Tải bản đầy đủ

Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ý nghĩa nguyên tắc này trong bệnh chống kinh nghiệm

I.

LỜI MỞ ĐẦU

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút
sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất
cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn,
phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động
thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học
đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn dề do
cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đó
sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải
nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định
chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa
Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ
nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên cơ sở
nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng

tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây
dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm
khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn,
phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực
và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua
mười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt động nhận thức
và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền
kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình
đổi mới hiện nay.Vì vậy tôi xin định chọn đề tài “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn . Ý nghĩa nguyên tắc này trong bệnh chống kinh nghiệm”.
1. Phạm trù thực tiễn
a) Các quan điểm về thực tiễn


Một trong những khuyết điểm chủ yếu của lý luận nhận thức duy vật trước Mác
là chưa thấy hết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Một số nhà triết học như Ph. Bêcơn, Đ. Diđơrô …đề cao vai trò của thực nghiệm
khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận
thức.
G. Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn là hoạt động
vật chất mà là hoạt động tinh thần.
L. Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông
xem xét ở khía cạnh biểu hiện bẩn thỉu mà thôi.
C. Mác và Ph. Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận
nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức.
Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất
và cơ bản của lý luận về nhận thức” (Toàn tập, tập 18, tr. 167)
b) Thực tiễn là gì
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội - lịch sử của con người
nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân con người .
c) Các hình thức cơ bản của thực tiễn
Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
- Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động trực tiếp
tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã
hội.
- Hoạt động biến đổi xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, Là hoạt dộng của con
người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã
hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những
môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và
cách mạng xã hội.


- Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục vụ
nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học.
2) Phạm trù lý luận
+ Lý luận là gì


Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối
liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người , là
tổng hợp những tri thức về tụ nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”.
Để hình thành lí luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm.
Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của các sự vật
hiện tượng. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh
nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thong thường và tri thức kinh nghiệm khoa
học.Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ sở
để hình thành lý luận.
Lý luận có nghững cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, cps thể
phân chia lý luận thành lí luận ngành và lí luận triết học.
Lý luận ngành là ly luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một
ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của
ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người, là
thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận
hình thành, phát triển sản xuất từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.1. Thực tiễn là cơ sở cuả lý luận
Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả
của quá trình hoạt động thực tiễn cuả con người. Thông qua kết quả của hoạt động
thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tích chất
và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình
thành lý luận. Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh các lý
luận đã được khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh
những vấn đề mơi đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông qua đó,
lý luận được bổ sung mở rộng. Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải


trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện cuả nó,
trong sự vận động mâu thuẫn cuả nó tự nó và vì nó”
1.2.Thực tiễn là động lực của lý luận
Hoạt động của con người không chỉ là nguông gốc để hoàn thiện các cá nhân
mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội.
Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn,mang lại lợi ích cho
con người càng kích thích cho con người bám sát thực tiễn khái quát lý luận. Quá trình
đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy
đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chế
trong không gian và thời gian. Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa
học mới ra đời – khoa học lý luận
1.3. Thực tiễn là mục đích của lý luận
Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn
những nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng
cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao
hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không
thể tạo lên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực
hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo
mục đích của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận. Tức lý luận phải đáp
ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách
quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động
thực tiễn của con người. Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm.
Chính vì thế mà C. Mác nói : “vấn đề đẻ tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt
đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn không phỉa vẫn đề lý luận mà là vấn đề
thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Thông qua lý
luận những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào khp tàng chi thức nhân loại,
những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức
lại. Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn.


Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là
tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chấn lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến
mức toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn
tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa. Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn
có nhiều giai cấp phát triển khác nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó
của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn. Do đó chỉ những lý luận nào phản ánh
được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Chính vì vậy mà V.I.Leenin
cho rằng :“Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý
thức của con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này có tính vững
chắc của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng
nghìn triệu lần ấy”
2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vân dụng
vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng
mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo
được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những
rủi ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động.
Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiện quả mà còn là cơ sở để khắc
phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người. Mặt khác, lý luận còn
có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng tạo thành
sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội.
Chính vì vậy, C. Mác đã cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay
thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực
lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn mang tính lịch sử, cụ thể.
Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta còn phân tích cụ thể mỗi tính hình cụ thể. Nếu
vân dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiều sai giá trị của lý
luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thồng nhất tất yếu giữa lý
luận và thực tiễn
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của
con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạng
nhưng không phải khôn g có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn được khái quát


dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn định
hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực
lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn. Không những
thế lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn. Vận dụng lý luận vào
hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những
mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến các mối quan hệ,
lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển đẻ phát huy
các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao.
Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn. Vận
dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp
thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận
cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại
hiệu quả có thể không, hoặc kết quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý
luân phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho
phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu
điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”
III.Ý NGHĨA THỰC TIỄN :
Đảng cộng sản Việt Nam, trước sau như một, vẫn khẳng định mục tiêu chủ
nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam . Nhưng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta đã xuất hiện bệnh chủ quan duy ý chí. Đại Hội VII Đảng cộng sản Việt
Nam đã khẳng định: Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xây dựng mục tiêu và phương hướng xã hội
chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách
quan nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành
phần, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp... Quán triệt
nguyên tắc khách quan, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí là nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân.
Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ mới mẻ, khó
khăn, phức tạp đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan và tính năng
động chủ quan. Vì thế phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa
học bởi tri thức khoa học có được hay không là nhờ ở lòng ham hiểu biết, trí thông


minh, ý chí ngược lại nếu tri thức khoa học phát huy được tác dụng trong thực tiễn thì
nó lại trở thành động lực tăng thêm tri thức, nhận thức. Sự kết hợp xuất phát từ thực tế
khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan không những đem lại hiệu quả cao trong sự
phát triển nhận thức mà còn giúp cho lý luận không bao giờ xa rời thực tiễn cuộc sống.
Nắm bắt và vận dụng được có hiệu quả các quy luật tất yếu khách quan để hoạt
động và đem nó vào thực tiễn để kiểm nghiệm là một phương tâm chủ đạo trong công
cuộc đổi mới hiện nay. Chỉ có dám nghĩ, dám làm kết hợp với tri thức khoa học được
trang bị, chúng ta mới thành công được. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, nắm bắt
quy luật kinh tế, quy luật sản xuất lại càng cần thiết để cải tạo thực tiễn, tạo ra phương
hướng`và mục tiêu đúng đắn phát triển đi lên. Chỉ có thế nước ta mới theo kịp được
trình độ phát triển kinh tế chung của khu vực và trên thế giới. Trong xu thế hội nhập
toàn cầu hoá hiện nay, những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước xuất phát từ
thực tiễn tình hình đất nước đáng phát huy mạnh mẽ tính ưu việt của nó.
ĐỀ XUẤT NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHO TƯƠNG LAI:
Hiện nay, Việt Nam còn là một nước đứng vào hàng những nước nghèo trên thế
giới, việc đưa nước ta thoát khỏi tình trạng này đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của mỗi
người đặc biệt là phát triển kinh tế . Mục tiêu của chúng ta là phát triển kinh tế đi kèm
với công bằng và tiến bộ xã hội. Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, đổi mới một cách toàn diện mọi lĩnh vực. Sự đổi mới này phải đồng
bộ, tuân theo quá trình nhận thức và tình hình thực tiễn đất nước. Phát triển một nền
kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường nhưng phải dưới sự quản lý
của Nhà nước là theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì những mục tiêu trên đây, cần
thiết phải có một số giải pháp cho phát triển kinh tế tương lai.
- Tập trung phát triển kinh tế về chất và lượng. Đầu tư có trọng điểm cho nông
nghiệp, phát triển hình thức nông trại sản xuất của tư nhân hoặc tổ chức nhỏ. Tạo
nguồn vốn cho công nghiệp nhẹ, hiện đại hoá dây chuyền thiết bị. Phát triển mạnh
công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm đưa công nghệ thông tin vào đời sống sản
xuất.
- Tăng nhanh khả năng và tiềm lực tài chính cho đất nước bằng các đầu tư cho
xuất khẩu thu lợi nhuận cao và nguồn vốn nhanh. Phát triển công tác thu và nộp thuế,
phổ biến bằng mọi phương tiện thông tin đại chúng. Phát hành trái phiếu Nhà nước
theo định kỳ, làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia.


- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, gọi vốn đầu tư nước ngoài
bằng cách mở rộng, nới lỏng chính sách về đầu tư, hệ thống hoá luật đầu tư nước
ngoài, tạo cơ sở kinh tế thuận lợi và những dự án nhiều tiềm năng.
- Giải quyết tốt mọi vấn đề kinh tế xã hội như vấn đề tạo việc làm. Có thể phát
triển nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở cả nông thôn và thành thị để thu hút lao động.
Sắp xếp lại các xí nghiệp quốc doanh, tạo cơ hội cạnh tranh lành mạnh trên thị trường
và nhà nước bảo hộ sản xuất trong nước ở một bộ phận nào đó .
- Cần đề ra những mục tiêu cho mười, hai mươi năm tới . Những chính sách,
chủ trương lớn phù hợp với thực tiện hoàn cảnh đất nước và xu thế phát triển của thế
giới. Điều hành đúng, có tổ chức cao và chặt chẽ nền kinh tế thị trường, chống mọi
biểu hiện nhận thức sai lầm, lệch lạc làm đi không đúng con đường đã chọn. Vận dụng
các quy luật khách quan trong việc chỉ đạo, tổ chức đề ra những phương hướng, giải
pháp kinh tế táo bạo, có cơ sở vứng chắc.
- Nhà nước tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng,
hỗ trợ vốn cho người nghèo không lấy lãi.
- Hạ trần lãi suất tiết kiệm để kích cầu, tiêu thụ trên thị trường mới tăng mạnh,
sản xuất trong nước mới có nhiều điều kiện cạnh tranh, phát triển.
- Tạo nguồn cán bộ kinh tế tương lai với những tri thức khoa học và lý luận
vững chắc. Gắn đào tạo với thực hành, đầu tư thiết bị quản lý kinh tế hiện đại để giảng
dạy và thực hành trong các trường kinh tế, xã hội hoá giáo dục và đào tạo .


KẾT LUẬN
Những bước phát triển gì nữa sẽ đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam trước thềm
thiên niên kỷ mới? Đổi mới kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải chăng vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu thời đại ? Tất nhiên, những câu trả lời cho vấn đề ấy còn
đang nằm ở phía trước. Song chắc chắn, với con đường đi đúng đắn và sự lựa chọn
quyết đoán của Đảng và Nhà nước, chúng ta sẽ gặt hái được rất nhiều thành tựu mới.
Nhà nước sử dụng các đòn bẩy kinh tế trong kế hoạch hoá trực tiếp và kế hoach hóa
gián tiếp để đảm bảo thực hiện những phương hướng, mục tiêu của kế hoạch kinh tế
quốc dân. Trước thực tế của quá trình phát triển kinh tế Việt Nam từ sau cách mạng
Tháng Tám, một lần nữa ta lại càng cần khẳng định vai trò không thể thiếu được của
quá trình lý luận nhận thức và các chính sách, chủ trương xuất phát từ thực tiễn chi
phối nền kinh tế. Khi đi đúng vào tiến trình lịch sử của nhân loại, tất yếu chúng ta sẽ
không bị lạc hậu, tụt lùi mà ngày càng có vị thế, phát triển mạnh mẽ hơn. Hy vọng chỉ
một thời gian không lâu nữa nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển vượt bậc, phát triển có
cơ sở vững chắc, đứng vào vị trí những nước có nền kinh tế tăng trưởng mạnh trên thế
giới.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình triết học Mác - Lênin (I,II)
2.Triết học Mác - Lênin - Chương trình cao cấp (I,II,III)
3. Kinh tế chính trị Mác - Lênin ( Phần kinh tế xã hội chủ nghĩa )
4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức VI của Đảng cộng sản Việt Nam.
5. Tạp chí: nghiên cứu lý luận
6. Tạp chí triết học
7. Địa lý Việt Nam
8. C.Mác - F.Engghen - tuyển tập
9. Hồ Chí Minh - tuyển tập
10. V.I.Lênin-toàn tập



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×