Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN tìm HIỂU NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VIỆT NAM

TIỂU LUẬN
TÌM HIỂU NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG
I. Mục lục.
1. Vị trí địa lý.
2. Điều kiện tự nhiên.
3. Dân cư và xã hôi.
4. Điều kiện để phát triển ngành nông nghiệp của đồng bằng sông
Hồng.
5. Nông sản chính.
6. Các hình thức tổ chức.
7. Đánh giá vai trò nông nghiệp Việt Nam nói chung và vai trò của

đến sự phát triển kinh tế Việt Nam.

II. Nội dung.
1. Vị trí địa lý.
- Đồng bằng sông Hồng bao gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải
Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh
Bình, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh.
- Với diện tích là 14.964,1 km2, chiếm 4,5% diện tích.



- Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa trung du, miền núi phía Bắc và Tây
Bắc với vùng biển phía Đông.
- Ý nghĩa: vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ vùng đồng bằng sông Hồng
tạo điều kiện để vùng có thể giao lưu kinh tế với các vùng trong
nước, đóng vai trò quan trọng trong phân công lao động cả nước.

2. Điều kiện tự nhiên.
* Địa hình và đất đai.
- Địa hình tương đối bằng phẳng, đồng bằng có 1.249,0 nghìn ha đất đã
được sử dụng, chiếm 83,5% diện tích tự nhiên của vùng và 4,7% diện
tích đang sử dụng của cả nước.
- Đất đai thích hợp cho việc thâm canh lúa nước và trồng màu cũng
như trồng các cây công nghiệp năm ( đay, đậu tương, lạc, mía,…).
* Khí hậu.
- Mang khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có một mùa đông lạnh từ tháng
10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Đồng thời mùa này cũng là mùa
khô.
- Khí hậu thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ và đa dạng hóa cây
trồng.
* Sông ngòi.
- Đồng bằng sông Hồng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng nước


dồi dào cung cấp phù sa, nước cho nông nghiệp, mở rộng diện tích.
* Khoáng sản.
- Đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng ở Hải
Dương, phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ.
- Tài nguyên đá vôi ở Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Môn - Hải
Dương, dải đá vôi từ Hà Tây đến Ninh Bình chiếm 5,4% trữ lượng đá
vôi cả nước, phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây
dựng.
- Tài nguyên than nâu ở độ sâu 200m đến 2.000m có trữ lượng hàng
chục tỷ tấn đứng hàng đầu cả nước, hiện chưa có điều kiện khai thác.
Ngoài ra vùng còn có tiềm năng về khí đốt.
* Tài nguyên biển.
- Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển lớn, với bờ biển kéo dài từ
Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Sơn - Ninh Bình. Bờ biển có bãi
triều rộng và phù sa dày là cơ sở nuôi trồng thuỷ hải sản, nuôi rong câu


và chăn vịt ven bờ.
- Ngoài ra một số bãi biển, đảo có thể phát triển thành khu du lịch như
bãi biển Đồ Sơn, huyện đảo Cát Bà,...
* Tài nguyên sinh vật.
Tài nguyên sinh vật trong vùng khá phong phú với nhiều động thực
vật quí hiếm đặc trưng cho giới sinh vật của Việt Nam. Mặc dù trong


vùng có các khu dân cư và đô thị phân bố dầy đặc nhưng giới sinh vật
vẫn được bảo tồn ở các vườn quốc gia Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương.

3. Dân cư và xã hôi.
- Dân số là 18.478,4 nghìn người chiếm 21,5% dân số cả nước năm
2009.
- Đồng bằng sông Hồng là vùng có dân số đông nhất cả nước.
- Mật độ dân số cao.
- Trình độ phát triển dân cư cao và cao nhất nước ta.
- Kết cấu hạ tầng nông thôn đang thay đổi và hoàn thiện nhất cả nước.

4. Điều kiện để phát triển ngành nông nghiệp của đồng bằng sông
Hồng.
*Thuận lợi.
- Địa hình và đất đai: địa hình đồng bằng khá bằng phẳng, có khả năng
giữ nước ở chân ruộng. Đất phù sa màu mỡ thuận lợi cho việc thâm
canh lúa nước.
- Khí hậu: Đồng Bằng Sông Hồng có khí hậu nhiệt đới ẩm có mùa
đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm từ 22-23 độ C, lượng mưa từ
1400-2000 mm.
- Sông ngòi: vùng có 2 hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và


sông Thái Bình. Nhờ 2 hệ thống sông này mà nguồn nước rất phong
phú, cả nguồn nước trên mặt lẫn nguồn nước ngầm.
- Ngoài ra vùng có diện tích đất nông nghiệp khá lớn với 760.000 ha,
trong đó 70% là diện tích đất phù sa màu mỡ. Đất nông nghiệp chiếm
51,2% diện tích đất nông nghiệp của vùng.
- Nguồn lao động dồi dào, có nhiều kinh nghiệm trong việc thâm
canh lúa nước.
- Cơ sở vật chất – kĩ thuật ngày càng được cải thiện, xuất hiện
nhiều máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
- Các chính sách nông nghiệp của nhà nước ngày càng được cải
thiện.
* Khó khăn.
- Mùa hè thường xảy ra lũ lụt, gió bão.
- Mùa đông ít mưa thiếu nước cho việc trồng cây.
- Hiện tượng sâu bệnh hại lúa và các cây trồng khác phát triển nhanh.
- Hệ thống đê điều của Đồng Bằng Sông Hồng quá chặt chẽ việc bồi
đắp phù sa cho đồng bằng gặp nhiều khó khăn.
- Vào mùa mưa, xảy ra lũ lụt gây ngập úng lúa và cây trồng khác.

5. Nông sản chính.
* Nông sản của ngành trồng trọt.


- Lúa gạo: Sản lượng lúa của khu vực tăng từ 44,4 tạ/ha (1995) lên là
58,9 tạ /ha (2008). Trong năm có 2 vụ lúa chính là Vụ lúa chiêm xuân
và Vụ lúa mùa.
- Ngoài ra còn có cà chua, khoai tây, rau đậu và cây ăn quả.
* Nông sản ngành chăn nuôi.
Vùng có nhiều đàn lợn, bò và gia cầm

6. Các hình thức tổ chức.
- Nền nông nghiệp dồng bằng sông hồng đang chuyển đổi sang nền
nông nghiệp cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tổ chức kinh tế chủ yếu là hợp tác xã và trang trại.
- Do ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước có từ lâu đời nên tổ chức
kinh tế của vùng chủ yếu là hợp tác xã số hợp tác xã của vùng chiếm
tỉ lệ lớn nhất cả nước (3478 HTX 2008 ,46% cả nước) số lượng hợp
tác xã luôn luôn dẫn đầu các vùng kinh tế và ổn định qua các năm.
- Mặt khác do điều kiện tự nhiên, phân bố dân cư. Nên số lượng trang
trại của vùng vẫn vào mức trung bình, đúng thứ 3trong các vùng kinh
tế. Với năm 2008 là 17318trang trại chiếm tỉ lệ 14,3% số trang trại cả
nước.


7. Đánh giá vai trò nông nghiệp Việt Nam nói chung và vai trò của
nó đến sự phát triển kinh tế Việt Nam.
- Nông nghiệp là ngành sản xuất ra vật chất chủ yếu của nền kinh tế
cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho
con người tồn tại. Đồng bằng sông Hồng là một trong hai vựa lúa của
Việt Nam, nó có nhiệm vụ hỗ trợ lương thực cho các tỉnh phía Bắc và
một phần dành cho xuất khẩu.
- Thời kỳ 1993-1997, 85% sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu
của vùng, 5% hỗ trợ các tỉnh và 10% xuất khẩu.
- Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp chiếm tới 57,25% diện tích
đất tự nhiên của toàn vùng đồng thời tạo khối lượng việc làm cho cư
dân nông thôn nên nền nông nghiệp của vùng càng có vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Góp phần tăng GDP.Với 22% dân số cả nước năm 2001 vùng này đã
đóng góp 52.310 tỷ đồng chiếm 22% GDP trong đó có tới 19,4% giá
trị gia tăng nông nghiệp của cả nước.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×