Tải bản đầy đủ

Phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội đến năm 2020 (Luận văn thạc sĩ)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HOÀNG VIỆT CƯỜNG

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN CÔNG GIÁP

HÀ NỘI, NĂM 2016


i

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Quản lý giáo

dục đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức cơ bản, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả
hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng nghiên cứu
khoa học cần thiết để hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS. TS Nguyễn Công
Giáp người đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Huyện ủy –
HĐND – UBND huyện Gia Lâm, Ban Tổ chức Huyện ủy, phòng Nội vụ, phòng
Giáo dục- Đào tạo huyện Gia Lâm, các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện
Gia Lâm, đồng nghiệp và gia đình đã khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu, dù đã rất cố gắng, song luận văn này chắc vẫn
còn có thiếu sót, tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô, các
bạn đồng nghiệp và những người quan tâm tới đề tài.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội , ngày 01 tháng 12 năm 2016
Tác giả

Hoàng Việt Cường


ii

NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Nội dung
Giáo dục
Giáo dục và Đào tạo
Giáo viên


Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quản lý giáo dục
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ngoài giờ lên lớp
Cao đẳng Sư phạm
Đại học Sư phạm

Chữ viết tắt
GD
GD&ĐT
GV
CNH-HĐH
QLGD
THCS
THPT
NGLL
CĐSP
ĐHSP


iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................
NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.............................................
MỤC LỤC...............................................................................................................
MỞ ĐẦU...................................................................................................................
Chương 1...................................................................................................................
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ......................................
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ..........................................................................
Chương 2.................................................................................................................30
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THCS VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ..............30
GIÁO VIÊN THCS HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI...........................30
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016.........................................................................................30
Kết luận chương 2...................................................................................................46
Chương 3.................................................................................................................47
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THCS...................................47
HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020................................47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................................71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................75


1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung
của toàn Đảng, Toàn dân là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
cho đất nước”. Nhiệm vụ nặng nề đó đặt lên vai Ngành Giáo dục và Đào tạo, vì làm
được điều này Giáo dục và Đào tạo đã thực sự góp phần đắc lực cho sự nghiệp Công
nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước, xây dựng và thực hiện mục đích của Đảng và Nhà
nước là: Làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Để nâng cao chất lượng giáo dục (GD) thì trước hết chúng ta phải xây dựng đội
ngũ giáo viên (GV) có phẩm chất chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, có trình độ chuyên môn tốt, có đạo đức và lối sống lành mạnh, trong sáng và mẫu
mực.
Một mâu thuẫn thường xuyên tồn tại là sự bất cập của đội ngũ, đặc biệt là chất
lượng đội ngũ, không đáp ứng được yêu cầu đa dạng trước thực tiễn GD đầy biến
động. Nhất là khi mà thực tiễn phát triển càng nhanh chóng, thì mâu thuẫn đó càng trở
nên sâu sắc, nếu không có những giải pháp để khắc phục kịp thời. Mâu thuẫn đó hiện
nay đang trở nên gay gắt trước yêu cầu của đổi mới GD để đáp ứng nhu cầu phát triển
của xã hội. Vấn đề chuẩn hóa, đồng bộ hóa cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội
ngũ; trong đó nâng cao chất lượng đội ngũ là trọng tâm đang trở thành một vấn đề
mang tính thời sự trong GD. Tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ GV sát, đúng,
đảm bảo tính cách mạng và khoa học; đưa vào áp dụng thành công trong thực tế, là
một yêu cầu thiết thực và thực sự bức thiết trong giai đoạn hiện nay.
Phát triển đội ngũ GV là một phạm trù động phải đáp ứng những yêu cầu đầy
biến động của cả hiện tại và tương lai. Do đó, cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn,
quan điểm lịch sử và toàn diện; kết hợp hài hòa với khoa học dự báo thì mới có thể
giải quyết được vấn đề nghiên cứu. Hơn nữa, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH - HĐH) đất nước trong điều kiện hội nhập, yêu cầu nguồn nhân lực xã
hội đang bao hàm nội dung rất mới mẻ. Đội ngũ nhà giáo là một bộ phận góp phần
quyết định đào tạo nguồn nhân lực đó, vì vậy lại càng phải đổi mới mạnh mẽ. Những
vấn đề đặt ra là mối quan hệ giữa đội ngũ nhà giáo với phát triển nguồn nhân lực xã


2

hội. Các nội dung về đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hoá, hiện đại hóa, đổi mới về nội dung
và phương pháp GD... đều mang tính thời sự, cấp thiết trong lý luận cần được nghiên
cứu, phát triển lên một tầm cao mới.
1.2. Về mặt thực tiễn
Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội. Toàn huyện có 22 trường
THCS. Trong những năm qua ngành GD&ĐT Gia Lâm nói chung và giáo dục THCS
nói riêng đã đạt được một số thành tựu quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương nói riêng và của thành phố Hà Nội nói chung, đáp ứng được phần lớn
nhu cầu của nhân dân trong huyện. Đội ngũ giáo viên THCS của huyện cũng từng
bước được cải thiện về trình độ đào đạo, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo về
số lượng và chất lượng. Tuy nhiên với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân và
học sinh, đội ngũ giáo viên các trường THCS vẫn còn những bất cập cần phải khắc
phục: Tình trạng vừa thiếu vừa thừa giáo viên ở các trường THCS, chưa hợp lí về cơ
cấu giáo viên bộ môn, chất lượng giáo dục vẫn còn những hạn chế, sự phân bố giáo
viên trong huyện chưa đồng đều …
Trong giai đoạn tới, quy mô phát triển giáo dục THCS của huyện có nhiều biến
động, đội ngũ giáo viên THCS sẽ có những thay đổi. Vì vậy, việc quy hoạch, phát triển
đội ngũ giáo viên THCS của huyện là rất cần thiết, quan trọng, nhằm xây dựng đội ngũ
giáo viên THCS đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, đồng bộ về cơ cấu,
đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục THCS của huyện và nguyện vọng của quần chúng
nhân dân trong giai đoạn tới.
Trong những năm qua, đã có nhiều nhà QLGD, nhà khoa học, nghiên cứu việc
phát triển đội ngũ giáo viên THCS. Tuy nhiên, ở mỗi địa phương, do các đặc thù khác
nhau về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và con người cho nên công tác
phát triển đội ngũ giáo viên cũng khác nhau. Từ trước đến nay, huyện Gia Lâm - thành
phố Hà Nội chưa có một công trình nghiên cứu nào về việc phát triển đội ngũ giáo
viên THCS. Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ giáo viên
THCS của huyện sẽ là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch để phát triển, bố trí, sắp xếp,
bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đáp ứng nhu cầu của huyện trong
thời kì đổi mới.
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề: “Phát triển đội
ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội đến năm 2020”


3

làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn tìm ra một số biện pháp phát triển đội
ngũ giáo viên hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới của giáo dục-đào tạo trong giai
đoạn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện pháp phát
triển đội ngũ GV THCS trong giai đoạn tới nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT ở
huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiêu cứu
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên THCS
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
4. Giả thuyết khoa học
Công tác phát triển đội ngũ GV THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội đã
có những kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn một số những hạn chế như về số
lượng, về cơ cấu giáo viên và về năng lực trình độ chuyên môn ở các trường
THCS… Nếu đề xuất được các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS cụ thể
sát với thực tiễn của Huyện trong thời gian tới sẽ góp phần xây dựng đội ngũ giáo
viên THCS phát triển cân đối, toàn diện, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng
bộ về cơ cấu đáp ứng nhu cầu của phát triển giáo dục THCS của huyện đến năm
2020.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên THCS.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên THCS và thực trạng
phát triển đội ngũ giáo viên THCS của huyện Gia Lâm, lí giải nguyên nhân của thực
trạng đó.
- Xây dựng và đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS
huyện Gia Lâm đến năm 2020.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Các trường THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu


4

- 120 giáo viên THCS
- 40 CBQL các trường THCS
- 03 cán bộ UBND huyện Gia Lâm
- 05 cán bộ chuyên viên phòng Nội vụ huyện Gia Lâm
- 12 cán bộ chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Gia Lâm
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
* Tiếp cận biện chứng: Vận dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu xem xét các vấn đề phát triển đội ngũ GV nói
chung và phát triển đội ngũ GV THCS các trường THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà
Nội nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
* Tiếp cận hệ thống: Phát triển đội ngũ GV THCS có mối quan hệ với hệ thống
giáo dục khác, có mối quan hệ mang tính cấu trúc ràng buộc với các nội dung giáo dục
toàn diện trong hệ thống và có mối quan hệ chặt chẽ với các yêu cầu về giáo dục - đào
tạo nói chung và phát triển ở cấp học nói riêng.
* Tiếp cận chuẩn hóa: Việc phát triển đội ngũ GV THCS nhằm đảm bảo yêu cầu
chuẩn hóa đội ngũ giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp nằm
trong xu thế vận động chung và yêu cầu của đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đặc
biệt yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục của cấp THCS.
* Tiếp cận thực tiễn: Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, xã hội ngày
càng phát triển và hội nhập. Điều này đã đặt ra yêu cầu đối với tất cả những người làm
trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo nói chung và GV cấp THCS nói riêng do vậy công
tác quản lý cũng phải thường xuyên có sự đổi mới để phát triển được một đội ngũ GV
có thể thích ứng với môi trường thực tiễn luôn luôn thay đổi và phát triển.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu, các kết quả nghiên cứu, các quan điểm và các
khái niệm công cụ về phát triển đội ngũ GV THCS làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên
cứu.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phối hợp các phương pháp sau để phân tích, tổng hợp, đánh giá thực
trạng vấn đề nghiên cứu.


5

- Phương pháp điều tra: Xây dựng phiếu điều tra để điều tra về thực trạng phát
triển đội ngũ GV THCS các trường THCS huyện Gia Lâm.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn GV, CBQL, các lực lượng tham gia liên
quan đến công tác quản lý giáo dục thông qua một số câu hỏi để tìm hiểu về thực trạng
phát triển GV THCS các trường THCS huyện Gia Lâm.
- Phương pháp chuyên gia để khảo nghiệm các biện pháp đề xuất: đối tượng là
các nhà khoa học, các chuyên gia về giáo dục, những cán bộ quản lý giáo dục có kinh
nghiệm.
7.2.3. Các phương pháp hỗ trợ
Phương pháp toán thống kê toán học để phân tích kết quả khảo sát thực trạng và
kết quả khảo nghiệm. Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí kết quả điều tra từ các phiếu
điều tra.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận của vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên THCS.
Chương 2. Thực trạng giáo dục THCS và việc phát triển đội ngũ giáo viên THCS
huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016.
Chương 3. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Gia Lâm thành
phố Hà Nội đến năm 2020.


6

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia luôn coi trọng phát
triển nền GD của nước mình nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực. Một nền GD tốt sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế
của quốc gia. Thực tiễn đã chứng tỏ phần lớn các nước có chỉ số HDI (chỉ số phát triển
con người) cao là các nước có hệ thống GD vào loại tốt nhất thế giới như các nước
NaUy, Oxtraylia, Canada, Thuỵ Điển, Hà Lan hoặc các nước có trình độ phát triển
nhanh ở khu vực châu Á như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia… Để có một nền GD
tốt, các nước đã rất coi trọng sự phát triển đội ngũ GV. Tổng thống Mỹ đã đưa ra một
trong những chương trình hành động để phát triển GD đó là: “Để có những trường tốt
nhất, phải có những GV tốt nhất”. Điều này cho ta thấy vai trò chủ đạo, quyết định của
đội ngũ GV trong nền GD. Nhật Bản là một trong những nước có nền kinh tế phát
triển và đội ngũ tri thức đông đảo nhất thế giới. Ở Nhật trong nền GD từ thời Minh Trị
Thiên Hoàng đến nay đã thể hiện rõ đặc trưng cơ bản và thực sự nhất quán chính sách
ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của GV. Thầy giáo có vị trí rất quan trọng
trong đời sống xã hội. Nhật Bản vốn chịu ảnh hưởng của lễ giáo phương Đông, với
truyền thống tôn sư trọng đạo, đội ngũ GV được quan tâm ưu đãi về lương bổng, phụ
cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ... Nhờ vậy, Nhật Bản đã xây dựng
và phát triển đội ngũ GV đủ sức thực hiện tốt chủ trương và chính sách phát triển GD
của mình qua các thời kỳ.
Trong lịch sử phát triển GD của các nước, nhất là các nước có nền kinh tế và
khoa học kỹ thuật phát triển đều phải có một nền GD tốt. Trong đó vai trò của đội ngũ
GV mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nền GD đó. Vì vậy, đội ngũ
GV luôn được lựa chọn, đào tạo khoa học, bài bản cùng với đó là chính sách đãi ngộ
xứng đáng về vật chất và tinh thần đối với những cống hiến của họ.
Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và truyền thống văn hoá GD mà
mỗi nước có những đặc điểm khác nhau về cơ cấu hệ thống loại hình đào tạo, phân


7

chia thời gian các bậc học, trong đó có bậc THCS. Song nhìn chung hệ thống GD các
nước đều đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hoá, hội nhập với xu hướng phát
triển chung của thế giới, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, hợp
tác trong các lĩnh vực GD&ĐT và kinh tế xã hội giữa các nước, các khối nước khác
nhau.
Nhật Bản hiện có đội ngũ GV phổ thông gần 1 triệu người, trong đó GV THCS
khoảng 260 nghìn người. Sinh viên tốt nghiệp CĐ, ĐH để trở thành GV phải có bằng
chứng nhận GV do một cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp. Bằng chứng nhận
GV được cấp cho từng cấp, bậc học. Để nhận được bằng, mỗi thí sinh phải học thêm
các đơn vị học trình trong ba chương trình khác nhau là: Trình độ cơ sở; chuyên môn
sẽ giảng dạy; các chương trình nghiệp vụ, kể cả thực tập. Bằng GV được cấp cho các
thí sinh có hiệu lực trên toàn đất nước Nhật Bản, ở tất cả các loại hình trường của mọi
tổ chức (Chính phủ, phi Chính phủ...). Tuy nhiên sau 12 tháng được cấp bằng, nếu thí
sinh không được tuyển dụng thì bằng GV sẽ hết hiệu lực; muốn trở thành GV, thí sinh
phải tiếp tục thi lấy bằng mới.
Malaysia là nước rất chú trọng đến xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, đặc biệt là
lĩnh vực GD&ĐT. Bộ GD là bộ lớn nhất được đầu tư kinh phí, ngân sách lớn nhất.
Trong GD đã đề cao kiến thức khoa học công nghệ đào tạo tay nghề, đặc biệt tiếng
Anh được sử dụng là ngôn ngữ chính trong trường học. Chính sách phát triển GD thoả
mãn nhu cầu đa dạng của các thành phần dân tộc trong cộng đồng. Phát triển GD&ĐT
nguồn nhân lực lao động kĩ thuật cho phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đến nay Malaysia là nước có trình độ
phổ cập THCS với số năm đi học trung bình là 11 năm. Malaysia đặc biệt chú ý đến
các chương trình đào tạo phi chính quy với nhiều hình thức đào tạo đa dạng để huấn
luyện kĩ năng và tay nghề của lực lượng lao động đông đảo.
Mĩ định hướng chính sách phát triển GD đến thế kỉ XXI, đặc biệt quan tâm đến
yêu cầu xây dựng nền GD trên nền tảng công nghệ thông tin, xã hội tri thức để đáp
ứng và đón đầu sự phát triển của nền kinh tế Mĩ trong thế kỉ XXI. Hệ thống GD Mĩ là
hệ thống GD khá điển hình ở một nước có trình độ - khoa học, công nghệ phát triển
kinh tế cao theo hướng thị trường. Nền GD Mĩ đã góp phần đáng kể cung cấp cho xã
hội Mĩ đông đảo những tri thức, những nhà khoa học, cũng như hàng triệu công nhân
kĩ thuật lành nghề. Điều đó đã góp phần phát triển nền kinh tế Mĩ qua nhiều thời kì để


8

trở thành cường quốc kinh tế, khoa học - công nghệ trên thế giới. Nguyên nhân thành
công này nằm ở hệ thống quản lý GD. Việc quản lý hệ thống GD thuộc quyền của
chính quyền các địa phương và các bang. Khi định hướng đưa GD lên hàng đầu thế
giới, Mĩ đã lấy giải pháp GV làm then chốt. Họ chủ trương tiêu chuẩn hóa, chuyên
nghiệp hóa và nâng cao chất lượng GV trên tất cả các mặt vị thế nghề nghiệp và nhân
cách xã hội.
Trung Quốc hiện nay có hệ thống GD lớn nhất thế giới, với 240,13 triệu học
sinh, trong đó có 139,95 triệu học sinh tiểu học, 60,18 triệu học sinh trung học. Tổng
số GV là 11,4 triệu người trong đó 9 triệu là GV tiểu học và trung học. Bậc trung học
chia làm hai cấp sơ trung và cao trung, cả hai hệ đều kéo dài 3 năm. Toàn bộ trẻ em
được học chương trình phổ cập bắt buộc 9 năm bao gồm tiểu học và THCS.
Cơ cấu GD trung học của Trung Quốc được phân làm hai luồng chính là GD phổ
thông và GD nghề nghiệp bao gồm hai cấp sơ trung và cao trung. GD phổ thông tiến
hành trong các trường trung học và trường cao trung. GD nghề nghiệp tiến hành trong
các trường trung học chuyên ngành, các trường nghề trung học (sơ trung và cao trung),
trường dạy nghề chuyên nghiệp cũng như các trường dạy nghề ngắn hạn nhiều loại
khác nhau. Nhiệm vụ của GD trung học là chuẩn bị nguồn tuyển sinh có chất lượng
cao cho GD đại học và đào tạo nguồn nhân lực dự trữ cho thị trường lao động. GD
Trung Quốc đang cải cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá. Phát triển mạnh mẽ các
loại hình GD kĩ thuật nghề nghiệp, tập trung xây dựng các trường đại học trọng điểm,
đào tạo chuyên gia ở một số ngành khoa học - công nghệ mũi nhọn tiếp cận với trình
độ của thế giới. Trong chiến lược phát triển GD đến năm 2050, Trung Quốc xác định:
“Tăng cường xây dựng đội ngũ GV, nâng cao tố chất và địa vị xã hội của GV”.
Qua việc nghiên cứu xu thế phát triển GD, GD phổ thông trong đó có bậc học
THCS trong khu vực và thế giới là cơ sở góp phần phát triển và hoàn thiện cơ cấu hệ
thống GD Việt Nam trong quá trình CNH – HĐH, phù hợp với xu hướng phát triển của
khu vực và quốc tế.
1.1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước có nền văn hiến lâu đời, người Việt rất hiếu học, quý trọng
nghề dạy học cũng như người thầy. Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai
trò của người thầy giáo như: "Không thầy đố mày làm nên", không có thầy giáo thì sẽ


9

không có giáo dục. Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt và toàn diện
đến giáo dục mà chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất đó chính là đội ngũ giáo viên.
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công
nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968
rằng:" Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của
Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực
sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp
giáo dục của ta những bước phát triển mới" [20], "Cán bộ và giáo viên cũng phải tiến
bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì
dừng lại" [20].
Vấn đề nghiên cứu xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đến nay đã được
một số nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong nước và ngoài nước quan tâm. Nhiều
tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng, qui hoạch, phát triển đội ngũ giáo
viên nhằm tìm ra những giải pháp, biện pháp thiết thực để làm tốt công tác phát triển
đội ngũ giáo viên. Đã có một số công trình khoa học mang tính đề tài cấp nhà nước
hoặc dưới các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí giáo dục và một số luận văn thạc
sĩ nghiên cứu về vấn đề này như: Nguyễn Phương Hoa (2010), Con đường nâng cao
chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên; Đinh Quang Báo (2005), Giải pháp
đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; Trần Đình
Tuấn (2006), Chất lượng đội ngũ nhà giáo - nhân tố quyết định chất lượng giáo dục
đại học; Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang nâng
cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên; Phạm Trịnh (2009), Biện pháp quản lý
phát triển đội ngũ giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đắc Lắc; Hà
Thị Quyến (2010), Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học
phổ thông Cát Bà trong giai đoạn hiện nay (2010 - 2015); Tạ Thị Mai Hồng (2011),
Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học học phổ thông tỉnh Phú Thọ giao
đoạn 2011 - 2015; Phạm Thị Bích Liên (2011), Biện pháp quản lí phát triển đội ngũ
giáo viên trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp của hiệu trưởng tại thành phố
Việt Trì- Tỉnh Phú Thọ; Ngoài ra còn một số công trình được đăng tải dưới các bài báo
khoa học trên các tạp chí Khoa học Giáo dục - Viện khoa học Giáo dục, tạp chí Quản
lý Giáo dục - Học viện Quản lý Giáo dục, các bài trên trang Website…Đặc biệt là nội


10

dung bài giảng trong các chuyên đề Cao học Quản lý Giáo dục, Đại học Sư phạm Hà
Nội.
Các tác giả đã đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn công tác
phát triển đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, đơn vị mình. Tuy nhiên, các vấn đề đề
cập đến ở nhiều góc độ khác nhau trên phạm vi chủ yếu ở các vùng có nhiều thuận lợi,
đặc thù, ở bậc PTTH. Hơn nữa, ở mỗi địa phương, mỗi đơn vị có những điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau nên công tác quản lý xây dựng phát triển đội ngũ trong
giáo dục cũng khác nhau.
Huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là một trong những huyện đang có tốc độ đô
thị hóa nhanh, kinh tế - xã hội trong những năm qua có nhiều tiến bộ. Một số xã, thị trấn
của Huyện có sự tăng cơ học về dân cư nên quy mô trường lớp tăng. Vì vậy, những hạn
chế, bất cập của đội ngũ giáo viên cũng dễ bộc lộ hơn, đòi hỏi phải có những biện pháp
quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH, đáp ứng
yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào
về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS dựa trên chuẩn để đáp ứng yêu cầu chuẩn
nghề nghiệp. Đây cũng chính là lý do tôi lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ của mình.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Phát triển
Thuật ngữ “phát triển” theo triết học là: “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến
nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Phát triển là quá trình nội
tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao theo đường xoáy trôn ốc. Lý luận của phép
Biện chứng duy vật khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên
hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện
tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai
đoạn trước tạo thành quá trình phát triển, tiến lên mãi mãi.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Phát triển là sự biến đổi hợp quy luật theo
phương hướng không thể đảo ngược, được đặc trưng bởi sự chuyển biến chất lượng,
bởi sự chuyển biến sang một trình độ mới. Phát triển là đặc điểm cơ bản của vật chất,
là nguyên tắc giải thích về sự tồn tại và hoạt động của các hệ thống bất cân bằng, lưu
động, biến đổi. Khái niệm phát triển đề cập ở đây là phát triển con người; phát triển
thể chất (sinh thể, thể lực, thể hình, gọi chung là thể năng); phát triển lý trí và trí tuệ


11

(nhận thức và logic hay còn gọi là trí năng); phát triển tâm lý, tình cảm và xúc cảm,
với những chức năng đánh giá và biểu thị thái độ ứng dụng (tâm năng) chịu sự chi
phối có tính định hướng giá trị, động cơ, thế giới quan. Đáng chú ý hơn cả là phát triển
năng lực “lực lượng tinh thần và vật chất”.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, những đặc điểm cơ bản của sự phát triển toàn diện
ở con người là: hài hòa, cân đối và cân bằng; tích hợp; toàn vẹn và chỉnh thể; liên tục
không gián đoạn; ổn định; bền vững; đầy đủ và hoàn toàn. Sự phát triển toàn diện con
người trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước và hội nhập quốc tế là phát triển về khả
năng con người. Năng lực trí tuệ và kỹ năng hành dụng; trình độ nghiệp vụ chuyên
môn hóa; khả năng hợp tác và cạnh tranh; khả năng di chuyển nghề nghiệp; khả năng
hoạch định và đánh giá; sức chịu đựng stress do nhịp độ sống và môi trường công
nghiệp gây ra; học vấn chung về công nghệ; hiểu biết xã hội; hiểu biết về quản lý hành
chính; nhu cầu, sở thích tinh thần tương đối rõ; tính kỷ luật; tính độc lập của lý trí và
tình cảm ; năng động và hiệu quả trong công việc. Như vậy sự phát triển của kinh tế xã
hội, khoa học và công nghệ đòi hỏi sự phát triển con người toàn diện, cân đối ở mức
độ rất cao về trí tuệ, thể chất và tâm năng.
Nguyên nhân của sự phát triển là ở sự liên hệ tác động qua lại của các mặt đối
lập vốn có bên trong các sự vật hiện tượng. Hình thái, cách thức của sự phát triển đi từ
những biến đổi về lượng đến những biến đổi chuyển hoá về chất và ngược lại. Con
đường xu hướng của sự phát triển tiến lên từ từ, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến
cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển có thể là một quá
trình thực hiện nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật, hiện tượng.
Phát triển đội ngũ GV THCS trong GD chính là phát triển một tổ chức những
người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất đạo đức
trong sáng, lành mạnh, năng lực chuyên môn vững vàng, có ý chí kiên định trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Biết gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc
đồng thời có khả năng tiếp thu nền văn hoá tiến bộ của nhân loại, phục vụ tốt yêu cầu
của ngành GD.
Theo Điều lệ trường trung học và Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV thì
đội ngũ CBGV ở trường THCS bao gồm GV dạy 14 môn học, tổng phụ trách và cán
bộ QLGD (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đều có tham gia hoạt động giảng dạy nên
cũng được tính là GV. Tập hợp những GV trong một trường gọi là đội ngũ GV của


12

trường đó. Tập hợp GV toàn ngành của một thị xã, tỉnh, cả nước gọi là đội ngũ GV
THCS của thị xã, tỉnh, nước...
Khi nói đến đội ngũ GV THCS, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện
và hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối
quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế, quy ước nhất định. Vì vậy, mỗi tác
động vào các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa trên
toàn thể. Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì đội ngũ GV chính là nguồn
nhân lực của cấp học.
1.2.2. Quản lý
Trong thời đại ngày nay, quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã
hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực ở mọi cấp
độ và có liên quan đến tất cả mọi người. Khái niệm quản lý là một khái niệm rất chung
và rộng. Nó được dùng cho cả quá trình quản lý xã hội, quản lý giới vô sinh cũng như
quản lý giới sinh vật. Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về khái niệm
quản lý.
Theo từ điển tiếng Việt quản lý là: "Tổ chức điều khiển hoạt động của đơn vị,
cơ quan" [46].
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quá trình có định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới
của hệ thống mà người quản lý mong muốn.
Tác giả Bùi Văn Quân quan niệm: Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm
thực hiện những mục tiêu dự kiến" [29].
Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo cho rằng: "
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra" [12].
Quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ thống có tổ chức
với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v...) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế
độ hoạt động của các hệ thống đó. Quản lý là tác động hợp qui luật khách quan, làm cho
hệ thống vận động, vận hành và phát triển.


13

Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các
nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định" [17]
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơ
bản của quản lý được đề cập đến trong các khái niệm trên như sau:
- Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao
động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành
phát triển.
- Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ
lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người, trong đó chủ yếu bao gồm chủ thể
quản lý và đối tượng quản lý giữ vai trò trung tâm trong chu trình, hoạt động quản lý.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật
khách quan.
Như vậy, với cách hiểu quản lý là quản lý tổ chức của con người, hoạt động của
con người, tôi lựa chọn cách hiểu quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) theo kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan tới
khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn
định và phát triển của tổ chức.
Theo cách hiểu trên, quản lý luôn tồn tại với tư cách như là một hệ thống bao
gồm những thành tố cấu trúc cơ bản sau:
- Chủ thể quản lý: Là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và
thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến
đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tập thể.
- Đối tượng quản lý: Là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những
tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý. Đối tượng quản lý là con người
(cá nhân và tập thể) trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức
(thông qua việc khai thác, tổ chức thực hiện).
- Cơ chế quản lý: Là phương thức vận động hợp qui luật của hệ thống quản lý,
mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp qui luật trong quá trình quản lý.


14

- Mục tiêu quản lý: Là trạng thái tương lai, cái tiêu điểm tương lai hay cái kết
quả cuối cùng mà một tổ chức mong muốn đạt đến.
* Các chức năng cơ bản của quản lý
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo các chức năng cơ bản của quản lý có thể gói gọn
trong 4 chức năng sau:
- Kế hoạch: Có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích
đó.
- Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các
kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
- Chỉ đạo: Là việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành
những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đây là khâu quan trọng
tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến.
- Kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra những mặt ưu
điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý kết quả của quá trình vận
hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lý được hiện thực hóa một cách đúng hướng
và có hiệu quả.
Các chức năng quản lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen và
ảnh hưởng lẫn nhau. Khi thực hiện chức năng này thường liên quan đến các chức năng
khác và ở mức độ khác nhau. Các chức năng đều cần đến yếu tố thông tin để hoạch
định kế hoạch; cơ cấu tổ chức; chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi và thông tin
kết quả hoạt động.
1.2.3. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã hội,
vì thế nó cần và phải được quản lý. Từ đó, hình thành một dạng quản lý trong hệ
thống quản lý xã hội. Dạng quản lý này có tên gọi là "Quản lý giáo dục".
Quản lý giáo dục cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tùy theo phương tiện
nghiên cứu và cách tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục. Dưới đây là một
số quan niệm về quản lý giáo dục:


15

* Ở cấp vĩ mô
- Theo tác giả Bùi Văn Quân: "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản
lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà
trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội" [29]
- Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội
(tính trội) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự
cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động" [17].
- Theo chuyên gia giáo dục Xô Viết (cũ) M.I. Kônđacốp và N.I.Xaxerđôtôp:
"Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi
những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các
mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức
sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên" [44].
- Theo tác giả Nguyễn Thị Tuyết Oanh: "Quản lý trường học là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu
đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [27].
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ
chức hoạt động dạy học... Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các
tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được
giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành
hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước.
Như vậy, với những khái niệm phân tích trên, tôi lựa chọn quan niệm:
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui luật
của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.


16

1.2.4. Giáo viên
Theo từ điển tiếng việt định nghĩa: "Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc
học phổ thông hoặc tương đương" [46].
Điều 70 Luật giáo dục năm 2005, qui định đối với nhà giáo:
" Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở
giáo dục khác... Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,
giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên" [19].
Theo điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông số: 12/2011/TT - BGDĐT ngày
28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo : "Giáo viên trường trung học là
người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh (Bí thư, phó bí thư hoặc trợ lí thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ
trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học
hoặc THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh" [3].
1.2.5. Đội ngũ giáo viên
Theo Từ điển tiếng Việt: "Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng
chức năng hoặc nghề nghiệp tập hợp thành một lực lượng" [46].
Khái niệm đội ngũ tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đều có một điểm
chung, đó là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực
hiện một hay nhiều chức năng, có thế cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều
cùng một mục đích nhất định.
Ta có thể hiểu: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng,
cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy, thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về
quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
Có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nêu lên quan niệm về đội ngũ giáo
viên.
Các tác giả ngoài nước cho rằng: "Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong
lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào
và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục" [16].
Đối với các tác giả trong nước, vấn đề được quan niệm như sau: "Đội ngũ giáo
viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và


17

nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ
giáo viên và đội ngũ quản lý theo giáo dục" [16].
Như vậy, từ những quan điểm nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, ta
có thể hiểu đội ngũ giáo viên như sau:
Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục, được tổ
chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục
tiêu giáo dục đã đề ra cho tập thể đó, tổ chức đó. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó
với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp
luật, thể chế xã hội.
Từ những quan niệm chung về đội ngũ giáo viên, chúng ta có thể hiểu đội ngũ
giáo viên THCS là: Những người làm công tác giảng dạy - giáo dục trong nhà trường
THCS có cùng một nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện và giúp các em học sinh hình thành
và phát triển toàn diện nhân cách để các em tiếp tục bậc học cao hơn hoặc chọn đúng
hướng đi phù hợp với năng lực, sở trường và hoàn cảnh của bản thân.
1.2.6. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên
Từ điển Tiếng Việt: "Biện pháp (danh từ): Cách làm, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể như: biện pháp hành chính, biện pháp kĩ thuật, biện pháp kinh tế…" [46]. Cũng
theo từ điển Tiếng Việt "Phát triển (động từ) là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến
nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [46]. Theo quan niệm này
thì tất cả các sự vật, hiện tượng, con người và xã hội tự thân biến đổi hoặc bên ngoài
làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng hoặc chất lượng thì đó chính là sự phát triển.
Như vậy "phát triển" là một khái niệm rất rộng. Nói đến phát triển là người ta nghĩ
ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội.
Sự đi lên đó không chỉ là sự tăng lên về số lượng mà thể hiện ở việc tăng lên về
chất lượng, thay đổi về nội dung và hình thức.
Theo David C.Korten: Khi xét ở khía cạnh xã hội "Phát triển là một tiến trình
qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế
của mình để huy động và quản lí các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững…
nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ" [2].
Theo quan điểm này thì phát triển là sự tăng trưởng, hoàn thiện khả năng, tạo ra
sự phù hợp của bản thân bằng cách sử dụng mọi nguồn lực có thể được. Tiến trình đó


18

không phải của riêng ai mà của các thành viên một tổ chức, một xã hội. Khái niệm này
phù hợp với quan điểm phát triển đội ngũ giáo viên, phát triển giáo dục.
Làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi lại thuộc khái niệm "phát triển". Do vậy
khái niệm "xây dựng, phát triển" tự bản thân nó đã bao hàm nhau, không tách rời nhau,
có mối quan hệ biện chứng với nhau. Thực tiễn chứng minh rằng, trong xây dựng có
phát triển, trong phát triển có xây dựng.
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến
số lượng, thay đổi chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng
lên đều được coi là phát triển.
Phát triển đội ngũ giáo viên trong giáo dục là quá trình tổ chức, điều khiển, tác
động của nhà quản lý vào đội ngũ giáo viên, làm cho đội ngũ giáo viên tăng trưởng về
số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ giáo dục của nhà
trường, phát huy được thế mạnh của cá nhân và tập thể giáo viên.
Phát triển đội ngũ giáo viên thực chất là việc thực hiện các chức năng quản lý
như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên ổn
định có đủ về số lượng; mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu, có tính kế thừa góp
phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
* Về số lượng đội ngũ giáo viên.
Số lượng đội ngũ giáo viên trường THCS được xác định bởi số lớp học và định
mức biên chế giáo viên theo thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT- BGD&ĐT - BNV
ngày 23/8/2006, định mức biên chế đối với cấp THCS là không quá 1,9 giáo viên/lớp,
số lượng lớp trong trường được tính theo số học sinh/lớp (mỗi lớp không quá 45 học
sinh). Căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp học, chúng ta dễ dàng xác định được số
lượng giáo viên cần có cho một trường theo định mức sau:
Số giáo viên đứng lớp = số lớp x 1,9 giáo viên/lớp
Số cán bộ viên chức 1 trường = Số giáo viên đứng lớp + 4 phục vụ + Cán bộ quản
lý (Tùy theo hạng trường mà số lượng hiệu trưởng, phó hiệu trưởng có thể là 2 hoặc 3)
Từ việc xác định số giáo viên hiện có và số giáo viên sẽ thôi hợp đồng, nghỉ
ốm, thai sản, bỏ việc, chuyển đi hoặc chuyển đến để lập kế hoạch bổ sung giáo viên.
Trong thực tế, có nhiều biến động, liên quan chi phối đến việc tính toán số lượng giáo
viên như việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ, tình trạng bố trí số học sinh/lớp cũng như


19

định mức lao động của giáo viên, chương trình môn học… đều ảnh hưởng đến số
lượng đội ngũ giáo viên.
Khi xem xét số lượng giáo viên, cần chú ý đến một yếu tố đó là: Giáo viên
trong trường thường chấp nhận một định mức cao hơn qui định một chút để có tiền
vượt giờ tăng thu nhập nâng cao đời sống, một số trường lấy dư giáo viên để làm nhân
viên như văn thư, thư viện, thiết bị dạy học (Cũng có thể do lịch sử để lại)...vì vậy sẽ
làm sai lệch chuẩn tính toán lý thuyết. Do đó, hiệu trưởng cần phải luôn rà soát số
lượng giáo viên đã đủ theo yêu cầu của qui mô đào tạo hay chưa. Nếu thiếu, tìm sự bổ
sung; nếu thừa, phải tạo thêm việc làm, cân đối lao động để tránh lãng phí và nảy sinh
các vấn đề liên quan.
* Về chất lượng đội ngũ giáo viên
Chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường bao gồm nhiều yếu tố cấu thành,
tựu chung lại chất lượng giáo viên hiện nay thể hiện ở ba khía cạnh như sau:
- Chuẩn về trình độ chuyên môn: Đạt chuẩn hay vượt chuẩn, đào tạo chính qui
hay không chính qui…Bậc THCS chuẩn là hệ đào tạo cử nhân Cao đẳng sư phạm.
- Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm: Được thể hiện ở hiệu quả hoạt động
dạy học và giáo dục học sinh, khả năng thích ứng với thay đổi trong thực tiễn, khả
năng giao tiếp, xử lí tình huống sư phạm…
- Chuẩn về đạo đức tư cách người giáo viên: Được thể hiện ở đạo đức, tư tưởng
tốt, có nhân cách xã hội chủ nghĩa, có tâm hồn cao thượng, yêu nghề, mến trẻ, có lý
tưởng nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trung thực, giản dị. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về đạo đức người cán bộ đó phải là: "Cần, Kiệm, Liêm,
Chính, Chí công vô tư" [20].
* Về cơ cấu đội ngũ giáo viên
Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS được xem xét trên các yếu tố sau:
- Cơ cấu về giảng dạy theo bộ môn: Là tổng thể về tỉ lệ giáo viên của các môn
học hiện có, sự thừa thiếu giáo viên ở mỗi môn học. Tỉ lệ này phải phù hợp với định
mức qui định thì nhà trường mới có được cơ cấu chuyên môn hợp lí là điều kiện cần
và đủ để nâng cao chất lượng giáo dục.
- Cơ cấu về trình độ nghiệp vụ sư phạm: Là sự phân chia giáo viên theo tỉ lệ
của trình độ đào tạo như cao đẳng, đại học, thạc sĩ (Bậc THCS hầu như không có tiến
sĩ) và trình độ tương đương ở các chuyên ngành không phải sư phạm. Việc xác định


20

một cơ cấu trình độ hợp lí cũng là một biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên, số giáo viên chưa đạt chuẩn cần phải chuẩn hóa, nhưng để có tỉ lệ vượt chuẩn cần
xem xét thực trạng của nhà trường để vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế, vừa nâng cao chất
lượng đội ngũ. Rõ ràng, trong điều kiện hiện nay thì một đội ngũ có phẩm chất tốt và
đủ năng lực đáp ứng việc giảng dạy và giáo dục có lẽ tốt hơn một đội ngũ trên chuẩn
mà không phát huy được hết khả năng của họ trong công việc.
- Cơ cấu về tuổi đời: Việc phân tích đội ngũ giáo viên theo độ tuổi nhằm xác
định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng
của tổ chức và khoảng cách chuyên môn để từ đó có cơ sở khoa học cho việc xây dựng
kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng…
- Cơ cấu về giới tính: Xem xét cơ cấu về giới tính của đội ngũ giáo viên để có
kế hoạch phân công sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, thời gian học tập của từng cá nhân,
thời gian nghỉ dạy do sinh đẻ, con ốm, sức khỏe yếu…tất cả các yếu tố đó đều có tác
động đến chất lượng đội ngũ giáo viên và là yếu tố quan trọng liên quan đến chất
lượng giáo dục và đào tạo.
Tóm lại, biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ đơn thuần là duy trì
đội ngũ giáo viên, là những giải pháp tình thế mà phải được thực hiện trong một kế
hoạch tổng thể có tính chiến lược lâu dài, vừa mang tính ổn định vừa phát triển dựa
trên những cái đã có làm cho đội ngũ ngày càng mạnh lên về số lượng, nâng cao chất
lượng và cơ cấu hợp lí theo sự phát triển của nhà trường và của xã hội.
1.2.7. Trường trung học
Theo điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ
thông có nhiều cấp học: "Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống
giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng" [3].
Trường trung học có những nhiệm vụ:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của chương trình
giáo dục phổ thông.
2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo
viên, cán bộ, nhân viên.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học
sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.


21

5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp
với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của
Nhà nước.
7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
8. Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục
của cơ quan có thầm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Đứng
đầu nhà trường là Hiệu trưởng. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt
động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và công nhận.
Hiệu trưởng trường THCS chịu trách nhiệm quản lý nhiều nội dung như: Quản
lý hoạt động dạy học, giáo dục; quản lý nguồn nhân lực; quản lý cơ sở vật chất, tài
chính; quản lý văn hóa nhà trường…Các nội dung quản lý này có mối quan hệ tương
hỗ, gắn bó với nhau, hướng tới kết quả học tập của học sinh.
1.3. Vị trí, vai trò, chức năng và trách nhiệm của Hiệu trưởng trường THCS
trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
1.3.1. Vị trí, vai trò người Hiệu trưởng trường trung học cơ sở
Hiệu trưởng trường THCS có vị trí, vai trò rất lớn trước xã hội, vừa là người
quản lý (nhận trách nhiệm với cấp trên) cũng đồng thời là người lãnh đạo (điều hành
giáo viên, học sinh và cán bộ công nhân viên của nhà trường) thực hiện nhiệm vị
giáo dục học sinh theo chương trình, kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiệu
trưởng là người chịu trách nhiệm trước cấp trên, trước phụ huynh học sinh và cộng
đồng xã hội về việc đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo "nhân cách - sức lao
động" cho xã hội, làm tăng nguồn vốn con người, vốn tổ chức và vốn xã hội, nơi tạo
ra con người mới, tri thức mới. Để hoàn thành được công việc tinh tế phức tạp này,
người Hiệu trưởng phải cần có trình độ chính trị, có lối sống theo các chuẩn mực xã
hội, là người giỏi chuyên môn và phải có nghệ thuật - khoa học trong quản lý;
thường xuyên phát triển kĩ năng xây dựng phong cách tốt; tầm nhìn sâu sắc và có
kiến thức về tâm lý - xã hội, khi đó người Hiệu trưởng mới giám sát, đôn đốc các
công việc và liên kết được các lực lượng trong nhà trường để cùng họ hoàn thành
mục tiêu đề ra.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×