Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp khoa kinh tế và kế toán (41)

Đề tài: Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ
Phần Thương Mại và Dịch Vụ Lắp máy Vạn Xuân.
Phần I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiêu thụ hàng hóa là vấn đề quan trọng hàng đầu trong các doanh nghiệp
thương mại. Việc tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại là chiếc cầu nối
và là khâu trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng, từ đó sẽ ra các quyết
sách định hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay khi mà thị trường phát triển rất năng động, các doanh nghiệp
hoạt động với sự cạnh tranh gay gắt, để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp nhất
định phải xây dựng được những phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế. Muốn
vậy, các doanh nghiệp phải có biện pháp giám sát chặt chẽ tất cả các quy trình từ
khâu mua hàng đến khâu tiêu thụ hàng hóa để đảm bảo việc bảo toàn và tăng tốc
đọ luân chuyển vốn, giữ uy tín với khách hàng, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với
Nhà Nước.
Trong mô hình chung của quản lý kinh tế, kế toán với chức năng của nó là một
công cụ đắc lực và không thể thiếu ở bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào, gắn
liền với hoạt động tài chính, đảm nhận hệ thống tổ chức thông tin, làm căn cứ cho
cấp lãnh đạo đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời. Đối với một doanh nghiệp
thương mại sẽ được coi là đạt hiệu quả kinh doanh khi cung cấp sản phẩm hàng
hoá theo nhu cầu của thị trường chứ không phải cung cấp một cách ồ ạt, theo

phong trào. Vì vậy, dựa trên thông tin do kế toán cung cấp, nhà quản lý cần nắm rõ
điểm mạnh, điểm yếu, rủi ro, cơ hội của doanh nghiệp mình trên thị trường. Để
nắm rõ vấn đề đó thì việc đặt ra những câu hỏi cho bản thân doanh nghiệp như:"
Khách hàng doanh nghiệp muốn hướng tới là ai ?; Thị trường tiềm năng cho các
sản phẩm của doanh nghiệp là thị trường nào ?; Đối thủ cạnh tranh của doanh


nghiệp là ai ?; Xu hướng phát triển của những loại sản phẩm mà doanh nghiệp
đang cung cấp là gì ?... " Từ đó xác định câu trả lời cụ thể để có chiến lược kinh
doanh đạt hiệu quả cao.
Từ những yêu cầu trên, đồng thời kết hợp với thời gian thực tập tại phòng kế
toán Công ty Cổ Phần Thương Mại Và Dịch Vụ Lắp máy Vạn Xuân với hoạt động
kinh doanh chính là ‘ bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác’ bản thân
em thấy rõ được tấm quan trọng và sự cần thiết của công tác kế toán bán hàng và
xác định kết quả bán hàng tại Công ty. Chính vì vậy em xin lựa chọn nghiên cứu đề
tài ‘‘Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ
Phần Thương Mại và Dịch Vụ Lắp máy Vạn Xuân’’.


1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phản ánh thực trạng kế toán bán hàng và kết quả hoạt động bán hàng của
Công ty Cổ Phần Thương Mại và Dịch Vụ lắp máy Vạn Xuân. Trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và nhằm
nâng cao kết quả hoạt động bán hàng của Công ty.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa một số cơ sở lí luận và thực tiễn về kế toán bán hàng và
xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp.
- Phản ánh thực trạng tình hình tổ chức kế toán bán hàng và xác định
kết quả của hoạt động bán hàng ở Công ty Cổ Phần Thương Mại và
Dịch Vụ Lắp máy Vạn Xuân.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và nâng cao kết
quả hoạt động bán hàng cho Công ty.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến kế toán bán
hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ Phần Thương Mại và
Dịch Vụ Lắp máy Vạn Xuân.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: đề tài được nghiên cứu tại Công ty Cổ Phần Thương


Mại và Dịch Vụ lắp máy Vạn Xuân. Địa chỉ, Số 8, ngõ 90 phố Hoàng Ngân,
quận Cầu Giấy, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ 29/01/2016 đến 30/05/2016. Số
liệu công tác bán hàng và kết quả bán hàng của Công ty được thu thập trong
3 năm (từ 2013 đến 2015).
- Phạm vi nội dung: đề tài chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tổ
chức, hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ Phần
Thương Mại và Dịch Vụ Lắp máy Vạn Xuân.

PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu


2.1.1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động bán hàng
2.1.1.1. Khái niệm hoạt động bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Thông qua hoạt động bán hàng vốn của doanh nghiệp chuyển từ
hình thái hiện vật (hàng hóa) sang hình thái giá trị (tiền tệ), do vậy doanh nghiệp
thu hồi được vốn bỏ ra bù đắp chi phí và có nguồn vốn tích lũy để mở rộng hoạt
động kinh doanh.
Bản chất của quá trình bán hàng là quá trình trao đổi quyền sở hữu giữa
người mua và người bán trên thị trường. Hàng hóa bán ra cho các cá nhân tổ chức
bên ngoài doanh nghiệp được gọi là bán ra bên ngoài, còn hàng hóa cung cấp cho
các đơn vị trong công ty được gọi là bán nội bộ.
2.1.1.2. Vai trò của hoạt động bán hàng
 Đối với doanh nghiệp: tiêu thụ là quá trình chuyển hóa vốn từ hiện vật sang
giá trị, thông qua tiêu thụ doanh nghiệp thu hồi được vốn ban đầu. Với
khoản vốn ban đầu nhận lại doanh nghiệp gọi đó là doanh thu bán hàng, đây
là nguồn để doanh nghiệp bù đắp chi phí đã bỏ ra, trả lương cho người lao
động, làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, đảm bảo doanh nghiệp có thể tái xuất
mở rộng. Đồng thời thông qua hoạt động bán hàng giúp cho doanh nghiệp có
cơ sở điều chỉnh mặt hàng lĩnh vực kinh doanh theo nhu cầu của thị trường.
 Đối với nền kinh tế: tiêu thụ là cơ sở cân đối sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền
và hàng trong lưu thông. Trong nền kinh tế hiện nay, tiêu thụ hay còn gọi là
đầu ra của doanh nghiệp này và là đầu vào của các doanh nghiệp khác thông
qua mối quan hệ mật thiết trong sản xuất lưu thông. Do vậy mà mỗi doanh
nghiệp có vai trò nhất định trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế
ngày càng phát triển.
2.1.1.3. Phương thức bán hàng, phương thức thanh toán
a) Phương thức bán hàng
hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng một số phương thức bán hàng sau:
 Phương thức bán buôn


Bán buôn hàng hóa được hiểu là hình thức bán hàng cho người mua trung
gian để họ tiếp tục chuyển bán cho các nhà sản xuất. Có hai hình thức bán
buôn
- Hình thức bán buôn qua kho: là phương thức bán mà ở đó hàng bán
được xuất ra từ kho của doanh nghiệp. Trong hình thức này có hai
dạng chủ yếu sau:
+ Giao hàng trực tiếp: theo hình thức này bên mua cử đại diện đến
doanh nghiệp để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao
trực tiếp cho đại diện bên mua, sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng
hóa, đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán, hàng hóa sẽ được
chấp nhận là tiêu thụ. Hình thức này được áp dụng khá hiệu quả với
các doanh nghiệp thương mại có hàng hoá bán buôn lớn nhưng không
chủ động về mặt phương tiện vận tải.
+ Chuyển hàng: theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết
hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, bằng
phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài, chuyển hàng cho bên
mua tại nơi đã thỏa thuận. Hàng hóa được chuyển bán vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số hàng này được xác định là tiêu
thụ khi nhận được tiền bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua
đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.
- Hình thức bán buôn vận chuyển thẳng: theo hình thức này doanh
nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho mà
chuyển án thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo
hai hình thức
+ Giao hàng tay ba: theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua
hàng, nhận hàng mua và giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại
kho người bán. Sau khi nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên
mua đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hoá lúc
này được xác định là tiêu thụ và kế toán ghi nhận là doanh thu bán


hàng. Hình thức này rất phổ biến ở các doanh nghiệp thương mại
không có kho chứa hàng hoá nhưng lại nắm trong tay những thông tin
khá tốt về nguồn hàng và khách hàng.
+ Vận chuyển hàng: theo hình thức này doanh nghiệp sau khi mua
hàng, bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài, sẽ chuyển
hàng đến giao cho bên mua ở một địa điểm đã được thỏa thuận theo
hợp đồng ký kết. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi đã nhận được hàng hoặc
chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ.
 Phương thức bán lẻ
Đây là phương thức bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng. Bán lẻ thông
thường với số lượng ít, giá bán thường không ổn định, các mặt hàng thường
mang tính thời vụ. Có 3 hình thức bán lẻ sau:
- Bán lẻ thu tiền tập trung: theo phương thức này việc thu tiền của người
mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Nhân viên thu ngân làm
nhiệm vụ thu tiền cho khách, viết hóa đơn hoặc tích kê cho khách để giao
hàng nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca, hết ngày
bán, nhân viên bán hàng căn cứ vào hóa đơn, tích kê giao cho khách hàng
hoặc kiểm kê hàng hóa tồn quầy để xác định lượng hàng đã bán trong
ngày, trong ca để lập báo cáo hay bảng kê bán hàng. Nhân viên thu tiền
nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền.
- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: theo hình thức này nhân viên bán
hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách. Hết ca, hết
ngày bán, nhân viên bán hàng nộp tiền cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền
bán hàng. Sau đó kiểm kê hàng hóa tồn quầy và lập báo cáo bán hàng.
- Hình thức bán lẻ tự phục vụ: theo hình thức này khách hàng sẽ tự chọn lấy
hàng hóa, mang đến bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu
tiền lập hóa đơn bán hàng và thu tiền hàng của khách hàng. Nhân viên bán
hàng có trách nhiệm hướng dẫn, bảo quản hàng hóa ở quầy hàng do mình phụ


trách. Hình thức bán hàng này được tổ chức chủ yếu tại các siêu thị, hình thức
này khá phổ biến hiện nay.
 Phương thức bán hàng đại lý
- Đại lý hưởng hoa hồng: là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện
việc mua, bán hàng theo giá mua, giá bán do bên giao đại lý ấn định
để được hưởng hoa hồng. Mức hoa hồng được tính theo tỷ lệ phần
trăm do các bên thỏa thuận trên giá mua, giá bán hàng hóa.
- Đại lý bao tiêu sản phẩm, dịch vụ (hay còn gọi là đại lý mua đưats bán
đoạn): là hình thức đại lý phổ biến mà bên đại lý thực hiện việc mua,
bán trọn vẹn một khối lượng theo giá do bên giao đại lý ấn định để
được hưởng thù lao theo quy định của công ty mở đại lý. Mức thù lao
mà đại lý được hưởng là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán thực tế
so với giá bán do bên giao hàng cho đại lý ấn định hoặc thỏa thuận
- Đại lý độc quyền: là hình thức đại lý mà tại một khu vực nhất định, có
thể là trên quy mô toàn quốc hay quy mô khu vực. Bên giao đại lý chỉ
giao cho một đại lý độc quyền việc mua, bán một hoặc một số mặt
hàng.
- Tổng đại lý mua bán hàng hóa: là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ
chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng
hóa cho bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực
thuộc. Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý
và với danh nghĩa của tổng đại lý.
 Các phương thức khác:
- Bán hàng trả chậm, trả góp: là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần,
người mua thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua
chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Doanh
nghiệp chỉ hạch toán vào TK 511- phần doanh thu bán hàng thông thường. Phần lãi
trả chậm được coi như một khoản thu nhập hoạt động tài chính và hạch toán vào
bên có TK 515- Thu nhập từ hoạt động tài chính.


- Phương thức bán hàng trao đổi: theo phương thức này, doanh nghiệp bán
cho khách hàng và đổi lại khách hàng giao cho doanh nghiệp vật tư, hàng tương
đương. Phương thức này có thể chia làm ba trường hợp:
(1) Xuất kho lấy hàng ngay; (2) Xuất hàng trước lấy vật tư, hàng hóa sau; (3)
Nhận hàng trước, xuất hàng trả.
b) Phương thức thanh toán
Các phương thức thanh toán tiền hàng thể hiện sự tín nhiệm lẫn nhau giữa
các đối tác đồng thời cho thấy sự vận động giữa hàng hoá và giá vốn đảm bảo cho
cả hai bên đều có lợi. Do vậy mà việc quản lý tiền hàng rất quan trọng trong công
tác kế toán, quản lý tốt sẽ tránh được hiện tượng chiếm dụng vốn, tạo điều kiện
quay vòng vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Có
hai hình thức thanh toán tiền hàng cơ bản đó là:
- Thanh toán bằng tiền mặt: theo phương thức này việc chuyển giao quyền sở
hữu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng và việc thu tiền được thực hiện đồng
thời và người bán sẽ nhận được ngay số tiền mặt tương ứng với số hàng mà mình đã
bán.
- Thanh toán không dùng tiền mặt: là hình thức thanh toán được thực hiện
thông qua việc chuyển bút toán trên tài khoản tiền gửi ngân hàng của các đơn vị,
các doanh nghiệp. Có nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác nhau
tùy thuộc vào từng thương vụ, từng loại khách hàng mà việc thanh toán có thể thực
hiện theo một số hình thức như: thanh toán theo hình thức chuyển tiền; Thanh toán
bằng séc; Thanh toán bằng ủy nhiệm thu- chi; Thanh toán bằng thư tín dụng;
Thanh toán bằng thẻ thanh toán; Thanh toán bù trừ.
2.1.2. Các phương pháp quản lý hàng hoá trong doanh nghiệp


Mỗi doanh nghiệp sẽ xây dựng những cách quản lý hàng hoá, sản phẩm khác
nhau dựa trên đặc thù về kinh doanh của mình. Quản lý tốt sẽ góp phần nâng khả
năng cạnh tranh của hàng hoá, sản phẩm đó trên thị trường. Với mỗi doanh nghiệp
có những cách phân loại hàng hoá, sản phẩm cụ thể (phân loại theo ngành hàng,
phân loại theo nguồn gốc hình thành, phân loại theo tiêu thức kinh doanh…) nhằm
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công tác kiểm tra, đánh giá chi tiết từng loại hàng.
Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong hai phương thức quản lý sau:
Phương pháp kiểm kê định kỳ và phương pháp kê khai thường xuyên.
2.1.2.1. Phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp này theo dõi một cách không thường xuyên về tình hình biến
động của hàng hoá. Phương pháp này chỉ theo dõi giá trị hàng hoá tồn kho đầu kỳ
và cuối kỳ trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ để xác định được lượng hàng hoá tồn thực tế.
Số lượng hàng hoá xuất trong kỳ được xác định theo công thức sau:
Số lượng hàng
đã xuất bán

Số lượng
=

hàng hóa

Số lượng
+

tồn đầu kỳ

hàng hóa

Số lượng
-

hàng hóa
tồn cuối kỳ

nhập trong kỳ

2.1.2.2. Phương pháp kê khai thường xuyên
Là phương pháp theo dõi tình hình hiện có, biến động tăng giá, giảm giá hàng
tồn kho một cách thường xuyên, liên tục trên các tài khoản, phản ánh từng loại
hàng tồn kho. Đây là phương pháp được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến hiện
nay.
Kế toán chi tiết hàng hoá: có 3 phương pháp kế toán chi tiết hàng hóa sau:
*

Phương pháp thẻ song song:


- Ở kho: Sử dụng thẻ kho để theo dõi từng danh điểm hàng hoá về mặt khối
lượng nhập, xuất, tồn.
- Ở phòng kế toán: Mở thẻ kho hoặc mở sổ chi tiết để theo dõi từng danh
điểm kể cả mặt hiện vật (khối lượng) và giá trị nhập, xuất, tồn kho.
Hàng ngày sau khi làm thủ tục nhập, xuất thì thủ kho phải căn cứ vào các
phiếu nhập, phiếu xuất để ghi vào thẻ kho của từng danh điểm và tính khối lượng
tồn kho của từng danh điểm hàng hoá. Hàng ngày hoặc định kỳ thủ kho phải
chuyển chứng từ cho kế toán hàng hoá để ghi vào các thẻ, sổ chi tiết ở phòng kế
toán cả về số lượng và giá trị.

Ta có sơ đồ sau:
Phiếu nhập kho, phiếu
xuất kho

Thẻ kho

Thẻ kế toán chi
tiết

Số kế toán tổng hợp về
hàng hoá

Bảng tổng hợp
nhập, xuất, tồn

Ghi hằng ngày
Ghi đối chiếu
Ghi cuối tháng

Sơ đồ 2.1: Hạch toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song
*

Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển


- Ở kho: thủ kho vẫn giữ thẻ kho để ghi chép tình hình nhập xuất tồn về mặt
khối lượng.
- Ở phòng kế toán: không dùng sổ chi tiết và thẻ kho mà sử dụng sổ đối
chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình nhập xuất tồn từng danh điểm nhưng chỉ
ghi một lần cuối tháng.
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu khi nhận các phiếu xuất, nhập kho do thủ
kho gửi lên, phân loại theo từng danh điểm và cuối tháng tổng hợp số liệu của từng
danh điểm để ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển một lần tổng hợp số nhập, số xuất
trong tháng ở cả hai chỉ tiêu lượng và giá trị sau đó tính ra số dư của đầu tháng sau.
Số cộng của sổ đối chiếu luân chuyển hàng tháng được dùng để đối chiếu với kế
toán tổng hợp nguyên vật liệu. Còn từng danh điểm trên sổ đối chiếu luân chuyển
được đối chiếu với thẻ kho.

Tóm tắt phương pháp qua sơ đồ sau :


Phiếu nhập
kho

Bảng kê nhập vật liệu

Thẻ kho

Sổ đối chiếu luân chuyển

Phiếu xuất
kho

Bảng kê xuất vật liệu

Bảng
tổng
hợp
nhập
xuất
tồn

Sổ kế
toán
tổng
hợp về
vật tư,
hàng
hoá

Ghi hàng ngày
Ghi đối chiếu
Ghi cuối tháng
Sơ đồ 2.2: Hạch toán chi tiết theo phương pháp đối chiếu luân chuyển.
 Phương pháp sổ số dư
- Ở kho: ngoài việc ghi chép thẻ kho giống như hai phương pháp trên, cuối
tháng sau khi tính lượng dư của từng danh điểm còn phải ghi vào sổ số dư.
- Tại phòng kế toán: không phải giữ thêm một loại sổ nào nữa nhưng định kỳ
phải xuống kiểm tra ghi chép của thủ kho, sau đó nhận các chứng từ nhập xuất
kho. Khi nhận chứng từ phải viết giấy nhận chứng từ. Các chứng từ sau khi nhận
về sẽ được tính thành tiền và tổng hợp số tiền của từng danh điểm nhập hoặc xuất
kho để ghi vào bảng kê luỹ kế nhập – xuất – tồn kho nguyên vật liệu. Cuối tháng
kế toán nhận sổ số dư ở các kho về để tính số tiền dư cuối tháng của từng danh
điểm và đối chiếu với số tiền dư cuối tháng ở bảng kê nhập - xuất - tồn kho.

Ta có sơ đồ sau:


Phiếu
nhập kho

Thẻ kho

Phiếu giao nhận
chứng từ nhậpkho

Sổ số dư

Phiếu xuất
kho

Bảng luỹ kế nhậpxuất- tồn

Sổ
kế
toán
tổng
hợp

Phiếu giao nhận
chứng từ xuất kho

Ghi hằng ngày
Ghi đối chiếu
Ghi cuối tháng

Sơ đồ 2.3 : Hạch toán chi tiết theo phương pháp số dư
Nguyên tắc đánh giá hàng hoá
Hàng hóa hiện có ở các doanh nghiệp được phản ánh trong sổ kế toán theo
giá vốn thực tế tức là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra để có số hàng hóa đó.
Sự hình thành trị giá vốn của hàng hóa đó được phân biệt ở các giai đoạn khác
nhau trong quá trình kinh doanh như:


+ Tại thời điểm mua hàng: trị giá vốn thực tế là số tiền thực tế phải trả cho
người bán (còn gọi là trị giá mua thực tế), ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp
khấu trừ thuế GTGT thì trị giá mua bên thực tế là số tiền ghi trên hóa đơn không kể
thuế GTGT trừ đi các khoản giảm giá, hàng hóa bị trả lại (nếu có). Nếu doanh
nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp thì trị giá vốn thực tế của hàng hóa là
tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT.
+ Tại thời điểm nhập kho: trị giá vốn của hàng mua nhập kho là trị giá mua
thực tế của hàng mua cộng với chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng như chi
phí vận chuyển, bốc dỡ, các chi phí về kiểm nhận nhập kho và thuế nhập khẩu,
thuế TTĐB (nếu có) …
+ Tại thời điểm xuất kho: trị giá vốn của hàng xuất kho là trị giá vốn thực tế
của hàng xuất cộng với chi phí bảo quản, chi phí bán hàng và chi phí quản lý kinh
doanh phát sinh.
Các phương pháp tính trị giá vốn của hàng xuất kho để bán:
Trị giá vốn hàng xuất kho bán có thể được tính theo những phương pháp
khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm hình thành và sự vận động của hàng hóa trong
từng loại hình doanh nghiệp, việc đăng ký phương pháp tính trị giá vốn thực tế
xuất kho của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp thương mại kinh doanh mua bán vật tư hàng hóa thì trị
giá vốn hàng hóa được xác định trị giá mua cộng với chi phí phân bổ cho số hàng
đã bán. Trị giá vốn hàng xuất kho để bán được xác định bằng công thức:
Trị giá vốn hàng hóa
xuất kho

=

Trị giá vốn thực
tế hàng mua vào

+

CP mua phân bổ cho
hàng xuất kho bán


Trong đó:
Chi phí mua

CP mua của hàng tồn đầu kỳ + CP

phân bổ cho

mua của hàng nhập trong kỳ

số hàng xuất

=

Trị giá mua
x

kho bán

của hàng

Trị giá mua hàng tồn kho đầu kỳ + trị

xuất trong

giá mua của hàng nhập trong kỳ

kỳ

Trị giá vốn của hàng hóa xuất kho được tính theo một trong các phương pháp sau:


Tính theo giá đích danh

Phương pháp này căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho
của lô hàng xuất kho để tính giá thực tế của hàng hóa xuất kho.
Theo phương pháp này, đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, theo dõi hàng
hóa tồn kho và hàng hóa xuất bán thuộc những lần mua vào. Đồng thời dùng
đơn giá của những lần mua đó để xác định trị giá vốn của hàng xuất bán. Đây là
phương pháp hợp lý nhất trong các phương pháp vì nó phản ánh trị giá xuất kho
thực tế nhất.


Tính theo đơn giá bình quân gia quyền

- Phương pháp bình quân gia quyền cố định: Theo phương pháp này, căn cứ vào
tình hình tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán tính giá vốn thực tế bình quân của
hàng hóa luân chuyển trong kỳ:
Đơn giá thanh
toán bình quân

=

Giá vốn hàng tồn đầu kỳ + Giá vốn hàng nhập trong
kỳ


SL hàng tồn đầu kỳ + SL hàng nhập trong kỳ

Trị giá vốn hàng
xuất kho trong kỳ

=

Đơn giá thanh toán
bình quân

x

SL hàng xuất kho

Việc tính giá thực tế hàng hóa xuất kho theo phương pháp này tương đối hợp
lý, không phụ thuộc vào số lần nhập kho hàng hóa nhiều hay ít, tuy nhiên phương
pháp này chỉ tiến hành vào cuối kỳ hạch toán sẽ làm khối lượng công tác kế toán
cuối kỳ tăng lên, ảnh hưởng đến việc lập quyết toán, không phản ánh được sự biến
động giá cả. Phương pháp này thích hợp khi doanh nghiệp có ít loại hàng hóa và số
lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều, giá cả ít có sự biến động.
 Tính theo phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này, giả thiết số hàng nào nhập trước sẽ được xuất trước
và lấy đơn giá mua thực tế của lần nhập đó để tính trị giá hàng hóa xuất kho bán.
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo số lượng hàng tồn kho và đơn giá của
những lô hàng nhập sau cùng.
Giá thực tế của
hàng hóa xuất kho

=

Đơn giá thực tế của
lô hàng nhập trước

SL hàng hóa
+
xuất kho

Phương pháp này dễ làm, tính toán đơn giản, tuy nhiên khối lượng công việc hạch
toán nhiều, phụ thuộc vào xu hướng giá cả trên thị trường.
2.1.3. Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
2.1.3.1. Khái niệm kế toán bán hàng
Kế toán bán hàng là nghệ thuật thu nhận, xử lý, phản ánh và cung cấp thông
tin về toàn bộ hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp nhằm cung cấp các thông tin


hữu ích cho việc ra quyết định của nhà quản lý. Đồng thời, định kỳ lập các báo cáo
bán hàng theo yêu cầu quản lý, kết hợp với các phần hành kế toán và các công cụ
quản lý khác xây dựng chiến lược bán hàng nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá đem lại lợi nhuận cao trong hoạt động bán hàng.
2.1.3.2. Yêu cầu và nhiệm vụ của kế toán bán hàng
- Kết hợp hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết, kết hợp giữa hạch toán
nghiệp vụ và hạch toán kế toán, phải đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác
thông tin về tình hình bán hàng, tiêu thụ sản phẩm theo nhiều tiêu chí khác nhau.
- Cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định
kỳ phân tích các hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng nhằm xây
dựng các báo cáo theo yêu cầu của quản lý. Các thông tin do kế toán cung cấp phải
vận dụng linh hoạt trong từng tình huống cụ thể nhưng phải tuân theo những chuẩn
mực kế toán hiện hành.
- Do tính chất quan trọng của bán hàng và xác định kết quả bán hàng cho
nên yêu cầu đặt đối với kế toán bán hàng hết sức quan trọng, nó thể hiện cụ thể ở
những nội dung sau:
+ Phản ánh đầy đủ, kịp thời, chi tiết sự biến động của hàng hoá ở tất cả các
trạng thái: hàng đi đường, hàng trong kho, trong quầy, hàng ký gửi đại lý, hàng gia
công chế biến …
+ Phản ánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế về tiêu thụ và xác định
kết quả bán hàng như số lượng bán ra, doanh thu bán hàng của hoạt động bán hàng.
+ Phản ánh kịp thời doanh thu bán hàng, đảm bảo thu đủ và đúng thời gian
trong hợp đồng để tránh bị chiếm dụng vốn.


+ Xác định đúng thời điểm tiêu thụ để lập báo cáo bán hàng và phản ánh
doanh thu. Báo cáo thường xuyên và kịp thời tình hình bán hàng, thanh toán của
khách hàng theo từng hợp đồng kinh tế nhằm giám sát chặt chẽ hàng hoá bán ra,
đôn đốc việc nộp tiền bán hàng vào quỹ.
+ Xây dựng, tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển
chứng từ đầy đủ, hợp lý, thống nhất, khoa học.
+ Xác định đúng và tập hợp chi phí liên quan tới hoạt động bán hàng phát
sinh trong kỳ để tiến hành phân bổ chi phí cho tiêu thụ một cách hợp lý.
+ Đánh giá được từng mặt hàng, nhóm hàng tiêu thụ trong các kỳ để xây
dựng chính sách chiết khấu, giảm giá hợp lý cho từng mặt hàng, nhóm hàng đó
trong các kỳ tiếp theo để tăng doanh thu bán hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh
của công ty trên thị trường.
- Ghi chép, phản ánh chính xác, đầy đủ khối lượng hàng đã giao cho các cửa
hàng, đại lý, chi nhánh tiêu thụ. Số hàng gửi bán và tình hình tiêu thụ số hàng đó
để phản ánh kịp thời giá vốn, làm cơ sở cho việc tính chỉ tiêu lợi nhuận gộp, lợi
nhuận thuần cùng doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu, chi phí bán hàng để
từ đó xác định chỉ tiêu doanh thu thuần cũng như lợi tức thuần về tiêu thụ.
- Hướng dẫn các đại lý, cửa hàng ghi chép chứng từ, sổ sách quầy hàng quản
lý, giúp cho việc điều hành quản lý kinh doanh.
- Phản ánh, kiểm tra, phân tích tiến độ thực hiện kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch
lợi nhuận, đồng thời ghi chép, tính toán các chỉ tiêu cần thiết để lập báo cáo kết quả
kinh doanh.
2.1.3.3. Nội dung tổ chức kế toán bán hàng
Tổ chức kế toán bán hàng có hợp lý và khoa học thì mới có thể nâng cao kết


quả bán hàng. Với từng phương thức bán hàng, yêu cầu của quản lý là phải tổ chức
một hệ thống kế toán bán hàng ở các đơn vị, chi nhánh tới tổng công ty sao cho
phù hợp với đặc điểm kinh doanh, quy mô nhân sự của công ty mình. Tổ chức kế
toán bán hàng bao gồm hai nội dung chính sau:
a) Tổ chức bộ máy
Tổ chức bộ máy kế toán bán hàng là việc bố trí nhân sự một cách hợp lý và
khoa học với hoạt động tiêu thụ của công ty. Công ty có thể lựa chọn cho mình một
trong ba cách tổ chức kế toán bán hàng dưới đây sao cho phù hợp với quy mô
và đặc điểm tiêu thụ của công ty:
+ Tổ chức kế toán bán hàng theo hình thức tập trung:
Toàn bộ công tác kế toán bán hàng được tiến hành tập trung tại phòng tài
chính kế toán của công ty. Còn ở các chi nhánh, cửa hàng bố trí những nhân viên
bán hàng làm công tác kế toán ban đầu, thu nhận kiểm tra chứng từ, sau đó tiến
hành thu thập đầy đủ chứng từ chuyển về phòng tài chính kế toán công ty để nhân
viên kế toán bán hàng xử lý và tiến hành công tác kế toán.
Hình thức tổ chức này phù hợp với phương thức bán lẻ ở những công ty có
nhiều cửa hàng, chi nhánh, và ở những công ty có các chi nhánh tập trung gần công
ty mẹ, phần lớn những công ty sử dụng các phương tiện quản lý hiện đại.
+ Tổ chức kế toán bán hàng theo hình thức phân tán:
Hình thức này công tác kế toán bán hàng được tiến hành ở phòng tài chính
kế toán của tổng công ty và ở bộ phận kế toán ở các đơn vị, chi nhánh thuộc công
ty. Dựa vào báo cáo của các bộ phận, chi nhánh gửi lên trên cơ sở thống nhất nội
dung kế toán bán hàng do kế toán trưởng (hoặc kế toán bán hàng) của tổng công ty


đưa ra, kế toán bán hàng sẽ phản ánh các nghiệp vụ liên quan đến bán hàng mang
tính chất chung của toàn công ty, lập báo cáo theo yêu cầu của quản lý. Đồng thời
thực hiện việc hướng dẫn , kiểm tra kế toán ở các bộ phận, chi nhánh.
Hình thức này phù hợp với phương thức bán buôn, bán lẻ ở các công ty lớn
có quy mô rộng khắp trên cả nước.
+ Tổ chức kế toán bán hàng theo hình thức tập trung – phân tán
Với hình thức này là sự kết hợp của hai hình thức trên, tại tổng công ty sẽ có
một phòng kế toán trung tâm thực hiện kế toán các nghiệp vụ kinh tế liên quan tới
toàn công ty. Các bộ phận kế toán trong đó bộ phận kế toán bán hàng không tổ
chức kế toán nhưng đồng thời thực hiện tổng hợp các tài liệu kế toán bán hàng ở
các bộ phận kế toán chi nhánh, đơn vị cấp dưới phụ thuộc gửi đến, lập báo cáo bán
hàng chung toàn đơn vị, hướng dẫn, kiểm tra toàn bộ công tác kế toán bán hàng,
kiểm tra nhân viên kế toán bán hàng ở tất cả các chi nhánh. Kế toán bán hàng ở chi
nhánh ngoài nhiệm vụ là kế toán họ còn đảm nhận nhiệm vụ là nhân viên bán hàng
với việc thực hiện công tác kế toán tương đối hoàn chỉnh ở chi nhánh của mình thì
họ còn đảm nhận công việc của một nhân viên bán hàng.
Hình thức này phù hợp với phương thức bán buôn và bán lẻ của những công
ty có quy mô rất lớn nhưng các bộ phận phụ thuộc có sự phân cấp quản lý khác
nhau thực hiện công tác quản lý theo sự phân công đó.
b) Tổ chức nghiệp vụ kế toán
Từng công ty sẽ thực hiện tổ chức kế toán theo chế độ quy định của Bộ Tài
Chính. Với tổ chức nghiệp vụ kế toán nói chung và nghiệp vụ kế toán bán hàng nói
riêng phải đảm bảo đầy đủ các nội dung sau:
- Tổ chức hệ thống tài khoản (mã số, nội dung) thống nhất.


- Tổ chức hệ thống sổ sách.
- Tổ chức hệ thống chứng từ và luân chuyển chứng từ.
- Tổ chức hệ thống báo cáo bán hàng theo quy định.
2.1.3.4. Chứng từ sử dụng
Tùy theo phương thức, hình thức bán hàng, hạch toán bán hàng sử dụng các
chứng từ sau:
* Chứng từ bán hàng:
- Hóa đơn bán hàng (Hoặc hoá đơn giá trị gia tăng);
- Phiếu xuất kho; Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ; Phiếu xuất kho
hàng gửi bán đại lý;
- Báo cáo bán hàng; Bảng kê bán lẻ hàng hóa dịch vụ; Bảng thanh toán hàng
đại lý; Thẻ quầy hàng.
* Chứng từ tiền mặt: Phiếu thu; Phiếu chi; Giấy đề nghị thanh toán.
* Chứng từ tiền gửi ngân hàng: Lệnh chuyển tiền; Hoá đơn mua hàng; Giấy
đề nghị chuyển tiền; Uỷ nhiệm chi…
* Chứng từ hàng kho: Phiếu nhập kho; Phiếu xuất kho; Thẻ kho; Bảng kê
xuất-nhập-tồn.
2.1.3.5. Các tài khoản sử dụng có liên quan
Để theo dõi và quản lý tình hình bán hàng kế toán phải sử dụng nhiều tài
khoản kế toán theo quy định của Bộ tài chính. Cụ thể:
a) TK 632 – Giá vốn hàng bán


 Nội dung:
Mỗi loại hàng hóa xuất bán trong kỳ đều có giá vốn riêng của nó, giá vốn
này được xác định theo những phương pháp nhất định. Theo quy định của Bộ tài
chính, giá vốn của sản phẩm hàng hóa được xuất bán trong kỳ được theo dõi trên
tài khoản 632 (giá vốn hàng bán). Ngoài ra, tùy vào đặc điểm kinh doanh của từng
doanh nghiệp mà có thể sử dụng tài khoản 157 (hàng gửi đi bán), TK 003 (hàng
hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi, nhận ký cược) để hạch toán hàng hóa trong kỳ.
 Đối với doanh nghiệp sản xuất, trị giá vốn thành phẩm xuất kho để bán
hoặc thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa ngay đi bán chính là giá thành
sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành. Giá vốn hàng bán với các doanh nghiệp
sản xuất được xác định bởi khoản chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi
phí sản xuất chung và các chi phí có liên quan trực tiếp khác đến việc sản xuất sản
phẩm…Trong đó, tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn nhất. Như
vậy, yếu tố mùa vụ sẽ có tác động rất lớn lên giá vốn hàng bán. Nguồn nguyên liệu
đầu vào có thể được các doanh nghiệp mua trong nước hoặc nhập khẩu.
+ Trường hợp nhập khẩu nguyên vật liệu thì những thay đổi của tỷ giá hối
đoái, lãi suất tạo nên một biến động mạnh trong giá vốn hàng bán của doanh
nghiệp. Ngoài ra, chính sách thuế là yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nguyên liệu đầu
vào của các doanh nghiệp sản xuất.
+ Trường hợp mua ở trong nước thì ảnh hưởng lớn nhất của nền kinh tế tác
động tới giá nguyên vật liệu đầu vào chính là lạm phát, lạm phát khiến giá đầu vào
tăng từ đó giá thành sản xuất tăng. Nói cách khác, giá vốn hàng xuất bán biến động
mạnh khi lạm phát tăng.
 Đối với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn xuất kho để bán bao gồm trị
giá mua về thực tế và chi phí mua của số hàng đã xuất kho. Giá vốn hàng bán của


cùng một mặt hàng sẽ khác nhau giữa các doanh nghiệp, do chi phí mua cấu thành
nên giá vốn hàng bán là khác nhau. Chi phí mua cao hay thấp của cùng một mặt
hàng phụ thuộc vào vị trí địa lý của doanh nghiệp. Ngoài ra, lãi suất, thuế nhập
khẩu, hiểu biết của doanh nghiệp về thị trường quốc tế, thủ tục thanh toán quốc tế,
vận chuyển, bảo hiểm… có vai trò rất lớn hình thành nên trị giá vốn hàng xuất bán
trong kỳ với những doanh nghiệp thương mại chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu.
 Hạch toán:
Kết cấu, trình tự hạch toán tuân theo quy định của chế độ kế toán hiện hành.

b) TK 156 – Hàng hoá
 Nội dung:
Quản lý hàng hoá được thực hiện qua nhiều công đoạn như: nhận hàng, ghi
số hàng, dữ trữ hàng, sắp xếp hàng, kiểm tra hàng, đặt mua thêm hàng,...Mỗi
doanh nghiệp có thể thực hiện cách quản lý hàng hoá khác nhau để đạt hiệu quả
cao nhất trong tiêu thụ như:
+ Dự trữ vừa đủ số lượng hàng hoá.
+ Mua, dự trữ những hàng hoá bán chạy.
+ Sắp xếp, trưng bày hàng hoá.
+ Kiểm tra hàng hoá thường xuyên.
+ Ghi chép dữ liệu về hàng hoá đầy đủ.
 Hạch toán:
Kết cấu, trình tự hạch toán tuân theo quy định của chế độ kế toán hiện hành.


c) TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; TK 512 – Doanh thu nội bộ
 Nội dung:
Ý nghĩa của chỉ tiêu doanh thu bán hàng:
- Doanh thu bán hàng phản ánh quy mô của quá trình sản xuất, phản ánh
trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có được doanh thu chứng
tỏ doanh nghiệp đã sản xuất, kinh doanh những sản phẩm, hàng hoá được người
tiêu dùng chấp nhận về mặt số lượng và giá trị sử dụng,…
- Doanh thu bán hàng là nguồn vốn để doanh nghiệp trang trải chi phí sản
xuất, kinh doanh đã bỏ ra, đồng thời làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước.
- Thực hiện được doanh thu bán hàng là kết thúc giai đoạn cuối cùng của
quá trình luân chuyển vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, kinh
doanh sau.
Những nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu bán hàng của doanh nghiệp:
- Giá cả hàng hoá: là nhân tố hết sức nhạy bén và tác động chủ yếu đối với
tiêu thụ của doanh nghiệp. Xác định đúng giá sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ, lợi
nhuận, tránh ứ đọng hàng, tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, doanh nghiệp lạm
dụng giá cả bằng cách hạ giá sẽ có tác động ngược lại như không thúc đẩy tiêu thụ,
giảm lợi nhuận…
- Chất lượng hàng hoá và bao bì: trong điều kiện hiện nay, chất lượng hàng
hoá là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp sử dụng trong cạnh tranh.
Người tiêu dùng khi quan tâm tới hàng hoá của doanh nghiệp thì cái đầu tiên họ
quan tâm là chất lượng hàng hoá, sau khi đã đáp ứng đầy đủ thông tin về chất
lượng thì mẫu mã bao bì sẽ khiến người tiêu dùng đưa ra quyết định lựa chọn cuối


cùng là mua hay chọn sản phẩm khác. Bao bì thể hiện đầy đủ thông tin khi khách
hàng muốn tìm hiểu về hàng hoá của doanh nghiệp.
- Mặt hàng và chính sách mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp: doanh
nghiệp điều tra đầy đủ thông tin về thị trường, sau đó lựa chọn hàng hoá phù hợp
với nhu cầu, đưa ra chính sách thúc đẩy tiêu thụ hợp lý nhất ở từng khu vực.
- Dịch vụ trong và sau bán: dịch vụ vận chuyển tận nơi cho khách hàng, nắp
đặt vận hành, bảo dưỡng…Với các hàng hoá có giá trị cao thì thông thường dịch
vụ này sẽ giúp tăng uy tín, tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
- Mạng lưới phân phối của doanh nghiệp: lựa chọn kênh và thiết lập đúng
đắn mạng lưới kênh phân phối có ý nghĩa to lớn đến việc thúc đẩy tiêu thụ.
- Vị trị điểm bán, quảng cáo, vai trò của nhân viên bán hàng, khách hàng,
nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, chính sách điều tiết của Nhà nước: là những nhân
tố có tác động lớn tới tiêu thụ của doanh nghiệp. Hiện nay, quảng cáo góp phần
đưa hình ảnh sản phẩm tới người tiêu dùng mạnh mẽ nhất, thông qua quảng cáo,
người tiêu dùng có thể nhanh chóng tiếp cận được thông tin về sản phẩm họ mong
muốn.
 Hạch toán:
Kết cấu, trình tự hạch toán tuân theo quy định của chế độ kế toán hiện hành.
d) Các khoản giảm trừ doanh thu
 Nội dung:
Các khoản giảm trừ doanh thu theo quy định bao gồm: chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.
- Nguyên tắc hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x