Tải bản đầy đủ

tieu luan triet hoc lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học

PHÇN I: Më §ÇU
Biện chứng và siêu hình là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau trong
triết học. Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái
đứng im, không vận động, tách rời cô lập và tách biệt nhau. Cách xem xét cho
chúng ta nhìn thấy sự tồn tại của sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương
đối, nhưng nếu tuyệt đối hoá phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự
phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Trong khi đó
trái lại, phương pháp biện chứng là: là phương pháp xem xét những sự vật hiện
tượng và những phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ
qua lại của chúng, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng".
Trong lịch sử triết học có những thời gian, tư duy siêu hình chiếm ưu thế
so với tư duy biện chứng. Nhưng xét trong toàn bộ lịch sử triết học, thì phép
biện chứng luôn chiếm một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội. Phép
biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao
mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác - xít của triết học Mác - Lênin.
Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đánh giá cao phép biện chứng, nhất là phép biện
chứng duy vật, coi đó là một công cụ tư duy sắc bén để đấu tranh với thuyết
không thể biết, tư duy siêu hình, củng cố niềm tin vào sức mạnh và khả năng của
con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Việc nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng sẽ cho chúng ta
thấy rõ hơn bản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng

của nhân loại. Xuất phát từ mục đích đó, tôi chọn đề tài tiểu luận về: lịch sử
phát triển của phép biện chứng trong triết học để nghiên cứu.

1


PHầN ii: NộI DUNG
I- Các phép biện chứng trớc triết học Mác
1. Phép biện chứng thời cổ đại
Phép biên chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát,
ngây thơi và mang nặng tính trực quan đợc hình thành trên
cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc thông qua kinh nghiệm
của bản thân. Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là:
Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học ấn Độ cổ đại và triết học
Hy Lạp cổ đại. Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc
điểm văn hoá cũng nh hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể
hiện t tởng biện chứng trong học thuyết triết học mỗi trung
tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau.
1.1. Triết học Trung Hoa cổ đại
Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của
nhân loại, có tới 103 trờng phái triết học. Do đặc điểm của bối
cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã hội loạn lạc, đời sống nhân
dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung hoa cổ đại
tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị - xã hội.
Những t tởng biện chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà
triết học kiến giải những vấn đề về vũ trụ quan.
Một trong những học thuyết triết học mang t tởng biện
chứng sâu sắc là Học thuyết Âm - Dơng. Đây là một học
thuyết triết học đợc phát triển trên cơ sở một bộ sách có tên là
Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ bản nhất là
nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt
đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể t2


ơng đồng. Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các
mặt đối lập - đó là Âm và Dơng. Âm - Dơng không loại trừ,
không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tơng tác lẫn nhau,
chế ớc lẫn nhau. Kinh dịch viết: "Cơng nhu tơng thôi nhi sinh
biến hoá", "Sinh sinh chi vi dịch". Sự tơng tác lẫn nhau giữa
Âm và Dơng, các mặt đối lập, làm cho vũ trụ biến đổi không


ngừng. Đây là quan điểm thể hiện t tởng biện chứng sâu
sắc. Học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến
dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi
cái thống nhất nh: Thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lỡng nghi (âm - dơng), sau đó âm - dơng lại tiến hành phân
thành tứ tợng (thái âm - thiếu âm, thái dơng - thiếu dơng), tứ
tợng lại sinh ra bát quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật.
Tuy nhiên, học thuyết Âm - Dơng cho rằng sự vận động
của vạn vật diễn ra theo chu kỳ lặp lại và đợc đảm bảo bởi
nguyên tắc cân bằng Âm - Dơng. ở điểm này thì học thuyết
Âm - Dơng phủ nhận sự phát triển biện chứng theo hớng đi lên
mà cho rằng sự vận động của các hiện tợng chỉ dừng lại khi
đạt đợc trạng thái cân bằng Âm -Dơng. Hơn nữa, trong học
thuyết Âm - Dơng còn nhiều yếu tố duy tâm thần bí nh quan
điểm "Thiên tôn địa ty" cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội
bắt nguồn từ trật tự của "trời đất", họ đem trật tự xã hội gán
cho giới tự nhiên, rồi lại dùng hình thức bịa đặt đó để chứng
minh cho sự hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội.
Tóm lại, học thuyết Âm - Dơng là kết quả của quá trình
khái quát hoá những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân
dân Trung Quốc thời cổ đại. Mặc dù còn những tính chất trực
quan, chất phác ngây thơ và tồn tại những quan điểm duy
3


tâm thần bí về xã hội, nhng học thuyết Âm - Dơng đã bộc lộ
rõ khuynh hớng duy vật và t tởng biện chứng tự phát của mình
trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của sự
vật, hiện tợng trong tự nhiên và xã hội.
1.2. Triết học ấn độ cổ đại
Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa
triết học với tôn giáo và giữa các trờng phái khác nhau. Các t tởng triết học đợc thể hiện dới hình thức là một tôn giáo. Theo
cách phân chia truyền thống, triết học ấn Độ cổ đại có 9 trờng
phái, trong đó có 6 trờng phái là chính thống và 3 trờng phái
phi chính thống. Trong tất cả các học thuyết triết học đó thì
học thuyết triết học thể hiện trong Phật giáo là học thuyết
mang tính duy vật và biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nền
triết học ấn Độ cổ đại.
Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI, trớc công nguyên do
Tất Đạt Đa, tên hiệu là Thích Ca Mầu Ni (563 - 483 TCN), khai
sáng. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới không do một
đấng thần linh nào đó tạo ra mà đợc tạo ra bởi hai yếu tố là
Danh (tinh thần) và Sắc (vật chất). Trong đó Danh bao gồm
tâm và thức, còn Sắc bao gồm 4 đại (đại địa, đại thuỷ, đại
hoả, đại phong). Chính nhờ t tởng nêu trên mà Phật giáo đợc
coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn giáo thần học
đơng thời. Đồng thời Phật giáo đa ra t tởng "nhất thiết duy
tâm tao", "vô thờng", "vô ngã". "Vô ngã" nghĩa là "không có cái
ta, cái tôi bất biến", theo đó không có cái gì là trờng tồn là bất
biến, là vĩnh hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập. Đây là t tởng biện chứng chống lại đạo Bàlamôn về sự tồn tại của cái tôi átman bất biến. "Vô thờng" tức là biến, biến ở đây đợc hiểu
4


nh là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ: Sinh - Trụ - Dị Diệt (đối với sinh vật); Thành - Trụ - Hoại - Không (con ngời).
Phật giáo cũng cho rằng sự tơng tác của hai mặt đối lập Nhân
và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới vận động chứ
không phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con ngời, thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói cách khác một
vật tồn tại đợc là nhờ hội đủ Nhân, Duyên.
1.3. Triết học Hy Lạp cổ đại
Mặc dù hãy còn nhiều tính "cắt khúc", nhng triết học Hy
Lạp cổ đại đã có những phát hiện mới đối với phép biện chứng.
Chính trong thời kỳ này thuật ngữ

"biện chứng" đã hình

thành. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thời kỳ chiếm
hữu nô lệ, Hy Lạp cổ đại đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn về
văn hoá, nghệ thuật, mà trớc hết là các thành tựu trong khoa
học tự nhiên nh: Thiên văn học, vật lý học, toán học đã làm cơ
sở thực tiễn cho sự phát triển của triết học trong thời kỳ này.
Triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở thành
nền tảng cho sự phát triển của triết học phơng Tây sau này.
Một trong những nhà triết học điển hình có t tởng biện
chứng là Heraclit (540 - 480 TCN). Theo đánh giá của các nhà
kinh điển Mác - Lênin thì Heraclit là ngời sáng lập ra phép
biện chứng. Ông cũng là ngời đầu tiên xây dựng phép biện
chứng dựa trên lập trờng duy vật.
Phép biện chứng của Heraclit cha đợc trình bày dới dạng
một hệ thống các luận điểm khoa học mà hầu nh các luận
điểm cốt lõi của phép biện chứng đợc đề cập dới dạng các

5


câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. T tởng biện chứng
của Heraclit đợc thể hiện nh sau:
Một là

Quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật

chất. Theo Heraclit thì không có sự vật, hiện tợng nào của thế
giới là đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất cả đều trong trạng
thái biến đổi và chuyển hoá. Ông nói: "Chúng ta không thể
tắm hai lần trên một dòng sông vì nớc mới không ngừng chảy
trên sông"; "Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới". Theo
quan điểm của Heraclit thì lửa chính là bản nguyên của thế
giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật,
hiện tợng. Đồng thời lửa cũng chính là gốc của mọi vận động,
tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển
hoá của lửa mà thôi.
Hai là Heraclit nêu lên t tởng về sự tồn tại phổ biến của
các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tợng. Điều đó thể hiện
trong những phỏng đoán về vai trò của những mặt đối lập
trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên về "sự trao đổi của
những mặt đối lập", về "sự tồn tại và thống nhất của các mặt
đối lập". Ông nói: "cùng một cái ở trong chúng ta - sống và chết,
thức và ngủ, trẻ và già. Vì rằng cái này biến đổi là cái kia; và
ngợc lại, cái kia mà biến đổi thành cái này ...". Heraclit đã
phỏng đoán về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt
đối lập. Lê nin viết: "Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các
bộ phận đối lập của nó là thực chất của phép biện chứng. Điều
này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng
Heraclit".
Ba là Theo Heraclit thì sự vận động phát triển không
ngừng của thế giới do quy luật khách quan (mà ông gọi là
6


Logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan là
mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ
học thuyết của con ngời. Logos chủ quan phải phù hợp với logos
khách quan. Ngời nào càng tiếp cận đợc logos khách quan bao
nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu. Lý luận nhận thức của
Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai nhng cơ bản
là đúng.
ở thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác
không có đợc t tởng biện chứng sâu sắc nh vậy. Chính là
những t tởng biện chứng sơ khai của Heraclit sau này đã đợc
các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà sáng lập
triết học Macxít đánh giá cao. C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh
gía một cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit và coi
ông là đại biểu xuất sắc nhất của phép biện chứng Hy Lạp cổ
đại: "Quan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ
nhng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà Hy Lạp thời
cổ và ngời đầu tiên diễn đạt đợc rõ ràng quan niệm ấy là
Heraclit".
Trong học thuyết về nguyên tử của mình, Đêmôcrit (460 370 TCN) đã kế thừa quan điểm của Heraclit về vận động.
Ông cho rằng vận động của nguyên tử là vĩnh cửu và ông đã
cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử là ở
bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân. Ông cho rằng còn
khoảng trống hay còn "chân không" trong nguyên tử là điều
kiện vận động của nó. Tuy nhiên Đêmôcrit đã không lý giải đợc
nguồn gốc của vận động.
Sau Đêmôcrit là Arixtốt (384 - 322 TCN) ông cho rằngvận
động gắn liền với các vật thể với mọi sự vật, hiện tợng của giới
7


tự nhiên. Ông cũng khẳng định vận động là không thể bị tiêu
diệt "Đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động". Arixtốt là ngời
đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành 6
dạng: Phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di
chuyển vị trí .
Tuy nhiên Arixtốt lại dơi vào duy tâm vì cho rằng thần
thánh là nguồn gốc của mọi vận động.
Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng
nhng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán, những trực
kiến thiên tài. Phép biện chứng tự phát thời cổ đại đã nhìn
thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ của
các mặt đối lập, song cha đi sâu vào chi tiết của bức tranh.
Vì vậy, nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình
trong thời kỳ cận đại.

8


2. Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV - XVIII
Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII), sự trởng thành của t tởng biện chứng Tây Âu mang nhiều ý nghĩa
độc đáo. Phép biện chứng trong thời kỳ này phát triển trong
thời kỳ thống trị của t duy siêu hình.
Sau đêm trờng Trung cổ, triết học là thứ triết học kinh
viện giáo điều gắn với đạo Thiên chúa. Đến thời kỳ Phục hng,
triết học thời kỳ này đã khôi phục lại những t tởng duy vật cổ
đại nhng vẫn còn mang tính phiếm thần, yếu tố duy vật xen
lẫn duy tâm. Tuy nhiên phép biện chứng thời kỳ này vẫn có bớc
phát triển nh t tởng về "sự phù hợp của các mặt đối lập" của
Gioocdanơ Brunô (1548 -1600). Theo G.Brunô mọi cái đều liên
hệ với nhau và đều vận động, kể từ các hạt vật chất nhỏ nhất nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt
cái kia ra đời. Nếu không theo nguyên tắc "các mặt đối lập
phù hợp với nhau" thì dù là nhà toán học, nhà vật lý, cả nhà triết
học cũng không làm việc đợc.
Một trong những đại biểu của triết học Tây Âu thời kỳ
cận đại là Ph.Bêcơn (1561 - 1626). Ph.Bêcơn khẳnh định vật
chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là
nhận thức sự vận động của chúng. Ông đã tiến hành phân vận
động thành 19 loại. Tuy nhiên tính chất siêu hình của ông thể
hiện: Ông quy mọi loại vận động về vận động cơ học. Song
cống hiến của ông là ở chỗ coi đứng yên là một hình thức của
vận động, coi vận động là đặc tính cố hữu của vật chất, ông
là ngời đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới.

9


Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và
đi sâu mổ xẻ phân tích giới tự nhiên thành những bộ phận
nhỏ để nghiên cứu. Những phơng pháp đó đã tạo ra thói quen
nghiên cứu xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời và
bất biến. Từ khi Ph.Bêcơn và Lốccơ đem phơng pháp trong
khoa học tự nhiên áp dụng vào triết học thì phơng pháp siêu
hình trở thành phơng pháp thống trị trong triết học.
Phơng pháp siêu hình đó đóng một vai trò tích cực nhất
định trong quá trình nhận thức giới tự nhiên, phơng pháp đó
chỉ thích ứng với trình độ su tập, mô tả giới tự nhiên. Do đó
khi khoa học chuyển sang nghiên cứu các quá trình phát sinh,
phát triển của sự vật, hiện tợng thì nó bộc lộ rõ những hạn
chế. Vì vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện
chứng của triết học cổ điển Đức với đỉnh cao là phép biện
chứng Hêghen.
3. Phép biện chứng cổ điển Đức
Nh Lênin đã từng đánh giá: Dù có sự thần bí hoá duy tâm,
nhng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất
giữa phép biện chứng và logic học và lý luận nhận thức. Trong
các nền triết học trớc C. Mác thì triết học cổ điển Đức có
trình độ khái quát hoá và trừu tợng hoá cao với kết cấu hệ
thống chặt chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so
với các nền triết học khác. Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu
từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở triết học
Phoiơbắc.
Kantơ (1724 - 1804) là ngời sáng lập ra trờng phái triết
học cổ điển Đức. Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ

10


lý tính thì mới có mâu thuẫn mà cha thấy đợc rằng mâu
thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan. Mâu thuẫn cha
phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề,
cha có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau. Mặc dù còn
nhiều hạn chế nhng trong vấn đề này Kantơ đã tiến gần đến
phép biện chứng.
Hêghen (1770 -1831) là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện
chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học
Mácxit. Triết học của ông có ảnh hởng rất mạnh đến t tởng của
nớc Đức và cả Châu Âu đơng thời, triết học của ông đợc gọi là
"tinh thần Phổ". Phép biện chứng của Hêghen là phép biện
chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và
phát triển của các khái niệm đợc ông đồng nhất với biện chứng
sự vật. Ông viết: "phép biện chứng nói chúng là nguyên tắc
của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm
vi hiện thực. Cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa
học chân chính". Luận điểm xuyên suốt trong hệ thống triết
học của Hêghen là: "Tất cả cái gì là hiện thực đều là hợp lý và
tất cả những gì hợp lý đều là tồn tại".
Hêghen là ngời đã có công trong việc phê phán t duy siêu
hình và là ngời đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, xã hội
và t duy một cách biện chứng, có nghĩa là trong sự vận động,
biến đổi và phát triển không ngừng. Trong logic học, Hêghen
không chỉ trình bày các phạm trù triết học nh lợng - chất, vật
chất - vận động mà còn đề cập đến các quy luật khác nh lợng
đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định biện chứng. Nhng
tất cả chỉ là những quy luật vận động, phạm trù của t duy, của
khái niệm.
11


Khi nghiên cứu xã hội, Hêghen khẳng định sự phát triển
cuả xã hội là sự đi lên. Quá trình phát triển của lịch sử có tính
kế thừa. Lịch sử là tính thống nhất giữa tính khách quan và
chủ quan trong hoạt động của con ngời. Hêghen đã có công
xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện
chứng nh là những công cụ của t duy biện chứng.
Trong khi hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng
những t tởng biện chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông
lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể hiện ở: Sự vận động của
xã hội là do sự vận động của t duy (ý niệm tuyệt đối) sinh ra.
Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: "Phép
biện chứng đi lộn đầu xuống đất". Vì vậy, cần phải đặt nó
đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên
quan điểm duy vật.
II. Phép biện chứng duy vật hay phép biện chứng
Mác - xit
1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của phép
biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật ra đời trong điều kiện phơng
thức sản xuất t bản chủ nghĩa đang phát triển, cuộc đấu
tranh giai cấp giữa vô sản và t sản đã cung cấp thực tiễn cho
C.Mác và Ph.Ănghen để đúc kết và kiểm nghiệm lý luận về
phép biện chứng. Dựa trên cơ sở thành tựu khoa học tự nhiên
(cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) đi vào hệ thống hoá tài liệu
khoa học thực nghiệm. Đây là hai tiền đề thực tiễn rất quan
trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật.

12


Tiền đề lý luận của phép biện chứng duy vật chính là
phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Các ông đã tách ra cái
hạt nhân hợp lý vốn có của nó là phép biện chứng và vứt bỏ
cách giải thích hiện tợng tự nhiên xã hội và t duy một cách thần
thánh hoá t duy, nói cách khác các ông đã cải tạo một cách duy
vật phép biện chứng duy tâm Hêghen.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa
duy vật và phép biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết
học trớc đây duy vật nhng siêu hình (Triết học cận đại) hoặc
biện chứng nhng duy tâm (cổ điển Đức). Phép biện chứng
duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng
trong lĩnh vực xã hội, do đó các ông đã xây dựng sáng lập ra
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2. Nội dung chính của phép biện chứng duy vật
Theo C.Mác: Biện chứng khách quan là cái có trớc, còn biện
chứng chủ quan (t duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh
của biện chứng khách quan, đây là sự khác nhau giữa phép
biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của
Hêghen. C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt
phép biện chứng duy tâm của Hêghen "đứng trên hai chân
của mình" tức là đứng trên nền tảng duy vật.
Theo C.Mác thì phép biện chứng chính là "khoa học về
mối liên hệ phổ biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong t
duy". Theo Lênin thì phép biện chứng là "học thuyết về sự
phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về
tính tơng đối của sự vật".

13


Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là:
1. Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển; 2. Mối liên hệ thâm
nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhng vẫn có sự giống nhau;
3. Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các
mối liên hệ đợc khái quát thành các cặp phạm trù nh( phần tử hệ thống, nguyên nhân - kết quả, lợng - chất) và các quy luật
(quy luật lợng - chất, quy luật đấu tranh và thống nhất của các
mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định).
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác đã công khai
tính giai cấp của để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và
toàn thể nhân dân lao động. Trong khi đó các nền triết học
trớc Mác che dấu lợi ích của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống
trị, của một nhóm ngời thiểu số trong xã hội.
Triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống
mở, không ngừng đợc bổ sung, đợc làm phong phú thêm bởi
chính thực tiễn và phát triển. Cùng với chính sự phát triển thực
tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho hành động.
Những nội dung chính của phép biện chứng đợc C.Mác và
Ph.Ănghen luận chứng trong tác phẩm: "Biện chứng của tự
nhiên" (1873 - 1883),

"Chống Đuy -rinh" (1876 -1878),

"Lút-vich Phoiơ Bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển
Đức" và một số tác phẩm do V.I.Lênin viết nh: "Chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán" (1908 -1909), "Bút ký
triết học".
Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác - xít là kết quả của
sự chín muồi về mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của
thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó đáp ứng nhu cầu về mặt lý

14


luận của giai cấp công nhân. Giai đoạn mới trong sự phát triển
của phép biện chứng gắn với tên tuổi của V.I.Lênin đã vận
dụng thành công phép biện chứng Mác-xít trong cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mời Nga năm 1917. Sự phát triển
của V.I.Lênin về phép biện chứng duy vật thể hiện trong lý
luận cách mạng xã hội chủ nghĩa nh là một công cụ sắc bén
để cải tạo thế giới một cách cách mạng nhất.
III. Phép biện chứng duy vật trong sự vận động và
phát triển của nền kinh tế nớc ta hiện nay
Phép biện chứng là một phơng pháp nghiên cứu xem xét
các sự vật hiện tợng trong mối liên hệ giữa các mặt và giữa các
sự vật hiện tợng đó và trong sự đứng im tơng đối.
Việt Nam quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) bỏ qua
sự phát triển của CNTB, xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu,
chậm phát triển. Đó là con đờng quá độ lâu dài, mà có thể nói
mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ này là mâu thuẫn giữa xu hớng
tự phát lên chủ nghĩa t bản với xu hớng tự giác lên chủ nghĩa xã
hội. Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn cơ bản trên
đây của cách mạng nớc ta là quá trình vừa phải kế thừa
những mặt cần thiết hợp lý của chủ nghĩa t bản để phát triển
lực lợng sản xuất lại vừa phải đấu tranh loại bỏ những mặt tiêu
cực, mất nhân tính của chủ nghĩa t bản. Con đờng quá độ
lên CNXH ở nớc ta đòi hỏi phải chủ động và tự giác phát triển
và sử dụng CNTB làm khâu trung gian, làm phơng tiện để đi
lên CNXH, nhất là hớng t bản đi vào con đờng t bản Nhà nớc. Đó
chính là sự thống nhất của các mặt đối lập thông qua các biện
pháp trung gian và quá độ.

15


Trong công cuộc xây dựng CNXH, chúng ta không thể phủ
định sạch trơn CNTB, không thể cho rằng cái gì đó có trong
CNTB là không thể có trong CNXH mà phải biết chắt lọc cái
tỉnh túy trong TNTB, càng không thể áp dụng nguyên vẹn mô
hình CNXH ở nớc khác để xây dựng nớc ta. Chúng ta phải nhận
thức đợc tính tất yếu của sự phát triển. Do đó, để xây dựng
thành công CNXH, chúng ta phải lấy lý luận của C.Mác - Lênin
làm kim chi nam cho hành động, đồng thời phải học hỏi,
nghiên cứu tình hình thực tế của các XHCN, TBCN trên thế giới
để áp dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nớc ta.
Trong quá trình vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trờng, chúng ta lại gặp phải một mâu thuẫn cần phải giải quyết
đó là: Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội.
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo
cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết của
thị trờng thông qua hoạt động của các quy luật kinh tế vốn có
của nó. Cơ chế thị trờng có u điểm ở chỗ là phát huy đợc tính
năng động sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế trong việc đáp
ứng nhu cầu ngày càng phong phú của xã hội. Tuy nhiên cơ chế
thị trờng đồng thời kích thích đầu cơ, làm sai lệch các quan
hệ thị trờng, gây ra khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, ô
nhiễm môi trờng, tệ nạn xã hội. Một trong những đặc điểm
của nền kinh tế XHCN là xây dựng một Nhà nớc "của dân, do
dân, vì dân", xây dựng một xã hội "dân chủ, công bằng, văn
minh". Để giữ vững bản chất CNXH trong phát triển kinh tế
Nhà nớc cần sử dụng các công cụ của mình để tiến hành điều
tiết lợi ích giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo mọi thành
viên trong xã hội đợc hởng thành quả trong phát triển kinh tế.
16


Nhà nớc có thể sử dụng các công cụ nh thuế thu nhập cao, trợ
cấp, bảo hiểm để tiến hành phân phối lại thu nhập xã hội;
xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế đi liền với xây dựng kế
hoạch phát triển xã hội. Đây chính là công cụ, phơng tiện quan
trọng để tác động giải quyết mâu thuẫn trên làm cho nền
kinh tế Việt Nam phát triển theo định hớng XHCN.

PHầN III: KếT LUậN
Bằng việc trình bày lịch sử phát triển của phép biện
chứng trong triết học, có thể khẳng định: Xuyên suốt chiều
dài lịch sử nhiều thế kỷ hình thành và phát triển từ phép
biện chứng tự phát, thô sơ cổ đại cho đến phép biện chứng
duy tâm Hêghen của triết học cổ điển Đức và đạt đến đỉnh
cao là phép biện chứng duy vật mác - xít thì phép biện chứng
luôn là công cụ sắc bén, là chìa khoá giúp con ngời nhận thức
và cải tạo thế giới để phục vụ nhu cầu chính bản thân con ngời.
Hiện nay, đất nớc ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc
đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thì việc
nghiên cứu phép biện chứng một cách có hệ thống, nhất là
việc nắm vững các nguyên tắc và vận dụng những nguyên
tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật là một yêu cầu bức
thiết để đổi mới t duy, là định hớng t tởng và mang lại cho
chúng ta công cụ t duy sắc bén để đấu tranh chống lại t duy

17


siêu hình, bảo thủ lạc hậu và thực hiện thắng lợi mục tiêu
XHCN của cách mạng nớc ta.
Phép biện chứng là một phát hiện lớn của nhân loại trong
quá trình nhận thức tự nhiên, xã hội và t duy. Nghiên cứu lịch sử
của phép biện chứng

trong triết học là một vấn đề rất lớn

trong triết học, đòi hỏi có nhiều công sức của các nhà triết học
với nhiều công trình khảo cứu sâu sắc. Trong khuôn khổ một
bài viết nhỏ không thể đề cập đợc hết các khía cạnh của một
vấn đề lớn, do đó em rất mong sự đóng góp ý của các thầy, cô
giáo để bài viết đợc hoàn chỉnh hơn.

18


Tài liệu tham khảo

1. Bài giảng của thầy, cô giáo.
2. Lịch sử phép biện chứng (tập 1, 2, 3), Viện triết học
Liên Xô (cũ).
3. Khái lợc lịch sử triết học NXB chính trị-Hành chính
2013.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×