Tải bản đầy đủ

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG và TIỀM NĂNG về PHONG điện

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ

BÁO CÁO KINH TẾ QUẢN LÝ KHOÁNG SẢN NĂNG LƯỢNG

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG VỀ PHONG ĐIỆN
GVHD: TS. Đặng Minh Phương
Nhóm 3 – Lớp KSNL thứ 5, tiết 10-12

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 11/2015


MỤC LỤC
Mở đầu ......................................................................................................................... 4

I.
1.

Đặt vấn đề ................................................................................................................ 4


2.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 6

II.

2.1.

Mục tiêu chung ................................................................................................ 6

2.2.

Mục tiêu cụ thể ................................................................................................ 6

Nội dung ...................................................................................................................... 6
1.

Tổng quan về điện gió ............................................................................................. 6

2.

Tình hình sản xuất và sử dụng điện gió trên thế giới .............................................. 7

3.

Tình hình sản xuất và phát triển điện gió tại Việt Nam ........................................ 12

III.

3.1.

Tổng quan về ngành điện .............................................................................. 12

3.2.

Tình hình phát triển điện gió ......................................................................... 15

3.2.1.


Tiềm năng điện gió tại Việt Nam ........................................................... 15

3.2.2.

Các dự án điện gió hiện nay ................................................................... 18

3.2.3.

Các chính sách hỗ trợ xây dựng và phát triển các dự án điện gió .......... 20

3.2.4.

Các yếu tố tác động đến giá điện gió...................................................... 21

3.2.5.

Trở ngại đầu tư trong việc phát triển các dự án điện gió ....................... 23

3.2.6.

Tác động đến môi trường của điện gió ................................................... 25

Kết luận và kiến nghị ............................................................................................. 29

1.

Kết luận.................................................................................................................. 29

2.

Kiến nghị ............................................................................................................... 29

3


I. Mở đầu
1. Đặt vấn đề
Thế kỷ 20 đã trải qua với nhiều tiến bộ vượt bậc của loài người. Một thế kỷ mà
chúng ta đã làm nên những điều kỳ diệu, phát minh ra vô vàn những công cụ máy móc
giúp nâng cao năng suất lao động, giúp đáp ứng những nhu cầu không ngừng của con
người. Nhưng bên cạnh sự phát triển và tiến bộ đó thì chúng ta cũng phải đối mặt với
những mặt trái của sự phát triển. Trong thế kỷ 21, loài người đã phải đối diện với hàng
loạt các thách thức mang tính toàn cầu như các vấn đề về năng lượng, môi trường sống bị
hủy hoại, bùng nổ dân số, chiến tranh, y tế,... Trong đó, an ninh năng lượng vẫn là vấn
đề được xem là quan trọng và cấp thiết nhất. Năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt,
tranh chấp lãnh thổ để duy trì nguồn cung cấp năng lượng là những mối họa tiềm ẩn nguy
cơ xung đột toàn cầu. Nguồn năng lượng hóa thạch không đủ cung cấp cho cỗ máy kinh
tế thế giới đang ngày càng phình to đã dẫn đến những cuộc khủng hoảng và suy thoái
kinh tế. Bất ổn chính trị rất có thể sẽ xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới. Bên cạnh đó việc
sử dụng quá nhiều năng lượng hóa thạch khiến một loạt các vấn đề về môi trường nảy
sinh. Trái đất nóng lên, đất canh tác bị thu hẹp, môi trường bị thay đổi, dịch bệnh xuất
hiện khó lường và khó kiểm soát hơn, thiên tai ngày càng diễn biến thất thường hơn, mùa
màng thất thu ảnh hưởng đến vấn đề lương thực… Tất cả những điều đó là mối nguy hại
tiềm ẩn cho một thế giới hỗn độn, tranh chấp và mất kiểm soát.
Vì vậy, để duy trì một thế giới ổn định, không cách nào khác là chúng ta phải tìm ra
những nguồn năng lượng tái sinh thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày
càng cạn kiệt. Hàng loạt các năng lượng mới đầy hứa hẹn như: năng lượng mặt trời, năng
lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng sinh khối và những nguồn năng lượng khác
đã mang đến nhiều niềm hy vọng và khởi sắc cho việc giải quyết các vấn đề về an ninh
và thiếu hụt năng lượng hiện nay. Bằng những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật và xu
hướng tất yếu của thế giới, các năng lượng tái sinh đang được nghiên cứu và sử dụng
ngày càng nhiều. Trong đó, năng lượng gió là một trong những nguồn năng lượng tái sinh
quan trọng nhất đang và sẽ đóng góp ngày càng lớn vào sản lượng điện năng của thế giới.
Theo kết quả thống kê, trên thế giới có khoảng 80 nước sử dụng điện gió cho mục
đích thương mại với 24 quốc gia có công suất hơn 1.000 MW. Đến cuối năm 2014 đã có
6 nước có công suất lắp đặt điện gió hơn 10.000 MW. Dẫn đầu là Trung Quốc (114.604
MW), tiếp theo lần lượt là Mỹ (65.879 MW), Đức (39.165 MW), Tây Ban Nha (22.987
MW), Ấn Độ (22.465 MW) và Anh ( 12.440 MW). Năm 2014 đã trở thành năm kỷ lục
4


cho việc lắp đặt và xây dựng các công trình điện gió của thế giới. Hơn 51 GW công suất
điện gió mới đã được đưa vào mạng lưới điện, tăng mạnh so với năm 2013, khi cài đặt
toàn cầu chỉ hơn 35,6 GW. Kỷ lục trước đây được thành lập vào năm 2012 khi hơn 45
GW công suất mới đã được cài đặt trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, việc phát triển năng lượng tái sinh, đặc biệt là năng lượng gió được
đánh giá là có tiềm năng rất lớn. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là
nước có tiềm năng gió lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Trong khi nước ta có tới
8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ “tốt” đến “rất tốt” để xây dựng các
trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái Lan
cũng chỉ là 0,2%. Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho
phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông
thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Trong khi đó tại Campuchia, Lào và Thái Lan
con số này lần lượt là 6%, 13% và 9%. Hơn 39% tổng diện tích VN được ước tính có tốc
độ gió trung bình hằng năm lớn hơn 6m/giây ở độ cao 65m, tương đương với khoảng
17.400 hecta đất và mặt biển rất thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng
lượng gió. Trên thực tế, ở nước ta đã có 3 công trình điện gió đóng góp vào mạng lưới
điện toàn quốc như dự án điện gió nối lưới quốc gia tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình
Thuận; dự án nhà máy điện gió đảo Phú Quý; dự án điện gió lắp đặt trên biển tại tỉnh Bạc
Liêu. Cùng với xu thế phát triển loại năng lượng xanh này trên Thế giới, Chính phủ nước
ta cũng đã ban hành nhiều cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích nhằm phát triển điện
gió tại Việt Nam. Tuy nhiên sau nhiều năm triển khai, điện gió ở nước ta vẫn chưa tạo
được bước đột phá do còn nhiều rào cản như khả năng tiếp cận nguồn tài chính dài hạn,
khả năng cung ứng thiết bị, dịch vụ phụ trợ cho các dự án đầu tư phát triển điện gió còn
hạn chế,….
Bài viết này sẽ đi vào phân tích tình hình phát triển và tiềm năng điện gió trên Thế
giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Bên cạnh đó đi sâu vào phân tích các khía cạnh
kinh tế và chính sách đang áp dụng tại Việt Nam cho các dự án phong điện. Qua đó, bài
viết cũng sẽ đề xuất một số phương án thích hợp với mong muốn góp phần thúc đẩy sự
phát triển loại năng lượng tái tạo này ở nước ta.

5


2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích tình hình phát triển và tiềm năng điện gió trên Thế giới nói chung và tại
Việt Nam nói riêng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích tình hình sản xuất điện gió trên Thế giới.
- Phân tích sự phát triển và tiềm năng điện gió tại Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số phương án thích hợp cho việc phát triển điện gió trong tương lai ở Việt
Nam.
II. Nội dung
1. Tổng quan về điện gió
Gió được hình thành nhờ sự đối lưu không khí. Do trái đất có khối lượng không khí
khá lớn lại là hình cầu nên Bức xạ Mặt Trời chiếu xuống bề mặt Trái Đất không đồng đều
làm cho bầu khí quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Một nửa bề mặt của
Trái Đất, mặt ban đêm, bị che khuất không nhận được bức xạ của Mặt Trời và thêm vào
đó là bức xạ Mặt Trời ở các vùng gần xích đạo nhiều hơn ở các cực, do đó có sự khác
nhau về nhiệt độ và áp suất giữa xích đạo và 2 cực cũng như giữa mặt ban ngày và mặt
ban đêm của Trái Đất. Sự chênh lệch về áp suất này đã dẫn đến việc di chuyển của các
dòng không khí từ nơi áp cao đến nơi áp thấp tạo thành gió. Trái Đất xoay tròn cũng góp
phần vào việc làm xoáy không khí và vì trục quay của Trái Đất nghiêng đi (so với mặt
phẳng do quỹ đạo Trái Đất tạo thành khi quay quanh Mặt Trời) nên cũng tạo thành các
dòng không khí theo mùa. Ngoài ra, do bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng Coriolis được tạo
thành từ sự quay quanh trục của Trái Đất nên không khí đi từ vùng áp cao đến vùng áp
thấp không chuyển động thẳng mà tạo thành các cơn gió xoáy có chiều xoáy khác nhau
giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Nếu nhìn từ vũ trụ thì trên Bắc bán cầu không khí di
chuyển vào một vùng áp thấp ngược với chiều kim đồng hồ và ra khỏi một vùng áp cao
theo chiều kim đồng hồ. Trên Nam bán cầu thì chiều hướng ngược lại.

6


Ngoài các yếu tố có tính toàn cầu trên gió cũng bị ảnh hưởng bởi địa hình tại từng
địa phương. Do nước và đất có nhiệt dung khác nhau nên ban ngày đất nóng lên nhanh
hơn nước, tạo nên khác biệt về áp suất và vì thế có gió thổi từ biển hay hồ vào đất liền.
Vào ban đêm đất liền nguội đi nhanh hơn nước và hiệu ứng này xảy ra theo chiều ngược
lại.
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển Trái
Đất. Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. Sử dụng năng
lượng gió là một trong các cách lấy năng lượng xa xưa nhất từ môi trường tự nhiên và đã
được biết đến từ thời kỳ Cổ đại. Từ hàng trăm năm nay, con người đã dùng năng lượng
gió để di chuyển thuyền buồm hay khinh khí cầu, ngoài ra năng lượng gió còn được sử
dụng để tạo công cơ học nhờ vào các cối xay gió.
Ý tưởng dùng năng lượng gió để sản xuất điện hình thành ngay sau các phát minh ra
điện và máy phát điện. Năng lượng gió được mô tả như một quá trình, nó được sử dụng
để phát ra năng lượng cơ hoặc điện. Tuabin gió sẽ chuyển đổi từ động lực của gió thành
năng lượng cơ. Năng lượng cơ này có thể sử dụng cho những công việc cụ thể như bơm
nước, dùng cho các máy nghiền lương thực hoặc cho một máy phát có thể chuyển đổi từ
năng lượng cơ thành năng lượng điện. Con người đã sử dụng gió để làm quay những cánh
quạt khổng lồ, khởi động và làm xoay tuabin tạo ra điện năng. Các tuabin gió hoạt động
theo một nguyên lý rất đơn giản. Năng lượng của gió làm cho 2 hoặc 3 cánh quạt quay
quanh 1 rotor. Rotor này được nối với trục chính và trục chính sẽ truyền động làm quay
trục quay máy phát để tạo ra điện.
2. Tình hình sản xuất và sử dụng điện gió trên thế giới
Từ năm 1980 đến nay, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn cầu đã tăng 2,8 lần,
đạt mức 5,5 TW.

7


Hình 2.1. Công Suất Lắp Đặt Nguồn Điện theo Nguồn Nhiên Liệu (Đơn Vị: TW)

5

4

3

2

1

0
1981 1983 1985 1987 1989 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013
Nhiên liệu hóa thạch
Năng lượng mặt trời

Thủy điện
Năng lượng sinh khối

Năng lượng Hạt nhân
Năng lượng địa nhiệt

Điện gió

(Nguồn: IEA, FPTS Tổng Hợp)
Giai đoạn 1980 – 2004, gần như 100% điện năng trên Thế giới được sản xuất bằng
3 loại năng lượng chính là nhiên liệu hóa thạch (chiếm 65 – 70% tổng công suất nguồn
điện), thủy điện (22 – 25%) và năng lượng hạt nhân (7 – 10%).
Giai đoạn từ 2005 đến nay, cơ cấu nguồn điện bắt đầu có sự thay đổi rõ nét khi con
người dần dần áp dụng những loại công nghệ mới, cho phép khai thác các nguồn năng
lượng tái tạo cho phát điện một cách rộng rãi và hiệu quả hơn. Các loại hình điện gió,
điện mặt trời, điện sinh khối, điện sử dụng năng lượng địa nhiệt bắt đầu có những đóng
8


góp đầu tiên trong cơ cấu nguồn điện với chỉ 2,8% tổng công suất năm 2005. Đến năm
2013, cơ cấu của nhóm này đã tăng lên 8,5% với công suất đạt 465 GW.
Nhận thức được tầm quan trọng của năng lượng tái sinh nói chung và năng lượng
gió nói riêng, Chính phủ của nhiều quốc gia trên thế giới đã dốc tiền của, nhân lực vào
việc nghiên cứu và đưa vào sử dụng thực tiễn năng lượng gió, giúp giảm sự căng thẳng
năng lượng ở các nước.
Hình 2.2. Công Suất Lắp Đặt Điện Gió Hàng Năm trên Thế Giới (Đơn Vị: MW)

Nguồn: GWEC
Vào cuối năm 2013, những kỳ vọng cho sự phát triển thị trường điện gió vẫn không
chắc chắn, sự tiếp tục trong suy thoái kinh tế ở châu Âu và bất ổn chính trị ở Mỹ đã làm
cho việc thực hiện các dự án về điện gió cho năm 2014 gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên,
sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thị trường điện gió Trung Quốc đã góp phần đưa năm
2014 trở thành năm kỷ lục cho việc lắp đặt và xây dựng các công trình điện gió của thế
giới. Hơn 51 GW công suất điện gió mới đã được đưa vào mạng lưới điện, tăng mạnh so
với năm 2013, khi cài đặt toàn cầu chỉ hơn 35,6 GW. Kỷ lục trước đây được thành lập
vào năm 2012 khi hơn 45 GW công suất mới đã được cài đặt trên toàn cầu.

9


Hình 2.3. Top 10 Các Nước Lắp Đặt Mới Điện Gió Năm 2014

Nguồn: GWEC
Hiện nay, hơn 91% (8.045 MW) của tất cả các dự án điện gió ngoài khơi có thể
được tìm thấy ở vùng biển châu Âu, chủ yếu ở Biển Bắc (5.094,2 MW: 63,3%), Đại Tây
Dương (1.808,6 MW: 22,5%) và ở biển Baltic (1.142,5 MW: 14,2%). Tuy nhiên, Chính
phủ các nước khác cũng đã đặt mục tiêu cho sự phát triển điện gió ngoài khơi, điển hình
là sự cất cánh ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Mỹ. Các tập đoàn điện
10


gió trên Thế giới đã phát triển một lộ trình phong điện ngoài khơi Ấn Độ và các thị
trường khác như Brazil, qua đó nêu lên sự quan tâm đến các kế hoạch phát triển điện gió
ngoài khơi ra nước ngoài trong tương lai.
Bảng 2.1. Công Suất và Tốc Độ Gia Tăng của Lĩnh Vực Điện Gió trên Thế Giới Giai
Đoạn 2006 – 2010
Vị trí
2010

Quốc
gia

Tổng
công
suất
2010
(MW)

Công
suất
lắp đặt
2010
(MW)

Tốc độ
gia
tăng
2010
(%)

Vị trí
2009

Tổng
công
suất
2009
(MW)

Tổng
công
suất
2008
(MW)

Tổng
công
suất
2007
(MW)

Tổng
công
suất
2006
(MW)

1

Trung
Quốc

44.733

18.928

73.3

2

25.810

12.210

5.912

2.599

2

Mỹ

40.180

5.600

15.9

1

35.159

25.237

16.823

11.575

3

Đức

27.215

1.551

6.0

3

25.777

23.897 22.247,4

20.622

4

Tây
Ban
Nha

20.676

1.527,2

8.0

4

19.149

16.689 15.145,1

11.630

5

Ấn Độ

13.065,8

1.258,8

10.7

5

11.807

9.587

7.850

6,270

6

Ý

5.797

950

19.6

6

4.850

3.736

2.726,1

2.123,4

7

Pháp

5.660

1.086

23.7

7

4.574

3.404

2.455

1.567

8

Anh

5.203,8

1.111,8

27.2

8

4.092

3.195

2.389

1.962,9

9

Canada

4.008

690

20,8

11

3.319

2.369

1.846

1.460

10

Đan
Mạch

3.734

309,0

8,9

10

3.465

3.163

3.125

3.136

33,0

0

0

42

33,0

25,2

25,2

25,2

…..
48

Phi-líppin

11


50

Việt
Nam

70

In-đônê-xi-a

31,0

22,3

254,3

57

8,8

1,3

0

0

1,4

0

0

70

1,4

1,2

1.0

0.8

Nguồn: World Wind Energy Association (WWEA)
Theo kết quả thống kê của Hội Đồng Năng Lượng Gió Toàn Cầu (GEW), trên thế
giới có khoảng 80 nước sử dụng điện gió cho mục đích thương mại với 24 quốc gia có
công suất hơn 1.000 MW. Đến cuối năm 2014 đã có 6 nước có công suất lắp đặt điện gió
hơn 10.000 MW. Dẫn đầu là Trung Quốc (114.604 MW), tiếp theo lần lượt là Mỹ
(65.879 MW), Đức (39.165 MW), Tây Ban Nha (22.987 MW), Ấn Độ (22.465 MW) và
Anh ( 12.440 MW).
3. Tình hình sản xuất và phát triển điện gió tại Việt Nam
3.1. Tổng quan về ngành điện
Trong vòng 10 năm gần đây (2001-2010), Việt Nam đã đạt được những bước tăng
trưởng kinh tế nhanh chóng, với tốc độ trung bình đạt 7,2%/năm. Cùng với đó là nhu
cầu sử dụng điện năng trong các ngành kinh tế và sinh hoạt liên tục gia tăng với tốc độ
trung bình khoảng 14,5%. Nhu cầu điện tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô và có sự
chuyển dịch trong cơ cấu tiêu thụ do ảnh hưởng từ sự phát triển của nhóm khách hàng
công nghiệp, xây dựng. Việc sử dụng điện kém hiệu quả là một trong những vấn đề lớn
nhất trong cung - cầu về điện. Cường độ điện bình quân trong 10 năm nay của Việt Nam
là 0,91 kWh/USD. Có nghĩa là để tạo ra một USD, nước ta phải tiêu thụ gần 1 kWh điện.
Năm 2014, mức tiêu thụ điện bình quân đầu người của Việt Nam là trên 1.400
kWh/người, nếu so sánh với các khu vực có mức tiêu thụ tương tự như Bắc Phi, Mỹ
LaTin, Nam Á thì cường độ điện của Việt Nam cao hơn rất nhiều (0,91 so với lần lượt là
0,28 ; 0,2 và 0,25 kWh/người). Tại khu vực Đông Nam Á, nơi cùng có cơ cấu kinh tế
thiên về phát triển công nghiệp và đòi hỏi tiêu thụ điện nhiều thì cường độ này cũng chỉ
12


là 0,38. Mức chênh lệch quá cao này cho thấy hiệu quả thực tế của việc sử dụng điện tại
Việt Nam.
Hình 3.1. Tình Hình Nguồn Cung Điện tại Việt Nam (2001 – 2014) và Dự Phóng
theo Quy Hoạch Điện VII (2015 - 2030) (Đơn Vị: GW)
140

120

Tổng công suất lắp đặt
100

Phụ tải đỉnh

80

60

40

20
0

2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2020 2025

Nguồn: FPT
Hơn một thập kỉ trôi qua, ngành điện Việt Nam luôn phải căng sức bổ sung
nguồn cung để theo kịp với tăng trưởng mạnh mẽ của nhu cầu. Năm 1995, tổng công
suất nguồn điện toàn quốc mới chỉ khoảng 4.000MW, sản lượng điện 14,3 tỷ kWh
nhưng đến nay tổng công suất các nhà máy và sản lượng đã tăng gấp 9-10 lần. Mặc dù
công suất lắp đặt luôn vượt mức phụ tải đỉnh hằng năm nhưng hệ thống vẫn luôn phải

13

2030


chịu áp lực cung ứng rất cao, đặc biệt là vào mùa khô. Vì vậy, tình trạng cắt điện luân
phiên ở nhiều nơi đã trở nên quen thuộc.
Tổng sản lượng điện thương phẩm đã tăng từ 31,1 tỷ kWh (2001) lên tới 99,1 tỷ
kWh (2010), điều này có nghĩa là sản lượng điện tiêu thụ đã tăng hơn 3 lần trong vòng
10 năm. So với năm 2009, thì sản lượng điện thương phẩm năm 2010 tăng khoảng
14,3%, gấp 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP. Tổng công suất lắp đặt các nguồn
điện Việt Nam là 21.542 MW (2010). Trong đó, nguồn điện thuộc Tập đoàn Điện lực
Việt Nam (Electricity of Vietnam – EVN) là 11.848 MW (chiếm 55% tổng công suất
lắp đặt) và còn lại 9.694 MW (chiếm 45%) thuộc các nguồn ngoài EVN (bao gồm cả
cổ phần của EVN với các đối tác khác).
Hình 3.2. Phân loại theo loại hình sản xuất điện năm 2010

Nguồn: EVN
Phân loại theo loại hình sản xuất điện năm 2010 thì thuỷ điện chiếm tỷ lệ cao nhất
với công suất khoảng 7.633 MW (chiếm 38% tổng công suất lắp đặt), tiếp đến là tuabin
khí với 3.197 MW (~32%), nhiệt điện than với 2.745 MW (~18%), nhập khẩu điện từ

14


nước ngoài với 1.000 MW (~5%), nhiệt điện dầu với 537 MW (~3%), nhiệt điện chạy
khí với 500 MW (~2%) và điện từ nguồn năng lượng tái tạo (~2%).
Hệ thống lưới điện truyền tải quốc gia cơ bản đáp ứng được các yêu cầu truyền tải
điện năng từ các nhà máy điện cho các phụ tải, đảm bảo cung cấp điện phục vụ cho
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhằm giảm tổn thất điện năng do truyền tải. Tuy
nhiên, hệ thống vẫn chưa có khả năng cung ứng dự phòng.
Mục tiêu sản xuất điện đến năm 2020
Nhằm đảm bảo cho nhu cầu về điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, Chính
phủ Việt Nam đã đặt ra một số mục tiêu sản xuất điện trong Quy hoạch Phát triển Điện
lực Quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến 2030 như sau:
- Cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu
năm 2015 khoảng 194 – 210 tỷ kWh; khoảng 330 – 362 tỷ kWh vào năm 2020; và
khoảng 695 – 834 tỷ kWh vào năm 2030.
- Ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện, tăng tỷ lệ điện
năng sản xuất từ nguồn năng lượng này từ mức ~2% năm 2010, lên 4,5% tổng điện năng
sản xuất vào năm 2020 và 6,0% vào năm 2030.
Kế hoạch sản xuất điện năng và nhập khẩu đến năm 2020 là khoảng 330 tỷ kWh,
trong đó: thuỷ điện chiếm 19,6%, nhiệt điện than 46,8%, nhiệt điện khí đốt 24,0% (sử
dụng LNG 4,0%), nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo 4,5%, điện hạt nhân 2,1% và
nhập khẩu điện 3,0%.
3.2. Tình hình phát triển điện gió
3.2.1.

Tiềm năng điện gió tại Việt Nam

Với đường bờ biển dài hơn 3.000 km và nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
Việt Nam được cho là có tiềm năng rất lớn về gió. Tuy nhiên, cũng như trường hợp của
nhiều nước đang phát triển, việc đánh giá trữ lượng của nguồn tài nguyên này tại Việt
Nam chưa được tiến hành rộng rãi.
15


Bảng 3.1. Tiềm Năng về Năng Lượng Gió của 4 Nước Đông Nam Á (ở Độ Cao 65m)
Quốc gia

Yếu
(< 6
m/s)

Campuchia Diện tích

Lý tưởng

Tổng

(7-8
m/s)

(8-9
m/s)

(> 9 m/s)

(MW)

315

30

0

96.4%

3.4%

0.2%

0.0%

0.0%

NA

24620

1260

120

0

184511

38787

6070

671

35

% diện tích

80.2%

16.9%

2.6%

0.3%

0.0%

Tiềm năng
(MW)

NA

155148

24280

2684

140

477157

37337

748

13

0

92.6%

7.2%

0.2%

0.0%

0.0%

NA

149348

2992

52

0

197342

100361

25679

2187

113

60.6%

30.8%

7.9%

0.7%

0.0%

401444 102716

8748

452

Diện tích

Diện tích
% diện tích
Tiềm năng
(MW)

Việt Nam

Rất tốt

6155

Tiềm năng
(MW)

Thái Lan

(6-7 m/s)

Tốt

175468

% diện tích

Lào

Trung
bình

Diện tích
% diện tích
Tiềm năng
(MW)

NA

26000

182252

152392

513360

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (WB)
Năm 2007, Bộ Công Thương với sự hỗ trợ của World Bank đã tiến hành chương
trình đo đạc, vẽ bản đồ gió cho 4 Quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam dựa trên
phương pháp mô phỏng bằng mô hình số trị khí quyển. Theo tính toán của nghiên cứu
này thì Việt Nam là nước có tiềm năng gió lớn nhất, hơn hẳn các quốc gia lân cận là
Thái Lan, Lào và Campuchia. Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được
đánh giá có tiềm năng từ “Tốt” đến “Rất tốt” để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì
16


con số này ở Campuchia, Lào, Thái Lan lần lượt chỉ là 0,2% , 2,9% và 0,2%. Tổng tiềm
năng điện gió ở Việt Nam theo ước tính này lên đến 513.360 MW, tương đương với 214
lần công suất của thủy điện Sơn La và gấp 4 lần tổng công suất dự báo của ngành điện
vào năm 2030. Tuy nhiên, cũng như các loại năng lượng khác, khai thác toàn bộ tiềm
năng lý thuyết này là điều không thể. Do đó nhiều tổ chức đã đưa ra ước tính riêng của
mình dựa trên tình hình phát triển thực tế ở các địa phương, tiềm năng điện gió kỹ thuật
thực tế của Việt Nam chỉ dao động trong khoảng 10.000 – 20.000 MW.
Hình 3.2. Bản Đồ Tài Nguyên Gió Việt Nam

Nguồn: EVN
Dựa trên cơ sở số liệu bản đồ tiềm năng gió của World Bank, EVN đã tiếp tục thực
hiện các khảo sát xác định trữ lượng thực tế nhằm mục đích xây dựng các quy hoạch
17


phát triển điện gió trong tương lai. Theo đó, tiềm năng điện gió đã xác minh của Việt
Nam được xác định khoảng 1.785 MW. Miền Trung là khu vực có tiềm năng gió lớn
nhất với 880 MW tập trung chủ yếu tại 2 tỉnh Quảng Bình và Bình Định, tiếp đến là
miền Nam với 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận. Tuy nhiên, việc ước tính công suất
tiềm năng này chưa hoàn thành do quy mô dự án chưa được mở rộng khắp các địa bàn
trên cả nước.
Ngoài ra, Bộ Công thương và Ngân hàng Thế giới vào năm 2010 đã tiến hành cập
nhật thêm số liệu quan trắc (đo gió ở 3 điểm) vào bản đồ tiềm năng gió ở độ cao 80 m
cho Việt Nam. Kết quả cho thấy tiềm năng năng lượng gió ở độ cao 80 m so với bề mặt
đất là trên 2.400 MW (tốc độ gió trung bình năm trên 7 m/s).
3.2.2.

Các dự án điện gió hiện nay

Cho đến nay, có khoảng 48 dự án điện gió đã đăng ký trên toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ, với tổng công suất đăng ký
gần 5.000 MW, quy mô công suất của các dự án từ 6 MW đến 250 MW. Tuy nhiên,
hiện nay do suất đầu tư của dự án điện gió vẫn còn khá cao, trong khi giá mua điện gió
là khá thấp 1.614 đồng/ kWh (tương đương khoảng 7,8 UScents/ kWh) theo Quyết định
số 37/2011/QĐ-TTg, cao hơn 310 đồng/ kWh so với mức giá điện bình quân hiện nay
là 1.304 đồng/ kWh, được xem là chưa hấp dẫn các nhà đầu tư điện gió trong và ngoài
nước. Do vậy, cho đến năm 2010 mới chỉ duy nhất một dự án điện gió ở Xã Bình
Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận là hoàn thiện giai đoạn 1 (dự kiến nâng tổng
công suất lên 120 MW trong giai đoạn 2 từ 2011 đến 2015), với công suất lắp đặt 30
MW (20 tuabin gió x 1,5 MW mỗi tua bin). Chủ đầu tư dự án là Công ty Cổ phần
Năng lượng Tái tạo Việt Nam (Vietnam Renewable Energy Joint Stock Company REVN). Tổng mức đầu tư của dự án lên đến 1.500 tỷ đồng (tương đương khoảng 75
triệu USD), các thiết bị tuabin gió sử dụng của Công ty Fuhrlaender Đức. Dự án chính
thức được nối lên lưới điện quốc gia vào tháng 3 năm 2011.

18


Vào năm 2010, trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, dự án điện gió lai tạo với máy
phát điện diesel của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
(Petro Vietnam), có tổng công suất là 9 MW (gồm 3 tuabin gió x 2 MW mỗi tuabin + 6
máy phát diesel x 0,5 MW mỗi máy phát) đã lắp đặt xong và đang trong giai đoạn nối
lưới. Các tuabin gió sử dụng của hãng Vestas, Đan Mạch. Giá bán điện đang đề xuất
thông qua hợp đồng mua bán điện với giá 13 US cents/ kWh. Giá mua điện này được
đánh giá là hấp dẫn do đặc thù dự án ở ngoài đảo. Tương tự, một dự án điện gió ở Côn
Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do Công ty EAB CHLB Đức làm chủ đầu tư, giá bán điện
thoả thuận là 25 UScents/ kWh. Dự án đang chuẩn bị tiến hành xây dựng.
Tại tỉnh Bạc Liêu, vùng đồng bằng Sông Cửu Long một dự án điện gió khác thuộc
công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Công Lý cũng đang trong giai đoạn lắp đặt các
tuabin gió (1 tuabin gió đã được lắp đặt) với công suất 16 MW trong giai đoạn đầu (10
tuabin gió x 1.6 MW mỗi tuabin của hãng GE Mỹ). Dự kiến trong giai đoạn 2 của dự án
công suất sẽ nâng lên 120 MW (từ năm 2012 đến đầu năm 2014).
Hình 3.3. Nhà Máy Điện Gió Bạc Liêu

Nguồn: EVN
19


Như vậy tính đến nay, tại Việt Nam đã có 3 dự án đã hoàn thành và phát điện
thương mại: Dự án Điện gió nối lưới quốc gia tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Dự
án nhà máy phong điện đảo Phú Quý, Dự án điện gió lắp dựng trên biển tại tỉnh Bạc Liêu
nối lưới quốc gia.
Ngoài ra, còn có một số các dự án đang trong giai đoạn, tiến độ khác nhau phân bố
tại các tỉnh thành như Bà Rịa – Vũng Tàu, Gia Lai, Lâm Đồng, Bến Tre, Trà Vinh,….
3.2.3.

Các chính sách hỗ trợ xây dựng và phát triển các dự án điện gió

Các chính sách và cơ chế ưu đãi của Chính phủ Việt Nam dành cho lĩnh vực điện
gió được thể hiện qua các chính sách pháp lý rõ ràng hơn trong thời gian gần đây.
Tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1208/2011/QĐ-TTg
về phê duyệt Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011-2020 và có xét
đến năm 2030. Trong đó thể hiện mục tiêu của Chính phủ Việt Nam là ưu tiên phát triển
nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện, tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ 3,5% năm
2010 lên 4,5% tổng điện năng sản xuất vào năm 2020 và 6,0% vào năm 2030. Cụ thể,
riêng đối với nguồn năng lượng gió, đưa tổng công suất nguồn điện gió từ mức không
đáng kể hiện nay (khoảng 31 MW) lên khoảng 1.000 MW (chiếm khoảng 0,7% của
tổng điện năng sản xuất) vào năm 2020, khoảng 6.200 MW (chiếm khoảng 2,4%) vào
năm 2030.
Sự cam kết của Chính phủ đến lĩnh vực năng lượng tái tạo nói chung và lĩnh vực
điện gió nói riêng càng thể hiện rõ hơn khi mà trước đó Quyết định số 37/2011/QĐTTg được ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2011 (có hiệu lực từ 20/8/2011). Quyết định
đưa ra các cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam. Theo đó, dự án
điện gió sẽ được hưởng các ưu đãi về vốn đầu tư, thuế và phí như sau:

20


Huy động vốn đầu tư
- Nhà đầu tư được huy động vốn dưới các hình thức pháp luật cho phép từ các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự án điện gió.
- Các dự án điện gió được hưởng các ưu đãi theo quy định hiện hành về tín dụng đầu tư
của Nhà nước.
Thuế nhập khẩu
Dự án điện gió được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản
cố định của dự án, hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước
chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất của dự án theo quy định tại Luật Thuế
xuất khẩu, Thuế nhập khẩu và các quy định của pháp luật hiện hành về thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu.
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
đối với dự án điện gió được thực hiện như đối với dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi
đầu tư quy định tại Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng
dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ưu đãi về hạ tầng đất đai
- Các dự án điện gió và công trình đường dây và trạm biến áp để đấu nối với lưới điện
quốc gia được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật hiện
hành áp dụng đối với dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư.
- Căn cứ vào quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
có trách nhiệm giao đất để chủ đầu tư thực hiện các dự án điện gió. Việc bồi thường, hỗ
trợ giải phóng mặt bằng được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai.
3.2.4.

Các yếu tố tác động đến giá điện gió

Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất cao (Các chi phí như công nghệ, kỹ thuật, việc nhập khẩu thiết bị,
khảo sát lập dự án đầu tư, …) dẫn đến giá điện gió khá cao so với giá điện hiện tại từ các
mô hình sản xuất khác.
Điều kiện về đường sá hạ tầng chưa tốt của chúng ta cũng dẫn đến những khó khăn
trong việc vận chuyển, bởi các thiết bị điện gió thông thường là “siêu trường siêu trọng”.
Bên cạnh đó khả năng, năng lực kỹ thuật của các doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề
lắp đặt vẫn chưa tiếp cận tốt với công nghệ lắp đặt trên Thế giới. Thông thường chúng ta
21


phải thuê các đơn vị thi công lắp đặt của nước ngoài, điều đó đã làm cho giá thành bị đội
lên và việc chúng ta chưa nội địa hóa các vật tư thiết bị đối với việc xây dựng các công
trình điện gió cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc giá thành điện gió khá cao như hiện
nay.
Nghiên cứu tại 3 dự án điện gió đang hoạt động cho thấy, chi phí xây dựng trung
bình là 2 triệu USD cho 1 MW điện gió và chi phí vận hành hàng năm là 35.000 USD
cho 1 MW điện gió. Như vậy, với giá bán cho EVN hiện nay là 7,8 UScent/kWh, tuy cao
hơn so với giá điện tới tay người tiêu dùng nhưng việc đầu tư điện gió vẫn lỗ nặng.
Thời tiết, chu kỳ thay đổi mùa, tốc độ gió hàng năm
Nhược điểm chính của nguồn năng lượng gió là phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên.
Đối với thủy điện, ngay cả mùa khô, khi lượng mưa giảm, nước ở những dòng chảy sông
ngòi tự nhiên không có thì hệ thống thủy điện vẫn có thể hoạt động được do lượng nước
dự trữ trong lòng hồ. Vậy nhưng, điện gió thì lại hoàn toàn không thể hoạt động được nếu
ở trong tự nhiên không có gió. Điều này dẫn đến việc sản lượng điện thường xuyên
không ổn định, nhất là trong thời gian mà thời tiết có nhiều thay đổi, biến động như hiện
nay. Vì vậy, dù có xây dựng hệ thống nhà máy, cánh quạt hay đường dẫn hiện đại đến
đâu đi chăng nữa mà thời tiết thay đổi, hướng và tốc độ gió biến động thì nhà máy điện
gió cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Sự can thiệp của nhà nước
Sự can thiệp của Chính phủ như việc trợ giá và các cơ chế hỗ trợ như giảm thuế,
miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu cho phát triển điện gió, phí sử dụng
đất, VAT và phí môi trường cũng góp phần tác động đến giá phong điện.
Dự án Năng lượng Gió GIZ phối hợp với Bộ Công Thương (MoIT) xây dựng các
phương án tính toán giá thành cho điện gió nối lưới tại Vệt Nam. Thông qua đó, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg23 về các cơ chế hỗ trợ
điện gió. Theo đó, bên mua điện (EVN) có trách nhiệm mua toàn bộ sản lượng điện từ
các Dự án điện gió với mức giá là 1.614 đồng/ kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
VAT, tương đương với 7,8 UScents/ kWh) tại điểm giao nhận điện. Mức giá mua điện
được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá giữa VNĐ và USD. Trong đó, Nhà nước hỗ trợ
giá điện cho bên mua điện với mức giá là 207 đồng/ kWh (tương đương với 1,0 UScents/
kWh) cho toàn bộ sản lượng điện mua từ các nhà máy điện gió thông qua Quỹ Bảo vệ
Môi trường Việt Nam. Điều này có nghĩa là bên mua điện hay EVN chỉ phải trả 6,8
UScents/ kWh. Tuy nhiên, nếu so sánh với biểu giá điện gió của một vài nước trong khu
22


vực và trên thế giới, có thể thấy rằng mức giá hỗ trợ điện gió ở Việt Nam vẫn còn rất
thấp.
Bảng 3.2. Giá Mua Điện Gió tại Một Số Quốc Gia Năm 2011
NƯỚC

STT

GIÁ ĐIỆN GIÓ ĐẤT LIỀN

ĐIỆN GIÓ NGOÀI BIỂN

(US cents/Kwh)

(US cents/Kwh)

1

Trung Quốc

8.9

-

2

Tây Ban Nha

12.2

23.9

3

Đức

12.1

20.2

4

Pháp

11.1

17.5

5

Bồ Đào Nha

10.0

-

6

Đan Mạch

-

11.2

7

Hy Lạp

11.8

13.1

8

Thái Lan

11.6

-

9

Philipin

24.6

-

10

Việt Nam

7.8

-

Nguồn: World Wind Energy Association (WWEA)
3.2.5.

Trở ngại đầu tư trong việc phát triển các dự án điện gió

Dù đã có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ cụ thể từ phía nhà nước, các tổ chức tài
chính, doanh nghiệp sản xuất công nghệ cũng cam kết hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp đầu
tư phát triển điện gió tại Việt Nam nhưng cho đến nay vẫn còn một số trở ngại lớn làm
chậm việc xây dựng, phát triển và sản xuất điện gió ở nước ta. Trong đó, có thể kể đến
như:

23


Về kinh tế và tài chính
Chi phí đầu tư dự án điện gió tăng cao hơn trong những năm gần đây do tính biến
động của thị trường nguyên vật liệu thế giới tăng cao dẫn đến tăng chi phí sản xuất thiết
bị điện gió (giá thành của tuabin chiếm đến 70-80% của suất đầu tư). Điều này có nghĩa
là suất đầu tư cho dự án cũng tăng lên, ước tính suất đầu tư cho một dự án điện gió dao
động khoảng 1.700 – 2.000 USD/kW, phụ thuộc vào từng công nghệ (công nghệ của
Trung Quốc hiện nay được xem là rẻ nhất). Giá điện gió thấp như hiện nay được xem là
rào cản lớn nhất cho các nhà đầu tư. Trong khi đó, vốn đầu tư cho một dự án điện gió là
rất lớn (với công suất 50-100 MW thì cần một khoản tín dụng dao động 80-160 triệu
USD). Do vậy, ngay cả các tổ chức tài chính quốc tế cũng hạn chế cho vay do tính khả thi
của dự án chưa cao (đòi hỏi các dự án phải chứng minh được khả năng hoàn vốn) và cần
phải có sự bảo lãnh của Chính phủ. Đối với các ngân hàng thương mại trong nước thì khó
khả thi do vốn điều lệ thấp và chỉ có ngân hàng nhà nước là có khả năng cung ứng tín
dụng cho các dự án điện gió. Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn này đối với các nhà đầu
tư Việt Nam còn rất hạn chế.
Nguồn nhân lực kỹ thuật
Hiện tại, trong các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề chưa có ngành học chuyên
sâu về lĩnh vực năng lượng tái tạo nói chung hay điện gió nói riêng. Giảng viên cho lĩnh
vực năng lượng này còn thiếu, chương trình học còn hạn chế, … tạo nên một lổ hổng lớn
về nhân sự cho lĩnh vực công nghệ “xanh” mới mẻ này. Và đó chính là một cản trở cho
sự phát triển lĩnh vực này ở Việt Nam. Trước mắt, Việt Nam cần xây dựng và lồng ghép
một chương trình đào tạo chuyên sâu vào hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu về
nguồn nhân lực kỹ thuật.
Hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng (hệ thống đường xá, cầu cống, hệ thống điện, thiết bị giao thông…)
của Việt Nam còn lạc hậu nên việc vận chuyển hàng hoá siêu trường siêu trọng phục vụ
cho việc xây dựng, lắp đặt các nhà máy điện gió còn gặp rất nhiều khó khăn. Một ví dụ
điển hình là dự án điện gió REVN ở Bình Thuận phải mất 2 tháng chỉ để vận chuyển 5
tuabin gió từ cảng biển Phú Mỹ về địa điểm dự án trên quãng đường dài 300 km. Ngoài
ra, do không có cần cẩu phù hợp để lắp dựng tuabin gió nên công ty phải thuê cần cẩu từ
Singapore, sau đó tự trang bị và được xem là đơn vị duy nhất trên cả nước có thiết bị đáp
ứng công việc này. Nhiều vùng trên nước ta được đánh giá tiềm năng gió cao. Tuy nhiên,
24


việc tiếp cận các địa điểm này rất khó khăn do hạ tầng còn yếu (đường xá quá nhỏ, nhiều
đường cua, qua khu dân cư, không có cầu…. ) khiến việc phát triển dự án là gần như
không thể. Hoặc, chủ đầu tư phải mất thêm chi phí để gia cố lại hạ tầng dẫn đến tổng chi
phí đầu tư tăng lên đáng kể.
Ngoài ra, thiết bị điện gió hầu hết là chưa được nội địa hoá. Mặc dù đã có một số
nhà sản xuất như GE Mỹ, CS Wind Tower Hàn Quốc,… nhưng toàn bộ các sản phẩm của
họ đều xuất khẩu ra thị trường thế giới. Việc thiếu các dịch vụ cung cấp thiết bị thay thế,
sửa chữa, vận hành và bảo dưỡng hệ thống cũng là một trong nguyên nhân làm gia tăng
chi phí đầu tư của dự án. Phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài tất nhiên sẽ kéo theo
những phụ thuộc về thời gian, dẫn đến tính sẵn sàng của dự án được đánh giá còn thấp.
Chính sách và quy hoạch
Chính sách và quy hoạch được đánh giá là cản trở lớn nhất cho sự phát triển lĩnh
vực điện gió ở Việt Nam. Các quy hoạch quốc gia và quy hoạch tỉnh, thủ tục đầu tư, hợp
đồng mua bán điện vẫn còn chưa được ban hành một cách đầy đủ. Sự phối hợp giữa các
cấp thẩm quyền cho lĩnh vực điện gió cũng rất lỏng lẻo và thiếu tính đồng nhất. Một ví dụ
điển hình là hiện nay hàng loạt dự án điện gió ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đang
vướng vào vùng quy hoạch tài nguyên khoáng sản titan dưới lòng đất nằm trong khu vực
quy hoạch điện gió. Theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khai thác khoáng
sản là ưu tiên quốc gia. Nghĩa là, sau khi titan được khai thác (khai thác titan thông
thường mất khoảng 30-50 năm) thì các dự án trên khu vực này mới được triển khai. Điều
này đã dẫn đến sự chậm trễ trong việc cấp phép và tiến hành dự án điện gió do phải chờ
đợi kết quả khảo sát từ phía Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra, việc thông tin giữa
các cơ quan chính phủ và tỉnh cũng chưa rõ ràng và thiếu minh bạch cũng là một trở ngại.
Đối mặt với thực trạng trên, mặc dù số lượng các dự án điện gió ngày càng tăng
nhưng phần lớn vẫn chỉ là dưới hình thức giữ đất chờ đợi và sản xuất nhỏ giọt.
3.2.6.

Tác động đến môi trường của điện gió

Từ sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ hồi thập niên 1970, việc nghiên cứu ứng dụng
năng lượng gió được hỗ trợ mạnh tại nhiều nước và hiện nay đã trở thành một ngành
công nghiệp quan trọng tại Anh, Ấn Độ, Đan Mạch, Đức, Mỹ và Trung Quốc. Cánh đồng
điện gió hoặc trang trại điện gió sử dụng gió để tạo ra điện năng, được gọi là năng lượng
tái tạo hoặc năng lượng xanh. Tuy nhiên, dù sao thì turbin điện gió vẫn gây ra một số ảnh
hưởng đến môi trường sinh sống của con người và động vật. Vì vậy, để bảo vệ môi
25


trường sống, các công trình điện gió phải tuân theo những quy định chung, trong đó
khoảng cách từ trụ đến khu dân cư tối thiểu phải bằng ba lần đường kính cánh quạt.
Ảnh hưởng của tiếng ồn
Turbin điện gió khi hoạt động sẽ phát sinh tiếng ồn. Tùy theo công nghệ chế tạo và
công suất động cơ mà độ ồn của turbin điện gió sẽ khác nhau.
Turbin điện gió trục ngang hai cánh có độ ồn lớn nhất nên chỉ được lắp đặt ngoài
khơi. Turbin điện gió ba cánh sử dụng hộp số có tiếng ồn cao hơn turbin sử dụng nam
châm vĩnh cửu. Ngoài yếu tố thiết kế và công nghệ, tiếng ồn còn lệ thuộc vào mật độ của
không khí, tốc độ gió và độ cao của hệ thống cánh quạt. Độ ồn thông thường tại tâm hệ
thống cánh của turbin điện gió có công suất 2-3MW khoảng 98-109dB(A).
Turbin điện gió loại 2, 3MW tại độ cao tâm hệ thống cánh quạt 99m có thể gây ra
tiếng ồn tới 105,54dB(A), nhưng ở khoảng cách 200m tính từ tâm hệ thống cánh quạt thì
độ ồn chỉ còn 49dB(A). Thông thường, nếu đứng cách turbin điện gió 300m thì tiếng ồn
thấp hơn 45dB(A) và điều đó hoàn toàn chấp nhận được. Các turbin điện gió hiện đại
được thiết kế phù hợp với nguyên tắc khí động học nên giảm hẳn được tiếng ồn. Đặc biệt,
loại turbin điện gió không dùng hộp số phát sinh tiếng ồn rất thấp.
Ảnh hưởng đến cảnh quan và địa hình
Cánh đồng điện gió thường được xây dựng tại những nơi xa khu dân cư, ven bờ
biển hoặc ngoài khơi. Tuy nhiên, những công trình này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến cảnh
quan và địa hình nên đã có những quy định phải giữ đúng khoảng cách cần thiết từ nơi
đặt turbin đến những vùng bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ di tích, rừng phòng hộ hoặc khu
dân cư.
Ngoài ra, cũng cần phải tính đến những ảnh hưởng của hệ thống lưới điện đến cảnh
quan. Bên cạnh đó, để loại bỏ ảnh hưởng do phản chiếu của lớp sơn hoặc nhựa bóng bảo
vệ khi turbin hoạt động dưới ánh sáng mặt trời, người ta chọn cách sơn hoặc tráng nhựa
mờ cho turbin điện gió. Khi mặt trời chiếu sáng, turbin điện gió hoạt động sẽ gây ra hiện
tượng nhấp nháy, gây cảm nhận khó chịu. Tuy nhiên, tác động này chỉ có ảnh hưởng
trong một phạm vi nhỏ dưới chân turbin. Tại những nơi đặt turbin điện gió nằm gần khu
dân cư, người ta phải có biện pháp chống nhấp nháy, ví dụ lắp thêm thiết bị hạ thấp số
vòng quay của cánh quạt khi có ánh nắng mặt trời.

26


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×