và điều hành công ty, nói đến quản lý
công ty là nói đến mối liên hệ giữa các bộ phận trong công ty. Cụ thể hơn, đối với
CTCP, đó là mối liên hệ giữa các cổ đông khác nhau trong việc quyết định đường lối và
hoạt động của công ty. Tổ chức quản lý CTCP xác định rõ sự phân bổ các quyền và
nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia khác nhau trong công ty.
- Nói tóm lại, việc quản lý và tổ chức CTCP bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó có
thể kể đến các nội dung cơ bản sau:
+ Cơ cấu bộ máy quản lý nội bộ CTCP.
+Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy quản lý nội bộ CTCP.
+ Nguyên tắc hoạt động và thủ tục thông qua các quyết định.
Phần 2: Những vấn đề pháp lý về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần
2.1. Cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo luật Doanh Nghiệp
2.1. Cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần theo luật Doanh Nghiệp
Điều 134. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần:
1. Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai
mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:
a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở
hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường
hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có
Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện
chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công
9


ty.
2. Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị
hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty;
trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại
diện theo pháp luật của công ty. Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật,
thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người
đại diện theo pháp luật của công ty.
2.1.2. Tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần

2.1.2.1. Đại hội cổ đông
+ Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết,
là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP. CTCP có nhiều loại cổ đông khác nhau,
trong đó có cổ đông có quyền bầu cử và cổ đông không có quyền bầu cử.

10


Đại hội đồng cổ đông làm việc theo chế độ tập thể, thực hiện chức năng nhiệm vụ của
mình chủ yếu thông qua kỳ họp của Đại hội đồng cổ đông, do đó Đại hội đồng cổ đông
phải họp ít nhất mỗi năm một lần.
2.1.2.2. Hội Đồng quản trị
- Hội đồng quản trị (HĐQT): HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền
nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của
công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.
+ HĐQT có quyền và nghĩa vụ bầu , miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch HĐQT; bổ
nhiệm, miễn nhiệm chấm dứt hợp đồng với giám đốc, phó giám đốc và người quản lý
quan trọng khác.
+ có quyền giám sát, chỉ đạo giám đốc, phó giám đốc, 1 số người quản lý khác trong
điều hành kinh doanh và các công việc hàng ngày của công ty.
+ có quyền quyết định cơ cấu quản lý tổ chức cảu công ty; quyết định việc lập các chi
nhánh, văn phòng và các công ty con
+ HĐQT có bầu 1 thành viên là chủ tịch HĐQT, chủ tịch HĐQT có quyền giám sát, tổ
chức thực hiện các nghị quyết của HĐQT, là chủ tọa trong các cuộc họp HĐQT
Quyền và nghĩa vụ của HĐQT được qui định tại khoản 2 điều 149 chương 5 luật
doanh nghiệp 2014 và khoản 2 Điều 108 Luật doanh nghiệp Việt Nam
+Chủ tịch HĐQT: Chủ tịch HĐQT có thể đồng thời là Giám đốc công ty trừ trường
hợp điều lệ công ty quy định khác.
Chủ tịch hội đồng quản trị là người có quyền và nghĩa vụ sau:
1. Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị;
2. Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ cuộc
họp, triệu tập và chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị;
3. Tổ chức việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị;
4. Giám sát quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị;
5. Chủ tọa họp Đại hội đồng cổ đông;
11


6. Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công
ty.
Quyền và nghĩa vụ của chủ tịch hội đồng quản trị được quy định tai khoản 3 điều 152
chương 5 luật doanh nghiệp 2014
Như vậy, Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đứng đầu Hội đồng quản trị, được bầu
trực tiếp từ Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị
có các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định để đảm bảo cho suốt quá trình hoạt
động của Hội đồng quản trị
2.1.2.3. Giám Đốc( Tổng giám đốc)
+Giám đốc công ty: Giám đốc công ty là người điều hành hoạt động hàng ngày của
công ty và chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ
được giao.
Quyền, nghĩa vụ của giám đốc, tổng giám đốc công ty được quy định tại khoản 3 điều
157 chương 5 luật doanh nghiệp 2014
2.1.2.4. Ban Kiểm Soát
+Ban kiểm soát
CTCP có từ 11 thành viên trở lên phải có ban kiểm soát. Ban kiểm soát có số lượng từ
3 đến 5 người, trong đó có ít nhất một người có chuyên môn là kế toán. Trưởng ban
kiểm soát phải là cổ đông công ty, thành viên ban kiểm soát có thể không là cổ đông
của công ty.
Quyền và nghĩa vụ của ban kiểm soát được quy định tại điều 165 chương 5 luật doanh
nghiệp 2014
Bất cập và hạn chế trong Cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần:

12


-Thông thường Hội đồng quản trị không được và không nên can thiệp vào hoạt động
hàng ngày của Ban giám đốc, song trong nhiều trường hợp việc này vẫn xảy ra.
Hội đồng này có thể lấn quyền Ban giám đốc và cũng có thể làm thay Ban giám đốc.
Điều này thường diễn ra ở các công ty nhỏ, cpông ty gia đình, công ty hoạt động không
đúng nề nếp cần có cũng như các công ty thiếu tính minh bạch trong quản trị.
Ngược lại, có không ít trường hợp các Hội đồng Quản trị quá yếu kém nên quyền hành
hoàn toàn nằm trong tay Ban giám đốc.
Tại Việt Nam, trong các công ty nhà nước, vai trò của Hội đồng Quản trị cũng luôn lu
mờ, thậm chí chỉ là hình thức do họ thường chỉ được chỉ định để đại diện cho phần vốn
của nhà nước chứ không thực sự là các ông chủ của công ty.
-Theo các quy chế mới nhất, Ban kiểm soát có vị thế tương đối độc lập và khá cao. Về
mô hình, Ban kiểm soát có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám
đốc. Song trên thực tế, Ban kiểm soát còn rất nhiều khó khăn để đạt được vị trí chỉ
ngang bằng so với cả Ban giám đốc.
Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song chủ yếu do các thành viên Ban kiểm
soát thường là những người nắm giữ ít cổ phiếu của công ty. Họ gần như không bao
giờ là đại cổ đông của công ty.
3.Phân tích điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 về mô hình cơ cấu quản lý của
công ty cổ phần:
Trên cơ sở tiếp thu những quy định tiến bộ trong Luật Doanh nghiệp (Luật
doanh nghiệp 2005), Luật doanh nghiệp 2014 bổ sung nhiều quy định mới theo hướng
vừa thuận lợi cho doanh nghiệp đồng thời chặt chẽ trong quản lý Nhà nước.
3.1 .Về cơ cấu tổ chức quản lý Công ty cổ phần: Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm

2014 quy định:


Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong

hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:


Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc

Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ

13


chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban
kiểm soát;


Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập
và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực
hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành
công ty.


Luật doanh nghiệp 2014 tạo cơ hội cho công ty cổ phần chủ động trong việc lựa

chọn người đại diện pháp luật (Chủ tịch Hội đồng quản trị và/hoặc Giám đốc/Tổng
Giám đốc). Trường hợp có 2 người đại diện pháp luật trở lên, Chủ tịch Hội đồng quản
trị, Giám đốc/Tổng Giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật và cần
được quy định rõ trong Điều lệ.
*Trích khoản 2 điều 135 đại hội đồng cổ đông ( Luật doanh nghiệp 2014 )
Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ sau đây :
a) Thông qua định hướng phát triển của công ty;
b) Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được chào bán, quyết
định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;
c) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên;
d) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 3 lần tổng giá
trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, điều lệ công ty không
quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác;
đ) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
e) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
14


g) Quyết định mua lại 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
h) Xem xét và xử lý các vi phạm của hội đồng quản trị, ban kiểm soát hây thiệt hại cho
công ty và cổ đông công ty;
i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
k) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty;


Trích điều 149: Hội đồng quản trị và điều 151: Cơ cấu, tiêu chuẩn, và điều

kiện làm thành viên Hội đồng quản trị (Luật doanh nghiệp 2014 )
Luật doanh nghiệp tạo cho công ty cổ phần có bộ máy chính quyền them chặt
chẽ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, ý thức,
lợi ích,.. cho các thành viên

Trích khoản 2 điều 13: Người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (Luật
doanh nghiệp 2014 )
Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều đại
diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng chức danh quản lý và
quyền, nghĩa vụ của đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Đây là quy định hoàn toàn mới mẻ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng
được mọi cơ hội kinh doanh thong qua các đại diện theo pháp luật, đồng thời gỡ rối
cho các doanh nghiệp trong các trường hợp: người đại diện duy nhất không hợp tác,
không thực hiện các yêu cầu của thành viên/ cổ đông trong quá trình quản lý điều hành
nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công ty.


1.

Trích điều 141: Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông
Cuộc họp đại hội đồng cổ đông tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít

nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết, tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quyết định.
2.
Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định
tại khoản 1 điều này thì được triệu tập họp lần thứ 2 trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày dự định họp lần thứ nhất, nếu điều lệ công ty không quy định khác. Cuộc họp của

15


đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại
diên ít nhất 33% tổng số phiếu biểu quyết, tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quyết định

Tùy thuộc vào vấn đề được thông qua, tỷ lệ tổng số cổ phiếu biểu quyết của tất
cả cổ đông dự họp tán thành giảm còn 51% và 65% thay vì 65% và 75% như quy định
luật doanh nghiệp 2016

Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến
hành khi số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết cho lần triệu
tập thứ nhất và 33% tổng số phiếu biểu quyết cho phần triệu tập thứ 2.

Trích khoản 1,2 điều 144: Điều kiện để nghị quyết được thông qua
1.
Nghị quyết về nội dung sau đây được thong qua nếu được số cổ đông đại diện ít
nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành.
2.
Các nghị quyết khác được thong qua khi được số cổ đông đại diện cho ít nhất
51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành, trừ trường hợp quy
định khoản 1 và khoản 3 điều này; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quyết định

Lý do tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến
hành theo đúng kế hoạch của doanh nghiệp, tránh tình trạng phải triệu tập lần thứ 2, lần
thứ 3 do không đủ điều kiện.
3.2
Ý kiến khác nhau về sự thay đổi :

Các thủ tục trở nên gọn nhẹ, dễ dàng, có lợi hơn cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sẽ bị nhà nước kiểm tra khắt khe hơn.

Với những thay đổi mang tính bước ngoặt nêu trên, doanh nghiệp cần điều
chỉnh, bổ sung Điều lệ hoạt động và phải được ĐHĐCĐ thong qua theo đúng quy định.
3.3 Ý nghĩa của sự thay đổi:
Luật Doanh nghiệp năm 2014 về công ty cổ phần có những quy định mang tính
định hướng, gợi mở về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động có liên quan của công
ty cổ phần, trao cho công ty cổ phần tự do, tự nguyện, cam kết, thoả thuận theo các quy
định của Pháp luật: công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp
luật; cho phép công ty cổ phần có thể chọn một trong hai mô hình tổ chức, quản lý.
-

Việc bổ sung thêm mô hình quản trị doanh nghiệp đối với công ty cổ phần được

xem là sự bổ sung quy định cần thiết, phù hợp với sự phát triển ngày càng lớn hơn của

16


loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần. Quy định này mang lại sự lựa chọn về mô
hình tổ chức thích hợp nhất đối với mỗi doanh nghiệp cổ phần.
-

Công ty cổ phần được xem là mô hình doanh nghiệp có tính chất đối vốn, vì vậy

việc quản lý, kiểm soát hoạt động của loại hình công ty này cần có một cơ cấu tổ chức
chặt chẽ, chuyên nghiệp, và không nhất thiết phải có sự tham gia quản lý điều hành
trực tiếp từ những cổ đông góp vốn, hay cổ đông sáng lập. Thay vào đó những chủ thể
đó có thể thuê tổ chức, cá nhân, hoặc ủy quyền cho người khác đại diện cho quyền lợi,
nghĩa vụ của mình.
-

Mô hình cơ cấu quản lý này được xem là tăng cường chức năng giám sát hoạt

động của bộ máy quản trị cho các thành viên độc lập, thành viên độc lập là người
không có quyền lợi, nghĩa vụ liên liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
công ty, không hưởng lương, thù lao trực tiếp từ công ty, …. Việc quy định các thành
viên độc lập này có thể sẽ giúp các cổ đông nhỏ, cổ đông góp vốn khác không tham gia
trực tiếp vào hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty nắm bắt được hoạt động của
công ty một cách kịp thời, minh bạch và khách quan nhất.
KẾT LUẬN
4. Những vướng mắc và một số kiến nghị nhằm tiếp tục hòan thiện những quy
định củ pháp luật về tổ chức và quản lý công ty cổ phần
4.1 Những bất cập:
4.1.1.Về quyền của cổ đông:


Theo các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, thì quyền và lợi ích hợp pháp

của các cổ đông thiểu số và nhóm các cổ đông thiểu số nói riêng trong công ty cổ phần
chưa thực sự được bảo vệ. Cổ đông và nhóm cổ đông thiểu số gần như bị áp đảo hoàn
toàn bởi các cổ đông lớn trong công ty cổ phần, khi có mâu thuẫn về lợi ích hay tranh
chấp phát sinh thì các cổ đông thiểu số này luôn chịu những bất lợi. Còn đối với, cổ
đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng khi phát hiện những sai sót, gian lận
17


trong quá trình điều hành của các cấp quản lý công ty đều có quyền khởi kiện. Tuy
nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành chưa tạo những điều kiện thuận lợi nhất để
cổ đông thực hiện quyền khởi kiện này của mình, trình tự thủ tục khởi kiện còn nhiều
phức tạp, tốn kém rất nhiều về thời gian và tiền bạc của các cổ đông.
Các quy định pháp luật về quyền của cổ đông trong công ty cổ phần chưa được thực
hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc. Nhiều công ty cổ phần tiến hành đại hội đồng cổ
đông ở những nơi xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn, thủ tục ủy quyền phức tạo nhằm
hạn chế sự tham gia của các cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số. Hiện nay, chưa có
nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc bỏ phiếu từ xa đối
với các cổ đông. Qua đó có thể thấy, cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng
đang bị hạn chế quyền của mình. Đối với nhiều trường hợp, cổ đông thậm chí còn hoàn
toàn bất lực trong việc quản trị công ty cổ phần và phải tuân theo mọi quyết định của
các cổ đông lớn và các nhà quản lý công ty cổ phần.
4.1.2.Về hội đồng quản trị và thành viên hội đồng thành viên

Về bầu dồn phiếu với thành viên hội đồng quản trị, bầu chủ tịch hội đồng quản
trị: Theo quy định, tùy quy mô của công ty và các yêu cầu về số lượng thành viên hội
đồng quản trị cần phải có, cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ
thông trở lên có quyền đề cử thành viên hội đồng quản trị. Việc bầu chủ tịch hội đồng
quản trị cũng bị chi phối mạnh bởi nhóm cổ đông đa số tại công ty.
Về quy định cho phép hội đồng quản trị có quyền thông qua hợp đồng mua, bán, vay,
cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được
ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định
tại điều lệ công ty theo khoản 5 Điều 149 Luật Doanh nghiệp năm 2014 phải được điều
chỉnh chặt chẽ hơn. Đã có nhiều trường hợp, hội đồng quản trị, vì sự chủ quan trong
nhận định của mình, ra các quyết định đầu tư và mở rộng kinh doanh sai lầm, gây thiệt
hại cho các cổ đông thiểu số.
4.1.3.Về ban kiểm soát.
18




Thực tế ở Việt Nam cho thấy, ban kiểm soát chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ

cổ đông và nhà đầu tư. Do đó, rủi ro mà nhà đầu tư và cổ đông phải gánh chịu từ sự
"lép vế" của ban kiểm soát là rất lớn.

4.1.4.Vấn đề công khai, minh bạch hóa thông tin


Nghĩa vụ công khai minh bạch hóa thông tin cần phải được các công ty cổ phần

thực hiện một cách kịp thời, đầy đủ, nghiêm túc và có tinh thần trách nhiệm cao. Hiện
nay, các quy định của pháp luật về công khai hóa thông tin còn mang tính hình thức, sơ
sài, chưa có sự tương thích với thông lệ quốc tế. Các quy định của pháp luật cũng cho
thấy sự hạn chế rất lớn trong cơ chế kiểm tra và giám sát các thông tin công bố ra ngoài
của các công ty cổ phần. Điều này đã gây ra rất nhiều thiệt hại cho thị trường, cho các
cổ đông, cho các nhà đầu tư và cho tất cả các bên liên quan.
KẾT LUẬN
4.2 Đề xuất hướng hoàn thiện
4.2.1 Hoàn thiện cơ chế về bảo vệ cổ đông

Thực tế cho thấy, các vụ việc liên quan đến xâm phạm quyền và lợi ích của
nhà đầu tư, cổ đông ở nước ta đang diễn ra phổ biến, đáng báo động. Cần hoàn thiện
cơ chế bảo vệ những cổ đông này, nhất là cổ đông thiểu số là nhiệm vụ cấp bách của
Luật Doanh nghiệp.
Quy tắc bầu dồn phiếu quy định tại khoản 3 Điều 144 Luật Doanh nghiệp năm 2014
với mục đích là bảo đảm cổ đông thiểu số cũng có thể có cử người của mình tham
gia hội đồng quản trị nhằm làm cho quản trị điều hành được minh bạch là chưa hiệu
quả. Lúc này, cổ đông hay nhóm cổ đông thiểu số phải dồn tất cả phiếu biểu quyết
của mình mới cử được một người vào làm thành viên hội đồng quản trị nhưng ngay
lập tức có thể bị nhóm cổ đông lớn bãi miễn, kể cả khi nhóm cổ đông thiểu số phản
đối việc bãi miễn này. Cần sửa đổi theo hướng bảo vệ cổ đông thiểu số, việc bãi
miễn thành viên hội đồng quản trị phải có cơ sở, điều kiện và lý do rõ ràng chứ

19


không cho phép thành viên hội đồng quản trị có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào theo
quyết định của đại hội đồng cổ đông được để tránh tình trạng bãi miễn tùy tiện. Các
quy định của pháp luật hiện hành còn chưa bảo vệ được những cổ đông thiểu số,
những cổ đông mà luôn chịu sự chèn ép của những nhà quản lý và những cổ đông
lớn trong công ty cổ phần. Điều này sẽ gây ra cho các cổ đông thiểu số một sự thiệt
thòi về mặt lợi ích, những cổ đông này gần như tất cả phải phụ thuộc vào ban lãnh
đạo và những cổ đông lớn trong công ty cổ phần, hoàn toàn không thể quyết định
được các vấn đề trong chính công ty mà mình đồng sở hữu. Đây cũng là vấn đề cấp
thiết đặt ra trong quá trình tiếp tục hoàn thiện Luật Doanh nghiệp với những quy
định chặt chẽ hơn nữa theo định hướng nâng cao quyền của cổ đông, đảm bảo cổ
đông thiểu số không bị lấn át trong tổ chức công ty cổ phần.
4.2.2 Luật hoá quy định về thành viên độc lập hội đồng quản trị

Thành viên độc lập hội đồng quản trị hiện nay đang là một xu thế tất yếu trong
quản trị công ty cổ phần trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm
2014 mới chỉ đưa ra duy nhất một khoản trong Điều 151 về tiêu chuẩn và điều kiện làm
thành viên độc lập hội đồng quản trị. Các quy định pháp luật hiện hành chưa có quy
định rõ ràng về đối tượng này trong bộ máy của công ty cổ phần, điều này cần được
nghiên cứu bổ sung.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả của ban kiểm soát
Trước tiên, cần sửa đổi việc bầu ra ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Theo đó, cơ
chế hiệu quả nhất là các thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc không được
quyền đề cử, giới thiệu và bỏ phiếu bầu ra các thành viên ban kiểm soát. Điều này là
hợp lý, bởi ban kiểm soát không điều hành quản lý doanh nghiệp, mà đóng vai trò giám
sát hoạt động của hội đồng quản trị và ban giám đốc. Ban kiểm soát cần phải được độc
lập hoạt động, tránh tình trạng ban kiểm soát hoạt động vì lợi ích của hội đồng quản trị
và ban giám đốc. Các khoản thù lao của ban kiểm soát phải do đại hội đồng cổ đông
quyết định. Các khoản thù lao này không bị ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị cũng như
ban giám đốc. Điều này sẽ góp phần làm tăng thêm sự độc lập trong hoạt động của ban
20


kiểm soát, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.
Đối với mô hình tổ chức quản trị công ty cổ phần hiện tại, có thể thấy Luật Doanh
nghiệp năm 2014 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung so với các Luật Doanh nghiệp trước đó
về việc cho phép công ty cổ phần lựa chọn mô hình tổ chức công ty đơn hoặc đa hội
đồng. Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã chính thức có hiệu lực và đi vào thực tiễn cuộc
sống nhưng vẫn còn nhiều điểm cần phải hoàn thiện nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất,
kinh doanh của công ty cổ phần trong xu thế phát triển hiện tại và tương lai.
Ngoài ra, cần hoàn thiện pháp luật về công khai, minh bạch hóa thông tin trong quản trị
công ty cổ phần để tránh những hành vi gian lận, thao túng công ty và các hành vi gây
ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của cổ đông.
Với những tồn tại và hạn chế trong các quy định pháp luật Việt Nam về quản trị công
ty cổ phần, vấn đề cấp bách đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện Luật Doanh nghiệp cùng
các văn bản dưới luật về quản trị công ty cổ phần nhằm theo kịp và đáp ứng nhu cầu
phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×