Tải bản đầy đủ

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hệ trung học phổ thông ở trung tâm giáo dục thường xuyên Hai Bà Trưng Hà Nội (tt)

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục năm 2005 sửa đổi đã khẳng định “Mục tiêu của
giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân”.
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong những vấn đề quan
trọng, thể hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, có một ý nghĩa rất lớn đối với
việc giáo dục lòng yêu nước, giáo dục lòng nhân nghĩa, xây dựng quan hệ
thầy trò, quan hệ bạn bè nói riêng, quan hệ xã hội nói chung. Giáo dục đạo
đức còn giúp cho học sinh xây dựng được động cơ thái độ đúng đắn trong
học tập và hoạt động xã hội. Giáo dục đạo đức (GDĐĐ) là góp phần duy
trì, phát triển nội lực của chiến lược phát triển giáo dục, khai thác nguồn
lực con người của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Theo đúng mục
tiêu đã nêu trong Nghị quyết TW 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt
nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ
quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”.

GDĐĐ không là vấn đề mới nhưng luôn cấp thiết trong bất kỳ nhà
trường nào, thể hiện quan điểm giáo dục nhân văn truyền thống của dân
tộc “hài hòa đức, trí, thể mỹ; dạy người, dạy chữ”,“Chú trọng giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống” (NQTW 29).
Mặt khác thực trạng đạo đức của học sinh hiện nay đang ở tình
trạng báo động: Dưới ảnh hưởng của cơ chế thị trường, văn hóa ngoại
lai đã tác động tích cực lẫn tiêu cực đến tầng lớp học sinh, làm băng
hoại, xói mòn đạo đức truyền thống của dân tộc. Một bộ phận học sinh
hiện nay đang sống rất thực dụng, vô cảm ở các em thiếu đi những
chuẩn mực đạo đức xã hội.
Trung tâm Giáo dục thường xuyên Hai Bà Trưng (TTGDTX HBT)
nằm ngay giữa trung tâm thành phố Hà Nội, đón nhận tất cả những đổi
thay trong dòng chảy của nhịp sống sôi động, bon chen. Tất cả đã tạo nên
một môi trường độc đáo, hội tụ tất cả những gì gọi là “tiêu biểu nhất” của


2

TTGDTX, mà trong đó đạo đức của học sinh luôn là vấn đề nổi cộm. Các
em sống thiếu ý thức, không có ước mơ, hoài bão, mục đích sống, không
có trách nhiệm đối với bản thân, cuộc đời của chính mình. Có những em
do hoàn cảnh gia đình bố mẹ bỏ nhau, không người nuôi dưỡng quan tâm
nên đã có những hành vi trộm cắp, thậm chí ra ngoài đường tụ tập đánh
nhau chỉ để thể hiện bản lĩnh “đại ca” của mình. Nguy hiểm hơn nữa có
em còn tổ chức cướp giật ngay trên địa bàn quận. Học sinh tại trung tâm
đa phần thiếu những chuẩn mực đạo đức thông thường nhất như danh dự,
lòng tự trong… các em có thể ôm hôn nhau, có những hành động thái quá
ngay trong lớp học, trước mặt giáo viên.
Công tác GDĐĐ tại trung tâm thời gian qua đã đạt những kết quả nhất
định, có sự đổi mới tích cực hiệu quả được cấp trên ghi nhận. Tuy nhiên do
đặc thù của trung tâm nằm trên một khu vực mà các hoạt động thương mại,
mua bán diễn ra tấp nập, sôi động nên công tác GDĐĐ cho học sinh nhiều
lúc chưa bắt kịp với sự thay đổi phát triển nhanh chóng của xã hội. Bên cạnh
việc tập trung “dạy chữ” công tác “dạy người” còn nhiều khó khăn hạn chế
như: Chương trình nội dung kế hoạch cụ thể trong việc GDĐĐ chưa phù hợp
với tình hình thực tế, từ đó dẫn tới cách thức tổ chức hoạt động giáo dục đạo
đức còn đơn điệu nhàm chán. Đa phần các nội dung GDĐĐ được truyền tải
qua giờ dạy giáo dục công dân, tiết sinh hoạt chưa có sự tích hợp nhiều với
các môn học khác. Học sinh nắm vững được một số chuẩn mực đạo đức
nhưng lại không thực hành áp dụng cụ thể vào cuộc sống, chưa biến thành


hành động.
Mặt khác, do đặc thù của trung tâm, có những đối tượng học sinh đã
từng có tiền án, đang bị công an theo dõi hay đã trải qua thời gian sống trong
trại giáo dưỡng, hoặc có em vừa đi học vừa đi làm để kiếm sống nên chịu tác
động rất nhiều những bon chen xô bồ giành giật trong cuộc mưu sinh, ảnh
hưởng trực tiếp tới hành vi đạo đức của chính học sinh đó; hay có trường hợp
học sinh sử dụng ma túy sẽ khiến giáo viên có tâm lý ngại, sợ, cho qua và
muốn tránh “va chạm”. Nên đôi khi học sinh có vi phạm kỉ luật nhưng
thường chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở, viết bản kiểm điểm… không có biện
pháp giáo dục triệt để. Trên thực tế có những giáo viên do xử lý tình huống
sư phạm chưa tốt đã để xảy ra những sự việc ngoài ý muốn.


3

Quản lý hoạt động giáo dục (QLHĐGD) tại trung tâm GDTX Hai
Bà Trưng hiện nay còn nhiều bất cập. Chưa nhận được nhiều sự quan
tâm của lãnh đạo, không được đầu tư đúng mức, chưa có kế hoạch,
chương trình quản lý và chỉ đạo thực hiện giáo dục đạo đức một cách cụ
thể. Mặt khác việc đánh giá kết quả giáo dục đạo đức của lãnh đạo đối
với giáo viên chưa khoa học, khách quan dẫn tới tình trạng nhìn nhau để
tị nạnh, làm cũng như không làm.
Với những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng Hà Nội ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất một số biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX
Hai Bà Trưng - Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục đạo đức học sinh hệ THPT ở TTGDTX.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở
TTGDTX Hai Bà Trưng - Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tại TTGDTX Hai Bà Trưng
đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn một số hạn chế. Nếu
xác định đúng những giá trị đạo đức thích hợp với học sinh, đề xuất được
những biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh hệ THPT một cách
khoa học, khả thi, phù hợp với thực tiễn của Trung tâm thì sẽ nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức học sinh hệ THPT, chất lượng giáo dục toàn
diện của Trung tâm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh hệ THPT.


4

5.2. Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng - Hà Nội
hiện nay.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý của Giám đốc trong hoạt động giáo
dục đạo đức nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức ở
TTGDTX Hai Bà Trưng.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động quản lý GDĐĐ cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà
Trưng - Hà Nội thời gian năm 2016.
- Đối tượng khảo sát:
 Học sinh từ lớp 10 – 12 : số lượng khoảng 180 học sinh
 Số cán bộ quản lý, giáo viên của trường: 15 người
 Phụ huynh học sinh: 30 người
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận :
Nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin, tư
liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
+ Phương pháp quan sát: Tìm hiểu hoạt động tổ chức và quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng.
+ Phương pháp phỏng vấn / trò chuyện: Xin ý kiến từ cán bộ quản
lý, giáo viên, nhân viên về thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh, về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của trung tâm, bài học kinh
nghiệm.... Cũng như trò truyện với học sinh để tìm hiểu tâm tư, tình cảm
của học sinh, đâu là nguyên nhân dẫn tới hành vi vi phạm đạo đức...
+ Phương pháp điều tra, khảo sát: Xây dựng phiếu điều tra, kiểm
tra trực tiếp các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, kết quả của
những hoạt động đó.
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra
Bước 2: Tiến hành điều tra
Bước 3: Thu thập phiếu điều tra và xử lý số liệu
- Nhóm phương pháp thống kê toán học


5

Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra, đồng thời xác định
mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh THPT.
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng - Hà Nội.
Chương 3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng - Hà Nội.


6

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT
1.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề
Đạo đức từ xa xưa vẫn được coi là cái gốc để đánh giá, nhận xét
một con người. Trong tiềm thức văn hóa dân tộc cha ông luôn dăn dạy con
người ta “ăn ngay ở lành”, “ác giả ác báo”. Lịch sử loài người phát triển
với nhiều giá trị đổi thay liên tục nhưng chuẩn mực chung của đạo đức vẫn
là hướng tới Chân - Thiện - Mỹ, đề cao cái thiện, chống lại cái ác hướng
con người vào những mối quan hệ tốt đẹp đảm bảo một cuộc sống hạnh
phúc, nhân văn. Khổng Tử quan niệm đạo đức là gốc của con người, nói
đến con người trước hết là đề cập đến đạo đức. Làm người theo Khổng Tử
trước hết phải có "đức", rồi mới học văn.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của
người cách mạng, là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước cách
mạng. Theo Người “Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí
Minh không có nghĩa là tuyệt đốihoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho
rằng “Có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không
có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Tác giả Đặng Quốc Bảo trong bài viết “Rèn luyện lòng tự trọng
trong giáo dục hiện nay” đăng trên báo Giáo dục và Thời đại tháng 5/
2012 ghi nhận gia đình nhà trường và xã hội đã có nhiều cố gắng trong
việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ; nhưng cần chú trọng hơn tới “giáo
dục hướng nội” đó là nhân cách, lòng tự trọng, lương tâm phẩm giá của
một con người.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1.Khái niệm đạo đức
Theo quan điểm của học thuyết Mac – LeNin thì “Đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống
cộng đồng xã hội. Nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì


7

vậy, tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội, đạo đức cũng thay đổi theo và
như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính giai cấp và tính dân tộc”.
1.2.2. Chuẩn mực đạo đức
Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối
với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan
niệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm,
danh dự, trách nhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh
thần của xã hội.
1.2.3. Giáo dục đạo đức
GDĐĐ là quá trình hình thành, trang bị cho mỗi cá nhân những tư
tưởng, quan niệm, nguyên tắc ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức cơ
bản của xã hội. Từ đó con người có khả năng nhận thức đúng sai cũng như
điều chỉnh hành vi của bản thân hướng tới cái thiện. Do đó GDĐĐ góp
phần vào việc hình thành phát triển nhân cách con người phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của xã hội.
1.2.4. Quản lý
Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu
đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
1.2.5. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt được kết quả mong muốn một
cách hiệu quả nhất. Xét theo chức năng cũng như yêu cầu của xã hội về
bản chất quản lý hoạt động giáo dục đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục
tiêu của ngành giáo dục.
1.2.6. Giá trị sống
Giá trị cuộc sống chính là những điều chúng ta cho là quý giá, là
quan trọng, có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống trở
thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị sống
mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của ai cũng giống nhau. Có thể
gói gọn lại trong 12 giá trị sống theo tổ chức Unesco như: Hòa bình, tôn
trọng, hợp tác, trách nhiệm, trung thực, khiêm tốn, giản dị, khoan dung,
đoàn kết...


8

1.3. Giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường phổ thông - Trung tâm
GDTX
1.3.1. Chủ trương của Đảng và nhà nước về giáo dục đạo đức cho học
sinh
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ đạo hết
sức cụ thể về nhiệm vụ của ngành Giáo dục - Đào tạo trong thời gian tới là
“Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo
dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi
trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng
thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. Xây dựng
đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Đề cao trách
nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo
dục thế hệ trẻ”.
Theo hướng dẫn số 30/HD-SGDĐT về thực hiện nhiệm vụ Giáo
dục Trung học năm học 2012 - 2013, đã đưa ra nhiệm vụ chung cho các
cơ sở giáo dục: “Tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục toàn diện
cho học sinh;Tiếp tục triển khai có hiệu quả các cuộc vận động, các
phong trào thi đua của ngành gắn với việc đổi mới giáo dục, rèn luyện
phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân
viên và học sinh, tạo sự chuyển biến tích cực và rõ nét về chất lượng giáo
dục trung học”.
1.3.2. Vị trí của TTGDTX trong hệ thống giáo dục Việt Nam
Giáo dục thường xuyên là một khái niệm còn lạ lẫm mà nhiều
người quen gọi mô hình giáo dục đó là bổ túc văn hóa. UNESCO đã đưa ra
một định nghĩa chung “GDTX là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả các
cơ hội học tập mà mọi người mong muốn và có nhu cầu xóa mù chữ và
giáo dục tiểu học”.
1.3.3. Đặc điểm của học sinh lứa tuổi THPT
Học sinh THPT thường được tính từ 15 đến 18 tuổi là giai đoạn đầu
của tuổi thanh niên với nhiều đặc điểm phức tạp, có sự phát triển tăng tốc
nhanh ở cả hai mặt sinh lý và tâm lý. Là thời kỳ đầy khó khăn và phức tạp
vì nhiều khi không phải lúc nào sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp
với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội. Có những em phát triển sớm
hơn so với lứa tuổi nhưng cũng có nhiều trường hợp ngược lại.


9

Giai đoạn này các em đã trưởng thành về mặt cơ thể đã đạt tới mức
phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém
so với người lớn. Các em có hình dáng người lớn, có những nét của người
lớn nhưng lại chưa phải là người lớn.
Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng
nghề nghiệp nên khá đa dạng, sâu sắc bền vững hơn và có tính ganh đua. Đã
có sự phát triển của tự ý thức và hình thành cho mình thế giới quan.
1.3.4. Cơ sở pháp lý cho hoạt động GDĐĐ cho học sinh hệ phổ thông ở
TTGDTX
Luật Giáo dục năm 1998 chỉ ra “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thức và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
1.3.5. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Nghị quyết TW 29 chỉ ra nhiệm vụ của giáo dục trong thời đại mới
là “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và
ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền
thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân
văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tập trung vào
những nội dung sau:
- Giáo dục về tư tưởng, chính trị
- Giáo dục về pháp luật
- Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
- Giáo dục đạo đức trong ứng xử xã hội
- Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.4.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
- Xác định các căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn cho việc lập kế
hoạch giáo dục đạo đức đảm bảo kế hoạch được xây dựng dựa trên những
căn cứ chắc chắn làm cơ sở cho quá trình tổ chức thực hiện.
- Xác định thực trạng nhiệm vụ giáo dục đạo đức của Trung tâm.
- Xác định các nội dung nhiệm vụ cần thực hiện để làm tốt công tác
GDĐĐ cho học sinh.
- Thiết lập hệ thống chuẩn để kiểm tra đánh giá hoạt động.


10

1.4.2. Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT
Tổ chức thực hiện kế hoạch tức là đưa kế hoạch vào thực tế. Nhà
quản lý căn cứ vào kế hoạch đã được phê duyệt để tiếp nhận các nguồn
lực, để bố trí sắp xếp một cách hợp lý giữa con người và công việc.
1.4.3. Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Khi chỉ đạo thực hiện kế hoạch CBQL phải đảm bảo quá trình chỉ đạo
thực hiện đi đúng hướng để đạt được mục tiêu đã định. Đồng thời phải
luôn giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận có liên quan
để đảm bảo công tác GDĐĐ cho học sinh đang được thực hiện đúng kế
hoạch, hướng tới các mục đã định trước.
1.4.4. Kiểm tra thực hiện hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT
CBQL Trung tâm cần thực hiện việc kiểm tra đánh giá hoạt động
GDĐĐ thường xuyên và liên tục, trong đó cần xây dựng các tiêu chí, tiêu
chuẩn và hình thức đánh giá GDĐĐ.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh THPT
1.5.1. Các yếu tố khách quan
Trong mục này tác giả luận văn trình bày những yếu tố ảnh hưởng tới
công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, bao gồm:
1.5.1.1. Tình hình kinh tế xã hội
1.5.1.2. Môi trường gia đình
1.5.2. Các yếu tố chủ quan
1.5.2.1. Đội ngũ giáo viên
1.5.2.2. Cán bộ quản lý
1.5.2.3. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT


11

Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH HỆ THPT Ở TTGDTX HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

2.1. Khái quát về TTGDTX Hai Bà Trưng - Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng vốn là trường BTVH Quận Hai Bà
Trưng, Quyết định số 523/ QĐ-UB trường BTVH quận Hai Bà Trưng
được chuyển thành Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng. Và quyết định
số: 5013/QĐ-UBND về việc thành lập Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Giáo dục thường xuyên trực thuộc UBND Quận.
2.1.2. Đội ngũ nhân sự
Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng hiện có tổng cộng 19 biên chế trong
đó có 2 cán bộ quản lý, 11 giáo viên và 6 nhân viên. Ngoài ra trung tâm
còn có đội ngũ giáo viên hợp đồng tham gia giảng dạy từ các trường
THPT, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội. 100% giáo viên đều đạt
chuẩn và trên chuẩn. Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên có nếp sống văn
minh, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng.
2.1.3. Cơ sở vật chất
Tổng số phòng học thường: 16; Phòng chức năng: 01; Phòng máy
tính học sinh: 01; Phòng thiết bị và y tế: 01; Thư viện: 01; Hội trường: 01;
Khu thực hành nghề nấu ăn: 01; Sân khấu được trang bị đầy đủ ánh sáng
âm thanh, quạt mát cho không gian mở dưới sân trường. Các phòng đều
được đầu tư đầy đủ trang thiết bị cần thiết cho hoạt động giáo dục.
2.1.4. Các hình thức giáo dục
Các hình thức giáo dục của trung tâm rất phong phú và đa dạng như:
Xóa mù chữ và giáo dục sau khi biết chữ; Phổ cập cấp 2; Giáo dục để lấy
văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân; Đào tạo nghề; Liên thông với
các trường đại học đào tạo cử nhân.
2.1.5. Đặc điểm học sinh
Trung tâm GDTX là mô hình giáo dục THPT không thi tuyển đầu vào,
nhưng phải đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện đầu ra. Đối tượng
tuyển sinh:


12

- Học sinh không đủ khả năng điều kiện để theo học các trường công
lập, dân lập.
- Học sinh sau một thời gian học ở các trường công lập, dân lập học
lực hoặc hạnh kiểm quá yếu, buộc phải chuyển về GDTX.
2.1.6. Đặc thù của GDTX
Quá trình giáo dục lại
2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở
Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng - Hà Nội
2.2.1. Khái quát chung về khảo sát thực trạng
2.2.1.1. Mục đích khảo sát
Để có căn cứ thực tiễn nhằm đề xuất các biện pháp quản lý sát với thực
tế, cần đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh ở Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng.
2.2.1.2 Đối tượng và quy mô khảo sát
Để có cơ sở thực tiễn, phân tích thực trạng quản lý giáo dục đạo đức, đề
tài tập trung khảo sát đối tượng sau: CBQL: 03, Cán bộ giáo viên: 13, Phụ
huynh học sinh: 50, Học sinh: 150.
2.2.1.3. Nội dung khảo sát
- Khảo sát về mức độ nhận thức thức và mức độ thực hiện của giáo viên
về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Khảo sát thực trạng vi phạm đạo đức của học sinh Trung tâm Giáo dục
thường xuyên Hai Bà Trưng làm căn cứ đề xuất nội dung giáo dục đạo đức
cho học sinh.
- Khảo sát về công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho
học sinh đã thực hiện tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Hai Bà Trưng
trong thời gian qua.
2.2.1.4. Phương pháp khảo sát
- Quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trung tâm
- Nghiên cứu kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức của cán bộ quản lý và
các bộ phận liên quan đến công tác quản lý và thực hiện giáo dục đạo đức cho
học sinh tại trung tâm.


13

- Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với Ban giám
đốc trung tâm, Bí thư đoàn, giáo viên, phụ huynh học sinh...
2.2.1.5. Phương pháp đánh giá
Tổng hợp số liệu qua các phiếu điều tra, các thông tin, ý kiến thông qua
phỏng vấn, trao đổi với các đối tượng khảo sát thể hiện qua các bảng số liệu.
2.2.2. Thực trạng biểu hiện các mặt đạo đức cho học sinh hệ THPT ở
TTGDTX Hai Bà Trưng
2.2.2.1. Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh Trung tâm GDTX
Hai Bà Trưng về các chuẩn mực đạo đức
Đa phần các em đều có những nhận thức đúng đắn về vai trò, sự cần
thiết của các phẩm chất đạo đức đối với mỗi cá nhân. Các em đã có sự
nhìn nhận đánh giá khá tích cực đối với các chuẩn mực đạo đức trong cuộc
sống, nhận thức tích cực luôn trên 70%.
2.2.2.2. Thực trạng đạo đức của học sinh Trung tâm GDX Hai Bà Trưng
Kết quả xếp loại hai mặt hạnh kiểm và học lực phản ánh rõ nhất tình trạng
đạo đức cũng như chất lượng học tập của học sinh. Số học sinh giỏi cao
nhất chỉ đạt 0,8% ở năm học 2014-2015. Học sinh được xếp loại hạnh
kiểm tốt cao nhất cũng chỉ đạt 22,5% ở năm học 2015 – 2016.
2.2.2.3. Nguyên nhân về vi phạm đạo đức của học sinh hệ THPT tại Trung
tâm GDTX Hai Bà Trưng
Khảo sát trên cả hai đối tượng giáo viên và học sinh
Ý kiến khảo sát từ giáo viên: Các nguyên nhân ẫn đến vi phạm đạo
đức của học sinh như do bạn bè lôi kéo; Do hoàn môi trường xã hội tác
động đến nhận thức, tình cảm đạo đức; Do sự bùng nổ của thông tin và
các hoạt động giải trí; Do sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa làm thay
đổi các chuẩn mực giá trị đạo đức; Thiếu sự quan tâm của gia đình;
Phương pháp giáo dục của gia đình chưa phù hợp với đối tượng chiếm
100% ý kiến tán thành. Hoạt động quản lý giáo dục đạo đức chưa hiệu quả
là 91%. Do nhận thức của các em còn hạn chế (đối tượng tự kỷ). Nhà
trường chưa coi trọng hoạt động giáo dục đạo đức, không có kế hoạch
chương trình nội dung cụ thể. Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức trong
nhà trường chưa phù hợp, chưa hấp dẫn được học sinh chiếm 81,8% ý kiến
tán thành.


14

Ý kiến khảo sát từ học sinh: Do em cảm thấy bức bối khó chịu chứ
không cố ý chiếm 79%; Do thầy cô và bố mẹ không hiểu em nên em mới
chống đối lại chiếm 87%; Khi em phạm lỗi thì hình thức xử lý cũng chỉ là
viết bản kiểm điểm rồi mời phụ huynh đến trao đổi, không đáng sợ chiếm
57%...
2.2.3. Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT ở TTGDTX
Hai Bà Trưng
2.2.3.1. Thực trạng nhận thức và mức độ thực hiện của giáo viên về công
tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Kết quả điều tra cho thấy 54,5% số người được hỏi cho rằng rất cần
thiết và 45,5% cho rằng cần thiết. Và đa số người được hỏi đều cho rằng
trách nhiệm GDĐĐ cho học sinh không thuộc riêng một mình ai, mà là sự
chung tay của tất cả các bộ phận giáo viên, nhân viên, Đoàn thanh niên,
phụ huynh học sinh, các lực lượng xã hội...
2.2.3.2. Tính hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện trong giáo dục đạo
đức cho học sinh Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng
Các biện pháp được áp dụng thường xuyên tại trung tâm là: Hoạt
động GDĐĐ cho học sinh thông qua các tiết GDCD đạt 100% trên tổng số
ý kiến người được hỏi, GDĐĐ cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt lớp
chiếm 91%, và GDĐĐ thông qua trao đổi đối thoại trực tiếp là 82%. Ở
mức độ thỉnh thoảng áp dụng nhưng chiếm tỉ lệ cao là các hình thức như:
GDĐĐ cho học sinh thông qua các giờ chào cờ đầu tuần chiếm tới 72,8;
GDĐĐ cho học sinh qua bài giảng môn học là 91%; GDĐĐ cho học sinh
qua các phong trào do Đoàn trường phát động là 81,9; GDĐĐ cho học
sinh thông qua các hoạt động xã hội từ thiện 100%; GDĐĐ cho học sinh
thông qua các buổi sinh hoạt tập thể theo chủ đề 91%; GDĐĐ cho học sinh
thông qua các hoạt động ngoại khóa là 63,8%; GDĐĐ thông qua phương
pháp nêu gương chiếm tới 72,8%. Các biện pháp chưa được thực hiện
chiếm tỉ lệ cao theo đánh giá của cán bộ giáo viên trung tâm rơi vào nhóm
các hình thức giáo dục như GDĐĐ cho học qua các hoạt động khác chiếm
tới 18,1%; GDĐĐ cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa là
18,1%... đã nói lên tính đồng bộ trong thực hiện giáo dục đạo đức cho học
sinh cũng như công tác chỉ đạo còn hạn chế.


15

2.2.3.3. Thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp trong hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh
Đội ngũ GVCN là một thế mạnh, điểm sáng của Trung tâm đóng góp
cho sự nghiệp giáo dục, tuổi của đội ngũ GVCN tương đối bằng nhau,
phân bố đủ ở các môn, vị trí công tác. Nhìn chung trong công tác giáo dục
đạo đức đội ngũ GVCN tương đối đều tay, có những biện pháp hợp lý
sáng tạo trong hoạt động quản lý điều khiển tổ chức lớp, đáp ứng cả hai
yêu cầu “cứng” và “mềm” trong trong hoạt động sư phạm. Tuy nhiên các
hoạt động giáo dục đạo đức của GVCN chỉ dừng lại trong phạm vi lớp,
chưa có sự liên kết thống nhất đồng bộ mà mạnh ai nấy làm, chưa tạo ra
được sức mạnh tổng hợp.
2.2.3.4. Thực trạng sự phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh tại Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng
Việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đã được thực hiện,
nhưng chưa chặt chẽ hiệu quả mang lại chưa cao, còn nhiều vướng mắc cần
giải quyết. Giữa gia đình và nhà trường phối hợp với nhau để giáo dục con em
còn em còn mang tính hình thức chiếm tới 90,9% ý kiến tán đồng. Sự phối
hợp giữa gia đình nhà trường chỉ xảy ra khi có hành vi vi phạm đạo đức
chiếm 100% ý kiến tán đồng và giữa gia đình với nhà trường chưa có sự phối
hợp thường xuyên chiếm 90,9% ý kiến tán đồng. Đoàn thanh niên chưa tham
gia phối hợp chiếm tới 54,5% ý kiến tán thành. Đội ngũ GVCN vẫn là một
thế mạnh của trung tâm, có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với gia đình
chiếm 81,8%.
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hệ
THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng
2.3.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh
hệ THPT ở TTHGTX Hai Bà Trưng
Khảo sát trên cả hai đối tượng:
- Cán bộ quản lý: Nhà trường đã chủ động xây dựng kế hoạch quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh. Tập trung xây dựng kế hoạch giáo dục đạo
đức cả năm học là 100%, công tác xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo
đức cho cả một học kỳ và từng tháng là 33% và được xây dựng dựa trên các
ngày lễ lớn của đất nước; Được xây dựng khi có tình huống đạo đức phát
sinh; Được xây dựng dựa trên các đợt thi đua theo chủ đề chiếm 67%.


16

- Cán bộ giáo viên: 91% ý kiến cho rằng kế hoạch còn chung chung,
chưa rõ ràng, những kế hoạch đưa ra mới là những gạch đầu dòng chính
trong việc GDĐĐ, chưa xây dựng thành những nhiệm vụ, nội dung cụ thể.
2.3.2. Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hệ
THPT ở TTHGTX Hai Bà Trưng
Khảo sát trên cả hai đối tượng:
- Cán bộ quản lý: Tổ chức phân công các lực lượng giáo dục trong
trung tâm tham gia hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hợp lý, đúng
chức năng nhiệm vụ, đồng đều ở các lực lượng. GVCN và giáo viên
GDCD mức độ tham gia thường xuyên là 100%, giáo viên bộ môn, Đoàn
Thanh niên là 67%. Trong đó các lực lượng giáo dục khác tham gia thực
hiện kế hoạch giáo dục đạo đức chỉ dừng lại ở mức độ thỉnh thoảng chiếm
100%.
- Cán bộ giáo viên: 9,1% cho rằng triển khai kịp thời, đầy đủ, chính
xác đúng đối tượng. Trong khi đó 72,7% cho rằng không kịp thời và
18,2% nhận xét là không có kế hoạch từ trước, chỉ khi có tình huống đạo
đức mới triển khai.
2.3.3. Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh hệ
THPT ở TTHGTX Hai Bà Trưng
Khảo sát trên cả hai đối tượng:
- Cán bộ quản lý: Chỉ đạo giáo viên bộ môn lồng ghép nội dung giáo
dục đạo đức qua bài giảng môn học và Chỉ đạo giáo viên môn GDCD tăng
cường giáo dục chuẩn mực và hành vi đạo đức cho học sinh ở mức bình
thường là 100% ý kiến tán đồng. Chỉ đạo Đoàn Thanh niên tham gia
GDĐĐ cho học sinh và chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm tăng cường hoạt động
GDĐĐ cho học sinh được đánh giá ở mức độ tốt là 67%, bình thường là
33%. Và hoạt động chỉ đạo phối hợp các lực lượng khác trong trung tâm
tham gia GDĐĐ cho học sinh ở mức bình thường là 100%.
- Cán bộ giáo viên: 81,8% ý kiến nhận xét là trung bình là 18,% cho
là chưa tốt.
2.3.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh hệ THPT ở TTGTX Hai Bà Trưng
Khảo sát trên cả hai đối tượng:


17

- Cán bộ quản lý: Việc đánh giá kết quả giáo dục đạo đức đã dựa trên
các mặt hoạt động của Trung tâm.
- Cán bộ giáo viên: 9% cho rằng đã công bằng hợp lý, và 91% cho
rằng chưa công bằng còn nhiều bất cập.
2.3.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý giáo dục
đạo đức cho học sinh hệ THPT ở TTGTX Hai Bà Trưng
Trao đổi trực tiếp với PHHS do những điều kiện khách quan lẫn chủ
quan mà nhiều khi phụ huynh học sinh chưa quan tâm tới con em mình, bỏ
bê hoặc quan tâm không đúng cách.
Đội ngũ cán bộ giáo viên tại Trung tâm đều nhiệt tình trong công tác,
nhưng có một hạn chế là nhà xa Trung tâm. Nên khi có tình huống đạo đức
phát sinh rất khó để họ trực tiếp giải quyết ngay được
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh hệ THPT tại TTGDTX Hai Bà Trưng
2.4.1 Những ưu điểm
Đảng ủy, chính quyền địa phương quan tâm tới công tác GDĐĐ cho
học sinh, việc phối hợp các lực lượng trong công tác GDĐĐ bước dầu đã
có chuyển biến tốt đẹp.
Đội ngũ GVCN được coi là một điểm mạnh của trung tâm là lực
lượng cốt cán giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả GDĐĐ tại
trung tâm nói riêng và ngành giáo dục thủ đô nói chung.
Trung tâm đã xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo các cuộc vận động
“học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động
“Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”... nhiều buổi chuyên
đề, thảo luận góp ý kiến cho công tác chủ nhiệm.
Học sinh đa phần các em đều có nhận thức đúng về tầm quan trọng
của việc rèn luyện đạo đức, thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống.
Các nguồn tài liệu về GDĐĐ cho học sinh lẫn kinh nghiệm thực tế tại
trung tâm là rất phong phú.
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế
Số lượng cán bộ giáo viên ít, nhiều giáo viên nhà xa, cách trung tâm
hơn 60km cả đi lẫn về, nhiều người còn vất vả vì cuộc sống mưu sinh còn
phải đi thuê nhà nên hạn chế nhiều trong hoạt động GDĐĐ.


18

Chất lượng đầu vào của học sinh còn thấp hơn rất nhiều so với mặt
bằng chung của các trường phổ thông.
Công tác xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh theo học kì và
tháng chưa được thực hiện thường xuyên.
Thiếu sự phối hợp từ phía gia đình học sinh trong hoạt động GDĐĐ.
Hoạt động của Đoàn Thanh niên chưa hấp dẫn, thu hút được học
sinh.
Kiểm tra đánh giá chưa tạo ra động lực thúc đẩy GDĐĐ phát triển.
2.5. Nguyên nhân của những tồn tại trên
Nền kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập văn hóa đã ảnh hưởng, len
lỏi tới mọi ngóc ngánh của đời sống. Tạo ra lối sống ích kỷ, hưởng thụ
lạnh lùng và vô cảm.
Gia đình chưa quan tâm đúng mức đến con cái.
Một số bộ phận giáo viên chưa thực sự quan tâm đến công tác
GDĐĐ cho học sinh.
Đoàn Thanh niên chưa phát huy hết vai trò sức mạnh của mình.
Công tác quản lý còn gặp nhiều vướng mắc, mục tiêu kế hoạch chưa
bám sát thực tế.


19

Chương 3
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH HỆ THPT Ở TTGDTX HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

3.1. Các nguyên tắc
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng
được quán triệt dựa trên những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
- Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
- Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
3.2. Một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh hệ THPT
ở TTGDTX Hai Bà Trưng
Nhằm thực hiện hiệu quả công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học
sinh, luận văn đê xuất sáu biện pháp quản lý hoạt động, trong mỗi biện pháp
đều nêu cụ thể mục đích, nội dung, cách tổ chức và diều kiện thực hiện
bao gồm:
3.2.1. Tăng cường xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện kế
hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh
Xây dựng tốt kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức giúp công tác
quản lý của Ban Giám đốc thuận lợi thông suốt đạt hiệu quả cao tránh tình
trạng chồng chéo. Đồng thời giúp Ban Giám đốc chủ động định hướng
trước các tình huống nội dung, biện pháp, thời gian, giúp xây dựng tốt cơ
chế phối hợp các lực lượng để thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục đạo
đức học sinh trong suốt năm học, tránh được sự tùy tiện, cảm tính và bị
động trong hoạt động giáo dục toàn diện nhà trường.
3.2.2. Bồi dưỡng công tác giáo viên chủ nhiệm về giáo dục đạo đức cho
học sinh
Giúp Ban Giám đốc trung tâm lựa chọn đúng, bồi dưỡng tốt nhằm xây
dựng được một đội ngũ GVCN có phẩm chất đạo đức tốt, lương tâm trong
sáng, nhân cách hoàn thiện, vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, tâm
huyết với nghề


20

3.2.3. Tăng cường quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục: Giữa
nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học
sinh hệ THPT ở TTGDTX Hai Bà Trưng
Phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhà trường – gia đình và xã
hội, tạo ra chu trình khép kín trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
3.2.4. Chỉ đạo tích hợp giáo dục đạo đức thông qua dạy học môn học và
các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Đa dạng hóa môi trường giáo dục khi tiến hành các hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh; tạo ra nhiều cơ chế hoạt động nền tảng đáp ứng
việc truyền tải chuẩn mực đạo đức đảm bảo tính toàn diện nội dung giáo
dục theo mong muốn của nhà giáo dục và nhu cầu của đối tượng giáo dục
là điều cần thiết.
3.2.5. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động giáo
dục đạo đức học sinh hệ THPT
Nhà quản lý giáo dục biết được các tổ chức, cá nhân trong cơ quan
thực hiện các nhiệm vụ được giao ở mức nào. Đồng thời nhận định các kế
hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh đã phù hợp với thực tế của trung tâm
chưa.Đưa các hoạt động giáo dục đạo đức của trung tâm đi vào nề nếp
3.2.6. Tăng cường xây dựng và hoàn thiện nội quy cho học sinh tại
Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng
Tạo ra môi trường lành mạnh trong giáo dục, đưa các hoạt động của
học sinh đi vào nề nếp.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức
Các biện pháp trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ
sung cho nhau. Mỗi biện pháp là một mắt xích quan trọng; biện pháp này
là cơ sở, tiền đề cho biện pháp kia và ngược lại. Sự vận dụng linh hoạt các
biện pháp sẽ tạo ra môi trường hoạt động tốt, các hoạt động giáo dục đạo
đức sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần hình thành những chuẩn mực đạo đức
càn thiết cho học sinh. Đồng thời tạo ra môi trường giáo dục tiến bộ bền
vững và thân thiện, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Trung tâm với
gia đình và xã hội.


21

3.4. Khảo nghiệm tính hợp lý và khả thi của biện pháp quản lý giáo
dục đạo đức cho học sinh
Kết quả điều tra cho thấy dù cách nhìn nhận của đối tượng khảo sát
theo các hướng khác nhau nhưng nhìn chung các ý kiến đều thống nhất
cao sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp. Vì qua sáu biện pháp mà
luận văn đề cập đã thể hiện rõ tính linh hoạt, mềm dẻo trong việc vận dụng
sao cho phù hợp với điều kiện của từng cơ sở giáo dục trên địa bàn.
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả
thi các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh tại
Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng
Tính cần thiết (%)
Các biện pháp
quản lí công tác Rất cần
Cần
Không
TT
giáo dục đạo đức thiết
thiết cần thiết
học sinh
SL % SL % SL %
Tăng cường xây
dựng kế hoạch và
tổ chức chỉ đạo
1 thực hiện kế 11 100 0
0
0
0
hoạch giáo dục
đạo đức cho học
sinh.
Bồi dưỡng năng
lực giáo dục đạo
2
9 81,8 2 18,2 0
0
đức cho giáo viên
chủ nhiệm
Tăng cường quản
lý việc phối hợp
các lực lượng giáo
dục: Giữa nhà
trường với gia
3
10 90,9 1 9,1 0
0
đình và xã hội
trong công tác
giáo dục đạo đức
học sinh hệ THPT
ở TTGDTX Hai

Tính khả thi (%)
Rất khả
Không
Khả thi
thi
khả thi
SL % SL % SL %

8 72,7 3 27,3 0

0

8 72,7 2 18,2 1

9,1

7 63,6 3 27,3 1

9,1


22
Tính cần thiết (%)
Các biện pháp
quản lí công tác Rất cần
Cần
Không
TT
giáo dục đạo đức thiết
thiết cần thiết
học sinh
SL % SL % SL %
Bà Trưng.
Chỉ đạo tăng
cường tích hợp
giáo dục đạo đức
thông qua dạy
4
8 72,7 2 18,2 1 9,1
học môn học và
các hoạt động
giáo dục ngoài
giờ lên lớp.
Tăng cường xây
dựng và hoàn
thiện nội quy cho
5
10 90,9 1 9,1 0
0
học
sinh
tại
Trung tâm GDTX
Hai Bà Trưng.
Đổi mới công tác
kiểm tra, đánh giá
và thi đua, khen
6 thưởng cho hoạt 11 100 0
0
0
0
động giáo dục
đạo đức trong
Trung tâm.

Tính khả thi (%)
Rất khả
Không
Khả thi
thi
khả thi
SL % SL % SL %

9 81,8 1

9,1

1

9,1

9 81,8 2 18,2 0

0

9 81,8 2 18,2 0

0


23

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Luận văn đã được hoàn thành, các nhiệm vụ nghiên cứu đã được thực
hiện và đi tới những kết luận sau đây:
- Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là một công tác hết sức quan
trọng, cần thiết tại một môi trường mà đối tượng đa phần đều thiếu các
chuẩn mực đạo đức thông thường như ở Trung tâm giáo dục Hai Bà
Trưng. Đó là quá trình thông qua các hoạt động dạy học, giáo dục và sinh
hoạt tập thể của nhà trường nhằm hình thành cho học sinh chuẩn mực đạo
đức, xây dựng niềm tin tình cảm đạo đức từ đó thôi thúc biểu hiện thành
hành vi đạo đức.
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được tiến hành gắn
liền với bốn chức năng của hoạt động quản lý đó là lập kế hoạch giáo dục
đạo đức, tổ chức các lực lượng thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức, chỉ đạo
thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức và kiểm tra đánh giá kết quả giáo
dục đạo đức cho học sinh. Quản lí công tác giáo dục đạo đức đòi hỏi người
cán bộ quản lí phải có hệ thống kiến thức về khoa học quản lí, vận dụng một
cách linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thực tế tại cơ sở giáo dục.
- Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng đã tiến hành các hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh và đã đạt được những kết quả nhất định. Sau một
thời gian tu dưỡng và rèn luyện các em đã trang bị cho mình những giá trị
đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội, sống nhân hậu, tình người hơn rất
nhiều.Tuy nhiên vẫn còn một số điều bất cập như: việc đánh giá đạo đức
học sinh còn mang tính hình thức, chủ yếu là biểu hiện chấp hành các nội
quy trường lớp, chưa quan tâm giáo dục toàn diện. Các lực lượng giáo dục
trong nhà trường chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm; nội dung giáo
dục đạo đức học sinh chưa phong phú, còn phiến diện, hình thức còn chậm
đổi mới.
- Luận văn đề xuất 6 biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là: Tăng cường xây
dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho
học sinh. Bồi dưỡng năng lực giáo dục đạo đức cho giáo viên chủ nhiệm.
Quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục: Giữa nhà trường với gia
đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh hệ THPT ở
TTGDTX Hai Bà Trưng. Chỉ đạo tăng cường tích hợp giáo dục đạo đức
thông qua dạy học môn học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Tăng cường xây dựng và hoàn thiện nội quy cho học sinh tại Trung tâm


24

GDTX Hai Bà Trưng. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá và thi đua,
khen thưởng cho hoạt động giáo dục đạo đức trong trung tâm.
Các biện pháp đều có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau.
Mỗi biện pháp đều có mục đích, nội dung, cách thức và điều kiện thực
hiện. Sau khi khảo nghiệm cả 6 biện pháp đề xuất đều được đánh giá là
cần thiết và khả thi, phù hợp với điều kiện hiện tại của Trung tâm GDTX
Hai Bà Trưng. Các biện pháp đã đề xuất khi áp dụng vào thực tiễn cần có
sự tham gia thực đầy tâm huyết, trách nhiệm của các cá nhân, tập thể
trong và ngoài nhà trung tâm thì mới phát huy được hiệu quả giáo dục cao.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
- Xây dựng giáo trình và phân phối chương trình giáo dục đạo đức cho
học sinh theo từng khối lớp, cấp học.
- Tổ chức thường xuyên các buổi chuyên đề, bồi dưỡng chuyên môn
dành cho cán bộ quản lý, cán bộ chuyên trách và giáo viên
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động giáo đục đạo đức
cho học sinh tại cơ sở giáo dục.
2.2. Đối với Trung tâm GDTX Hai Bà Trưng
- Ban Giám đốc trung tâm cần quan tâm đúng mức đối với công tác
GD đạo đức, cần đầu tư xây dựng kế hoạch GD đạo đức học sinh trong
nhà trường một cách khoa học và hiệu quả.
- Cán bộ quản lý cần chủ động nâng cao năng lực quản lý. Thường
xuyên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức để giáo dục học
sinh, nhằm thu hút người học tham gia học tập rèn luyện một cách tích
cực. Dành thời gian và nguồn tài chính hợp lý cho hoạt động giáo dục đạo
đức. Chú trọng tạo điều kiện hơn nữa tới lực lượng nòng cốt như: Cố vấn
đoàn, tổ trưởng chuyên môn...
- Thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại hạn kiểm cho học sinh
của GVCN, qua đó nắm bắt một cách sâu sát tình hình GD đạo đức cũng
như ý thức rèn luyện của học sinh trong nhà trường.
- Ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, tự bồi dưỡng nâng cao
năng lực trông công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Vận dụng có hiệu quả, hợp lý nội dung giáo dục đạo đức vào trong
bài học của môn do mình đứng lớp.
- Xây dựng mối quan hệ thân thiết, gần gũi, trở thành người bạn tin
cậy của học sinh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×