Tải bản đầy đủ

TL triết học nhận thức luận trong triết học của cantơ

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.................................................................................................2
NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC CỦA CANTƠ.................3
1. Vài nét về triết học cổ điển Đức.......................................................3
2. Vài nét về cuộc đời và triết học của Cantơ......................................4
2.1.Vài nét về cuộc đời Imanuen Cantơ............................................4
2.2. Triết học của Cantơ....................................................................4
2.2.1.Thời kỳ tiền phê phán...............................................................4
2.2.2.Triết học thời kỳ phê phán.......................................................5
3. Những nội dung chính của “triết học lý luận”.................................7
3.1.Học thuyết về cảm giác siêu nghiệm.........................................10
3.2.Học thuyết về phép phân tích siêu nghiệm................................11
3.3.Học thuyết về phép biện chứng siêu nghiệm.............................12
KẾT LUẬN...........................................................................................17

1



2

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, triết học cổ điển Đức là một giai
đoạn phát triển rất quan trọng, xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và tồn tại cho
đến hết thế kỷ XIX, cùng với Phoiơbăc, Hêghen, thì Cantơ là một trong
những đại biểu tiêu biểu nhất. Những đóng góp quan trọng của Cantơ làm cho
ông xứng đáng là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức vĩ đại này. Triết
học cổ điển Đức được xem là sự chuẩn bị lý luận đầy đủ nhất cho sự ra đời
của triết học Mác.
Cùng với triết học thẩm mỹ; triết học thực tiễn thì triết học lý luận là
một trong ba bộ phận quan trọng trong triết học của Cantơ. Triết học lý luận là
nền tảng duy tâm tiên nghiệm của triết học Cantơ, bao hàm những tư tưởng
sâu sắc về nhận thức của con người và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống
tinh thần của người Tây Âu từ đó đến nay. Triết học lý luận đã tạo ra một
“cuộc cách mạng Côpécníc” trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học lý luận
của ông là sự tổng kết những vấn đề mà nhận thức nhân loại đã và đang đặt ra
cho thời đại ông. Những tổng kết của Cantơ bắt đầu từ chỗ phê phán, tìm tòi
rồi đi đến sáng tạo, mở ra nhiều vấn đề, nhiều con đường mới cho sự phát
triển của lý luận nhận thức và phương pháp của lôgíc học về sau này.
Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu “triết học lý luận” của Cantơ là
một vấn đề cấp thiết. Tìm hiểu triết học lý luận của Cantơ không chỉ giúp
chúng ta làm sáng tỏ những đóng góp của Cantơ đối với lịch sử triết học mà
còn giúp chúng ta nắm vững hơn những nguyên lý của triết học Mác, trong đó
có kế thừa nhất định những thành tựu mà triết học Cantơ đã đạt được. Vì vậy
em lựa chọn vấn đề “Nhận thức luận trong triết học của Cantơ” làm tiểu
luận nghiên cứu của mình.

2


3

NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC CỦA CANTƠ
1.Vài nét về triết học cổ điển Đức
Khái niệm “triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ triết học của nước Đức
ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống
triết học của I.Cantơ, trải qua Phíchtơ, Senlinh đến triết học duy tâm khách
quan của Hêghen và triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc.


Chỉ trong khoảng một thế kỷ, triết học cổ điển Đức đã tạo những tiền
đề lý luận hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác vào giữa thế
kỷ XIX. Triết học cổ điển Đức ra đời trong một điều kiện lịch sử hết sức đặc
biệt. Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc
gia phong kiến điển hình với 360 quốc gia tự lập trong Liên bang Đức, hết
sức lạc hậu về kinh tế và chính trị. Trong khi đó, ở nước Anh với cuộc cách
mạng công nghiệp, ở Pháp với cuộc cách mạng tư sản nổ ra đã làm rung
chuyển Châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp.
Chính thực tại đau buồn của nước Đức và tấm gương của các nước Tây
Âu đã thức tỉnh tinh thần phản kháng của giai cấp tư sản Đức. Nhưng giai cấp
này sống rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng,
yếu kém về kinh tế và chính trị nên họ vừa muốn làm cách mạng lại vừa
muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó,
giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển của đất
nước. Chính điều này đã quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức: Nội
dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm, bảo thủ; đề cao vai trò tích cực
của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng và
điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học.
Trên một ý nghĩa nhất định, triết học cổ điển Đức không chỉ là sự phản
ánh những điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội nước Đức mà còn của cả các
nước Châu Âu lúc đó.

3


4

2.Vài nét về cuộc đời và triết học của Cantơ
2.1.Vài nét về cuộc đời Imanuen Cantơ
Imanuen Cantơ (1724- 1804) được mọi người biết đến là người sáng
lập ra nền triết học cổ điển Đức; là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất
của lịch sử tư tưởng phương Tây trước C.Mác. Triết học Cantơ là “nền tảng
và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học
của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học Cantơ ”.
Cantơ sinh năm 1724, trong một gia đình quý tộc Phổ ở Kênixbéc. Năm
1745 ông tốt nghiệp đại học tổng hợp Kênixbéc và trở thành một gia sư. Năm
1755, ông bắt đầu giảng dạy siêu hình học và các môn học tự nhiên ở đây. Từ
năm 1770, ông chủ yếu quan tâm đến những vấn đề triết học. Hầu như phần
lớn các công trình nghiên cứu của ông đều gắn liền với việc giảng dạy của
ông ở trường đại học Tổng hợp Kenixbéc từ năm 1755 đến cuối đời. Ông là
một trong những học giả uyên bác nhất đương thời, ông giảng dạy về nhiều
lĩnh vực: siêu hình học, logic học và toán học, cơ học, địa chất học…
Trong suốt cuộc đời 80 năm của mình, ông đã sản sinh ra hàng loạt các
tác phẩm nổi tiếng để đời như : Phê phán lý tính thuần túy (1781); Mở đầu
khoa siêu hình học tương lai (1783); Các nguyên tắc của siêu hình học về đạo
đức (1785) Phê phán lý tính thực tiễn (1788); Phê phán năng lực phán đoán
(1790); Nhân học (1798)…..
2.2. Triết học của Cantơ
Lịch sử phát triển tư tưởng triết học của Cantơ được chia làm hai thời
kỳ: thời kỳ tiền phê phán (1745 - 1769) và thời kỳ phê phán (1770 - 1804).
2.2.1.Thời kỳ tiền phê phán
Thời kỳ đầu, các tác phẩm chủ yếu của Cantơ viết về triết học tự nhiên.
Chẳng hạn như trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên đại cương và học thuyết về
bầu trời (viết năm 1755), ông đã đưa ra giả thuyết giải thích nguồn gốc sự
hình thành của vũ trụ. Trong các tác phẩm triết học của thời kỳ tiền phê phán,

4


5

lúc đầu Cantơ chịu ảnh hưởng của triết học Lépnít và Vônphơ nhưng về sau,
trong các tác phẩm Về những sai lầm tinh tế của bốn loại hình tam đoạn luận
(xuất bản 1762) và trong Kinh nghiệm của việc dựa vào triết học khái niệm
các đại lượng phủ định (xuất bản 1763) thì Cantơ đi tìm hạn chế của chủ
nghĩa duy lý và logic. Với ảnh hưởng của Hium, Cantơ ngày càng xa rời cách
nhìn duy lý và logic. Đó chính là xuất phát cho sự chuyển biến từ các tác
phẩm thời kỳ tiền phê phán sang các tác phẩm thời kỳ phê phán.
2.2.2.Triết học thời kỳ phê phán
Do chịu ảnh hưởng của các biến đổi ở Pháp và Tây âu trước cách mạng
tư sản 1789 và đặc biệt là ảnh hưởng của Hium, thế giới quan của Cantơ đã
biến đổi. Ông đặt nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ các vấn đề triết học từ trước
tới nay trên tinh thần phê phán như quan niệm về con người, về lý tính, về khả
năng nhận thức của con người, về hành vi đạo đức, về trách nhiệm và hạnh
phúc của con người. Theo Cantơ, khoa học về con người chưa được chú trọng
nghiên cứu và phát triển đúng mức, chưa hướng vào việc giải quyết những
vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn để con người có cách nhìn về
bản thân và thế giới, từ đó vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho hoạt động
sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo, đạo đức, tự do, xứng với
nhân vị của con người. Hệ thống triết học của Cantơ được thể hiện qua bộ 3
tác phẩm “Phê phán” nổi tiếng của ông. Trong Phê phán lý tính thuần túy
(1781), ông trình bày nhận thức luận. Ngoài ra, nhận thức luận còn được trình
bày một cách phổ cập hơn trong cuốn Tiểu luận về mọi siêu hình học tương
lai có quyền được tự coi là khoa học (1783). Luân lý học của ông được trình
bày trong cuốn Phê phán lý tính thực tiễn (1788). Cuốn Phê phán năng lực
phán đoán (1790) dành chủ yếu cho những vấn đề mỹ học và cả vấn đề về
tính có mục đích trong thế giới hữu cơ.
Theo Cantơ, các triết gia từ xưa tới nay hình như quên mất vấn đề quan
trọng là con người. Vì vậy, Cantơ đặt nhiệm vụ hàng đầu cho mình là phải xác

5


6

định bản chất của con người, toàn bộ các vấn đề của triết học phải được
hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn
của con người. Triết học phải đem lại cho con người một cơ sở và nền tảng
thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống con người
vì những lý tưởng nhân đạo. Để làm được điều đó thì triết học phải lý giải các
vấn đề : Tôi có thể biết được cái gì?, Tôi cần phải làm gì?, Tôi có thể hy vọng
cái gì?, Con người là gì?.
Bước ngoặt trong sự phát triển triết học của Cantơ là cuộc gặp gỡ của
ông với thuyết duy nghiệm của Hume. Ông nói: “Tôi công khai thú nhận, gợi ý
của David Hume chính là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ
giáo điều nhiều năm về trước và đã vạch ra một hướng đi mới cho các tra cứu
của tôi trong lĩnh vực tư duy triết học”. Cantơ từ chối theo con đường của
Hume không chỉ vì nó có thể dẫn ông tới chủ nghĩa hoài nghi, mà còn vì ông
cảm thấy rằng, mặc dù Hume đã đi đúng đường nhưng không hoàn thành
nhiệm vụ giải thích làm thế nào để đạt được tri thức. Vì vậy, Cantơ đã tìm cách
xây dựng trên điều mà ông nghĩ là có giá trị cả trong chủ nghĩa duy lý lẫn trong
chủ nghĩa duy nghiệm, bác bỏ điều gì không thể bảo vệ trong hệ thống này.
Ông bắt đầu một đường lối mới mà ông gọi là “triết học phê phán”.
Triết học phê phán của Cantơ chủ yếu phân tích khả năng của lý trí con
người, được ông hiểu là “ một sự truy tìm phê phán khả năng của lý trí liên
quan tới mọi nhận thức mà nó có thể cố gắng đạt tới một cách độc lập với mọi
kinh nghiệm”. Đường lối triết học phê phán của ông đặt ra là “năng lực hiểu
biết và lý trí có thể biết những gì và bao nhiêu mà không cần kinh nghiệm?”.
Chính vì vậy, triết học lý luận của Cantơ chủ yếu đề cập tới nhận thức luận và
lôgic học với mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho con
người nhằm giải đáp cho câu hỏi “con người có thể biết được cái gì?”.

6


7

3. Những nội dung chính của “triết học lý luận”
Triết học lý luận là một trong ba bộ phận cơ bản của triết học Cantơ, nó
giải quyết một trong ba vấn đề lớn được đặt ra trong hệ thống triết học của
ông. Bộ phận này được ông trình bày một cách chi tiết và toàn diện trong tác
phẩm “ Phê phán lý tính thuần tuý” được ông viết vào năm 1781. Tác phẩm
này đã vạch ra giới hạn cho lý trí con người trong hoạt động nhận thức và nó
chính là lời giải đáp cho một trong ba câu hỏi lớn mà Cantơ đã đặt ra trong hệ
thống triết học của mình: Với tư cách là con người, tôi có thể biết gì? Câu hỏi
này được trả lời trong “Triết học lý luận”. Ở đây, ông xác định những điều
kiện và giới hạn nhận thức của con người, vạch ra rằng con người có tri thức
về cái gì, giới hạn của chúng ra sao, địa vị con người được xác định trong
hoạt động nhận thức như thế nào?
Trong hệ thống triết học của mình, Cantơ còn đặt ra hai câu hỏi lớn
khác nằm trong hai bộ phận còn lại: với tư cách là con người, tôi cần phải làm
gì?, được trả lời trong “ Triết học thực tiễn”; với tư cách là con người, tôi có
thể hy vọng gì?, được trả lời trong “Triết học thẩm mỹ” và “ Mục đích luận”.
Cantơ được coi là người đầu tiên trong lịch sử loài người đã đứng ra
nghiên cứu về khả năng cũng như giới hạn của tri thức con người. Ông phân
biệt thế nào là tri thức và thế nào là suy tưởng. Ông cũng là người phân biệt
hai loại tri thức của con người: tri thức thường nghiệm (tri thức kinh nghiệm
cảm tính) và tri thức thực nghiệm (tri thức khoa học). Cantơ cho rằng mỗi tri
thức bao giờ cũng là một thể thống nhất của quan niệm và cảm giác; trong đó,
quan niệm là khuôn hình hay hình thức của tri thức, còn cảm giác là vật liệu
hay chất thể của tri thức. Thiếu cảm giác, những quan niệm của ta chỉ là
những khuôn hình trống rỗng, không phải là tri thức; thiếu quan niệm thì
những cảm giác của ta sẽ chỉ là những cảm giác mù, tức cảm giác mà không
biết là cảm giác gì.

7


8

Khi giải quyết vấn đề khả năng tri thức của con người, Cantơ đã bắt
đầu từ chỗ phân biệt thế nào là tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm cảm
tính. Cantơ viết: “Tất cả mọi tri thức của ta bắt đầu từ kinh nghiệm. Nhưng
nói như thế không có nghĩa là tri thức của ta hoàn toàn do kinh nghiệm vì
trong tri thức của ta còn có phần trí năng không lệ thuộc vào kinh nghiệm”.
Như vậy, giữa hai loại tri thức trên, có một sự khác biệt lớn; một bên hoàn
toàn thụ động nhưng bên kia lại rất năng động và luôn tìm kiếm những
phương pháp mới.
Khi nói về tri thức kinh nghiệm cảm tính, ông cho rằng, kinh nghiệm
cho ta biết sự vật thế này hay thế khác, nhưng không thể cho ta biết sự vật có
thể là thế khác chăng. Do đó, tri thức kinh nghiệm cảm tính luôn có tính chất
vụn vặt, lẻ tẻ và bó hẹp vào từng sự kiện mà ta đã kinh nghiệm. Trái lại, tri
thức khoa học vượt tới mức phổ quát và tất yếu, bao trùm lên tất cả mọi
trường hợp có thể xảy ra giống như vậy, đó chính là trí năng của con người.
Cantơ gọi loại tri thức này là tri thức Tiên thiên. Cantơ viết: “Tính chất tất yếu
và tính chất phổ quát thực sự là những dấu hiệu chắc chắn của một tri thức
Tiên thiên và hai tính chất này không khi nào lìa nhau”. Từ quan niệm về tri
thức nêu trên, Cantơ đã phê phán nghiêm khắc những quan niệm của các triết
gia duy cảm và duy lý.
Như vậy, có thể thấy ở học thuyết của Cantơ, tri thức được cấu tạo bởi
hai yếu tố không thể thiếu: quan niệm và cảm giác, không có yếu tố nào được
coi là cần thiết hoặc quan trọng hơn yếu tố kia. Trên cơ sở đó, Cantơ đã dùng
phương pháp phê bình để chứng minh sự khác biệt hoàn toàn giữa hai loại tri
thức trên. Từ đó, ông đi đến khẳng định chỉ có tri thức khoa học mới có thể
vạch ra được quy luật của thế giới hiện tượng.
Cantơ xác định đối tượng của “triết học lý luận” không phải là bản thân
thế giới tự nhiên như nó tồn tại, mà là hoạt động nhận thức của con người, là
nghiên cứu những điều kiện và năng lực chủ thể của nhận thức. Phù hợp với

8


9

đối tượng đó thì nhiệm vụ của triết học lý luận là vạch ra xem khoa học sản
sinh ra tri thức như thế nào và từ đó xác định bản chất của con người trong
lĩnh vực sinh hoạt tri thức.
Để giải quyết các vấn đề đó, Cantơ đã chỉ ra đối tượng nhận thức của
con người là thế giới, nhưng bản thân thế giới này được Cantơ chia làm hai:
thế giới hiện tượng và thế giới “vật tự nó”; trong đó thế giới hiện tượng là sản
phẩm của sự tác động của thế giới “vật tự nó” vào chủ thể, còn thế giới “vật
tự nó” là thế giới của những gì tồn tại do bản thân nó hay nó là nguyên nhân
tồn tại của nó. Nói cách khác, đây là thế giới tồn tại khách quan đối với con
người. Thế giới hiện tượng mang tính hữu hạn vì những sự vật của nó tồn tại
trong không gian và thời gian, hơn nữa chúng có không gian và thời gian, do
đó nó là cái tạm thời. Còn thế giới “vật tự nó” là cái vô hạn, vĩnh viễn vì nó
tồn tại ngoài không gian và thời gian, nó không có không gian và thời gian.
Nếu thế giới hiện tượng tồn tại tuân theo quy luật, tất yếu thì thế giới “vật tự
nó” tồn tại không tuân theo quy luật, tất yếu hay nói cách khác nó không bị
chi phối bởi quy luật, tất yếu. Nếu thế giới hiện tượng mang tính nhân quả thì
thế giới “vật tự nó” tồn tại ngoài liên hệ nhân quả. Từ đó, Cantơ nhận xét, thế
giới hiện tượng là thường nghiệm, là thế giới của những cái tương đối; còn
thế giới “vật tự nó” là siêu nghiệm, là thế giới của những cái tuyệt đối.
Khi bàn về quá trình nhận thức của con người, Cantơ cho rằng con
người ta nhận thức và từ đó có tri thức bởi một năng lực tiên thiên mà ông gọi
là lý tính lý luận (hay lý tính tiên thiên, lý tính thuần tuý). Ông coi lý tính là
một năng lực tinh thần có sẵn ở con người từ đầu ngay khi mới sinh ra và có
như nhau ở tất thảy mọi người. Ông gọi tính chất ấy là tiên thiên. Lý tính lý
luận trong hoạt động nhận thức của con người có ba cấp độ: cảm năng, trí
năng và lý năng. Mặc dù đối tượng nhận thức là thế giới nói chung nhưng ba
cấp độ này có chức năng khác nhau và tương ứng với chúng có ba học thuyết
nghiên cứu về những khả năng nhận thức của con người. Như vậy, “triết học

9


10

lý luận” của Cantơ không phải nghiên cứu giới tự nhiên mà là nghiên cứu
hoạt động nhận thức của con người với mục đích xác lập các quy luật, giới
hạn của lý tính con người.
3.1.Học thuyết về cảm giác siêu nghiệm
Học thuyết này nghiên cứu tất cả các hình thái của khả năng cảm giác ở
con người. Điều này cho thấy, Cantơ luôn chú tâm đến những gì là căn
nguyên, là khả năng thuần tuý của nhận thức.
Cantơ cho rằng, nhận thức của con người trước hết được thực hiện bởi
cảm năng. Cảm năng là một năng lực tiên thiên thuộc về lý tính lý luận. Cảm
năng đem lại cho con người những tri thức kinh nghiệm cảm tính. Nhưng để
có những tri thức kinh nghiệm cảm tính đó thì hoạt động của cảm năng phải
có bộ công cụ đó là không gian và thời gian. Vì không có bất kỳ tri giác nào
vượt ra khỏi không gian và thời gian cụ thể nên tri thức gắn liền với nó không
có được tính phổ quát và tất yếu. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng không gian
và thời gian không phụ thuộc vào sự vật, mà đó là những hình thức tiên thiên
của cảm năng và nó có sẵn trong cảm năng.
Nếu như chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: không gian và thời
gian là phương thức tồn tại của vật chất thì trong Triết học phê phán, Cantơ đã
xem không gian là hình thức bên ngoài và thời gian là hình thức bên trong của
kinh nghiệm cảm tính. Theo Cantơ, quá trình nhận thức được tiến hành khi sự
vật tác động vào giác quan của chúng ta, tạo cho chúng ta những cảm giác
hỗn độn, không có trật tự, không có khuôn hình. Nhờ không gian và thời gian
tiên thiên mà cảm năng sắp xếp những cảm giác lại làm cho chúng trở nên có
trật tự, có khuôn hình. Khi những cảm giác có trật tự, có khuôn hình thì đó là
những tri thức cảm tính. Quá trình thực hiện cảm năng để sản sinh ra những
tri thức kinh nghiệm cảm tính được Cantơ gọi là cảm tính; nhưng vì tri thức
kinh nghiệm cảm tính có đặc trưng đơn lẻ, cá biệt, mang tính chất chủ quan
nên theo Cantơ tri thức chưa thể vạch ra được các quy luật, các liên hệ tất yếu

10


11

nhân quả của sự vật. Vì vậy theo Cantơ, trong lý tính lý luận còn có năng lực
đem lại cho chúng ta tri thức đó là trí năng.
3.2.Học thuyết về phép phân tích siêu nghiệm
Khi bàn về vấn đề tri thức trong “triết học lý luận”, Cantơ quả quyết
rằng, con người chỉ có trực giác giác quan mà nhờ đó con người biết sự vật
theo cách đã bị sự vật kích động và sau đó nhờ trí năng con người mới thực sự
nhận thức sự vật. Như vậy, nhiệm vụ của trí năng là nhận thức sự vật. Cantơ
cho rằng, cảm năng mới chỉ cho ta những tri giác cá thể, đơn lẻ, mang tính
chủ quan. Để những tri giác trở thành kinh nghiệm, là cái khách quan và
chung hơn thì nhận thức phải dựa vào trí năng. Trí năng là một năng lực tiên
thiên, cho ta những tri thức về các mối liên hệ tất yếu, nhân quả của sự vật.
Nói cách khác, trí năng có thể thoả mãn con người về những tri thức khoa học
với hai đặc tính: phổ quát và tất yếu. Để sản sinh ra những tri thức khoa học
đó, trí năng phải dựa trên bộ công cụ là những phạm trù tiên thiên. Quá trình
trí năng sản sinh ra tri thức khoa học Cantơ gọi là giác tính.
Trong “ triết học lý luận”, ngay khi bàn về tri thức, Cantơ đã bàn ngay
đến phạm trù vì ông coi đó là những điều kiện để ta có thể có tri thức và cũng
là hình thức nhất định phải có của tri thức. Cantơ đã xây dựng hệ thống gồm
12 phạm trù được chia thành 4 nhóm. Nhóm thứ nhất gồm các phạm trù về số
lượng: số đơn, số nhiều, toàn thể. Nhóm thứ hai gồm các phạm trù về chất:
hiện thực, phủ định, hạn chế. Nhóm thứ ba là các phạm trù tương quan: tuỳ
thuộc và độc lập, nguyên nhân và kết quả, tác động lẫn nhau. Nhóm thứ tư là
các phạm trù hình thức: khả năng và không khả năng, tồn tại và không tồn tại,
tất yếu và ngẫu nhiên.
Các phạm trù trên là những khái niệm tiên nghiệm của trí năng có sẵn
tính phổ quát và tất yếu. Chúng là những khái niệm đã được con người định
trước về sự vật. Nhờ tính phổ quát và tất yếu, khả năng khái quát và các phạm
trù của trí năng vượt ra khỏi phạm vi ý thức cá nhân. Khi lý luận về các phạm

11


12

trù tiên thiên, Cantơ cho rằng chúng nguyên chỉ là những khuôn hình trống
rỗng mà chưa có nội dung, tức chưa có tri thức, mà “tư tưởng thiếu nội dung
thì trống rỗng, trực quan thiếu khái niệm thì mù quáng”. Do vậy, để có nội
dung và trở thành tri thức, các phạm trù phải được vận dụng vào kinh nghiệm
cảm tính của con người, lúc đó chúng trở nên có nội dung kinh nghiệm và do
được vận dụng bởi các phạm trù mang sẵn tính phổ quát và tất yếu nên những
kinh nghiệm cảm tính trở thành tri thức khoa học. Với điều này thì sự phê
phán lý luận của Cantơ có tác dụng khắc phục cái cực đoan, hạn chế của chủ
nghĩa duy lý và duy cảm.
Với tư cách là chủ thể nhận thức, con người chỉ biết được những gì do
nó tạo ra. Các phạm trù là những khuôn mẫu do giác tính tạo nên và sự vật
được tạo dựng theo những khuôn mẫu này. Do đó, nguồn gốc tri thức của con
người là giác tính, là kết quả “suy diễn tiên nghiệm” của các phạm trù vào
kinh nhgiệm cảm tính. Đến đây, Cantơ khẳng định lại: tri thức của con người
chỉ là sự hiểu biết về những gì có tính chất hiện tượng luận, còn “vật tự nó”
với tính cách là cái tuyệt đối thì không thể nhận thức được.
3.3.Học thuyết về phép biện chứng siêu nghiệm
Nếu cảm năng và trí năng là những năng lực tiên thiên cho ta tri thức về
sự vật, hiện tượng thì lý năng-một năng lực tiên thiên khác thuộc về lý tính lý
luận lại cho ta những ý tưởng, ý niệm siêu nghiệm về thế giới “vật tự nó”. Đó
là những ý tưởng, ý niệm về những tồn tại ngoài không gian và thời gian,
ngoài liên hệ nhân quả, ngoài tính quy luật, tính tất yếu, tức là ý niệm, ý
tưởng về cái tuyệt đối hay là ý tưởng, ý niệm về cái siêu nghiệm. Quá trình sử
dụng lý năng, Cantơ gọi là lý tính.
Cantơ cho rằng, nếu giác tính đã dừng lại ở khuôn khổ hiện tượng luận
và thừa nhận “ vật tự nó” là không thể nhận thức được lý tính- đó là khả năng
trí tuệ cao nhất của con người, lại có khát vọng để vươn tới nhận thức mọi cái

12


13

một cách trọn vẹn, tuyệt đối. Cantơ yêu cầu nhận thức của con người phải
vượt qua giới hạn giác tính, xem cái tuyệt đối như là mục tiêu vươn tới.
Theo Cantơ, bản chất của lý tính có tính chất biện chứng và học thuyết
về lý tính là phép biện chứng tiên nghiệm. Năng lực lý tính là năng lực cao
nhất của chủ thể. Năng lực này không thể trực tiếp vận dụng vào đối tượng cụ
thể và kinh nghiệm cảm tính mà chỉ vận dụng vào khái niệm, phán đoán và
quy luật của lý trí. Năng lực tổng hợp của lý tính thông qua phương thức suy
luận gián tiếp để khái quát những tri thức phong phú của tư duy cảm tính
thành những nguyên lý cơ bản, quan trọng nhất. Chính điều này làm cho lý
tính có được tri thức khách quan khoa học. Trong khi năng lực nhận thức của
cảm tính là trực tiếp, tương đối hữu hạn, có điều kiện thì ngược lại, năng lực
nhận thức của lý tính luôn luôn khát vọng đạt tới những tri thức tuyệt đối, tự
do, vô điều kiện. Điều này được Cantơ thể hiện dưới dạng các ý niệm chủ yếu
của lý tính bao gồm ý niệm về tâm lý học, vũ trụ học và thần học. Tương ứng
với tâm lý học là linh hồn, là sự thống nhất tối cao của mọi hiện tượng tinh
thần; tương ứng với vũ trụ học là thế giới, là sự thống nhất tối cao của mọi
hiện tượng vật lý; tương ứng với thần học là Thượng đế, là sự thống nhất tất
cả mọi hiện tượng vật chất và tinh thần.
Như vậy, Cantơ đã hình thành các con đường tiếp cận với đối tượng
truyền thống của triết học duy tâm như linh hồn, thế giới và Thượng đế. Theo
Cantơ, khi lý tính của con người muốn xâm nhập vào thế giới “vật tự nó” để
đạt được tri thức tuyệt đối thì lại nảy sinh ra mâu thuẫn (gọi là antinomia) vì
khả năng của con người không cho phép làm được việc đó. Cantơ khẳng định
tồn tại bốn antinomia là bốn câu hỏi được đặt ra cho ý niệm về thế giới. Các
antinomia này cũng chính là những mâu thuẫn bên trong của ý niệm lý tính, là
những sai lầm bất lực của lý tính sau khi vượt ra khỏi phạm vi kinh nghiệm để
xâm nhập vào thế giới “vật tự nó”. Chính điều này bộc lộ hạn chế của lý tính.
Những ý niệm trên đây là lĩnh vực mà nhận thức của con người không đạt tới

13


14

được, là những gì nằm ngoài phạm vi tri thức của con người, cho nên không
thể dựa vào lý tính của con người để đạt tới được mà chỉ có dùng tín ngưỡng,
niềm tin để giải quyết chúng.
Như vậy, khi đi từ giác tính đến lý tính, Cantơ đã hạ thấp ý nghĩa của tư
duy bằng cách phủ nhận năng lực của lý tính có thể đạt được chân lý khách
quan. Cantơ cho rằng triết học không thể nhận thức được chân lý khách quan.
Ông đã cố gắng để làm cho người ta tin chỉ có triết học của ông là có thể chấp
nhận được. Tuy nhiên, triết học của Cantơ đã tách rời nhận thức ra khỏi hiện
thực khách quan nên đã kìm hãm ông trong vòng luẩn quẩn của ý thức tiên
nghiệm. Nhận thức hoàn toàn bị tách rời khỏi hiện thực khách quan và làm
nhiệm vụ tự nó nghiên cứu bản thân; nghĩa là đối tượng của triết học không
phải là thế giới khách quan, là những quy luật chung của thế giới hiện thực
mà là thế giới hiện tượng do lý tính của con người xây dựng. Cantơ không coi
nhận thức là quá trình lịch sử dựa vào hoạt động thực tiễn của con người mà
coi nó như là một cái gì mà khi đã có thì lúc nào cũng như vậy. Ở đây, Cantơ
đã tách rời hiện tượng ra khỏi bản chất. Không nhìn thấy được thống nhất
biện chứng của chúng nên theo ông, triết học thực sự không phải là học thuyết
về “vật tự nó” mà là hiện tượng luận, nghĩa là chủ thể nhận thức chỉ nhận thức
được những gì do chính mình sáng tạo ra.
Thông qua các quan niệm về antinomia và cách giải quyết chúng,
Cantơ đã chứng tỏ sự nhất quán là “vật tự nó” không thể nhận thức được. Con
người chỉ có tri thức về thế giới hiện tượng mà không thể có tri thức về thế
giới “vật tự nó” vì khi vấp phải những antinomia thì lý tính rơi vào sai lầm, do
đó lý năng không thể đem lại cho ta tri thức về “vật tự nó”. Đây là quan điểm
bất khả tri của Cantơ , nhưng “vật tự nó” bất tri mà khả niệm tức là không thể
có tri thức về “vật tự nó” nhưng lại có thể có ý niệm về “vật tự nó”. “Vật tự
nó” theo quan niệm của Cantơ là vũ trụ vô hạn, linh hồn bất tử và Chúa trời.
Đây là thế giới không tuân theo quy luật, không tuân theo liên hệ nhân quả,

14


15

không tồn tại trong không gian và thời gian nên nó là thế giới tự do tuyệt đối.
Ông tuyên bố, tự do tuyệt đối không thuộc thẩm quyền của nhận thức, “vật tự
nó” với tư cách là thế giới tự do tuyệt đối nằm ngoài lĩnh vực nhận thức. Điều
đó thể hiện sự khác nhau trong quan niệm về tự do của Cantơ, Spinôda và
Hêghen. Nếu như Spinôda và Hêghen coi tự do là tất yếu được nhận thức thì
Cantơ cho rằng tự do chỉ là tương đối thuộc về hiện tượng luận. Ngoài ra, còn
có thế giới siêu nghiệm, lĩnh vực của tự do tuyệt đối thì nhận thức của con
người không đạt tới được.
Đối với Cantơ, mọi tri thức và ý tưởng của con người bất luận về cái gì
cũng đều có nguồn gốc tiên thiên và đều là sản phẩm của sự thực hiện lý tính
lý luận ở con người. Xét về nguồn gốc, nhận thức là lĩnh vực của những hành
động tự quyết và tự do của lý tính con người, nhưng tri thức đòi hỏi có nội
dung, đối tượng và ở góc độ này thì nhận thức là lĩnh vực của những hành
động chất thể và thường nghiệm của con người. Chính vì vậy, trong sinh hoạt
tri thức, quá trình nhận thức hoặc chỉ đem lại cho con người những tri thức về
thế giới hiện tượng bởi cảm năng và trí năng, hoặc đem lại ý tưởng về thế giới
siêu nghiệm “vật tự nó” bởi lý năng.
Trong triết học phê phán, Cantơ còn đề cập tới lôgic học. Khi tới giai
đoạn nhận thức thứ 2 (giác tính) thì cần có tư duy dựa trên các khái niệm, mà
tư duy lại là đối tượng nghiên cứu của lôgic học. Cantơ phân biệt hai dạng
lôgic: lôgic đại cương (tức lôgic hình thức) và lôgic tiên nghiệm. Sự khác
nhau giữa chúng ở chỗ “lôgic đại cương sao nhãng với mọi nội dung của nhận
thức, tức mọi quan hệ của nó tới khách thể, mà chỉ nhận xem xét hình thức
lôgic của tư duy nói chung. Trong trường hợp đó, cần tồn tại một lôgic học
không lảng tránh với mọi nội dung của nhận thức; nó cần phải nghiên cứu cả
nguồn gốc của các tri thức của chúng ta về sự vật”. Cantơ chủ yếu đề cập tới
lôgic tiên nghiệm vì đây là công cụ nhận thức, là phương tiện làm giàu tri
thức tiên nghiệm tổng hợp.

15


16

Trên cơ sở ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa
kinh nghiệm, Cantơ đã làm được một cuộc cách mạng trong triết học. Cantơ
đã tìm cách xây dựng trên cả chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm,
không đơn thuần là sự kết hợp của hai đường lối ấy mà đã làm một cuộc cách
mạng trong triết học đó là “Triết học phê phán”. Triết học phê phán của ông
đã phân tích khả năng lý trí của con người được ông hiểu là “một sự truy tìm
phê phán khả năng của lý trí liên quan tới mọi nhận thức mà nó có thể cố
gắng đạt tới một cách độc lập với mọi kinh nghiệm”. Đường lối triết học đó
để trả lời cho câu hỏi thứ nhất mà chính ông đã đặt ra là: “Tôi có thể biết gì?”.
Chính lý luận nhận thức của Cantơ đã chứng minh cho câu trả lời câu hỏi đó.
Năng lực nhận thức của con người được ông chia ra thành ba trình độ nhận
thức: nhận thức cảm tính; nhận thức giác tính; nhận thức lý tính. Mỗi trình độ
nhận thức có một chức năng và giới hạn nhận thức riêng. Trên cơ sở trình độ
nhận thức này làm tiền đề cho trình độ nhận thức cao hơn, nhưng năng lực
nhận thức của con người vẫn bị giới hạn bởi thế giới hiện tượng, nó chưa vượt
ra được khỏi cái khuôn khổ của “vật tự nó”.

16


17

KẾT LUẬN
Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của triết học cổ điển
Đức. Hệ thống của ông có ảnh hưởng đối với sự ra đời của triết học Mác, tạo
nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều khuynh hướng triết học Phương tây hiện
đại. Cantơ thực sự đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử triết học, đúng như
ông muốn rằng cần phải làm một “cuộc cách mạng Côpecníc” cho triết học.
Nét nổi bật trong triết học của Cantơ là những quan niệm biện chứng về
giới tự nhiên. Trong tác phẩm “Lịch sử phổ thông” và “Lý thuyết bầu trời”,
ông đã nêu giả thuyết có giá trị về sự hình thành vũ trụ bằng cơn lốc và kết tụ
của các khối tinh vân. Cantơ cũng đưa ra một luận đề sau này được khoa học
chứng minh về ảnh hưởng lên xuống của thuỷ triều do lực hấp dẫn giữa trái đất
và mặt trăng gây ra đã ảnh hưởng tới trái đất, làm cho vòng xoáy của trái đất
quanh trục của nó mỗi ngày một chậm lại. Ăngghen đã đánh giá những phỏng
đoán của Cantơ là sự công phá vào quan điểm siêu hình (kể cả trong triết học
và khoa học).
Triết học của Cantơ là triết học nhị nguyên. Ông thừa nhận sự tồn tại
của thế giới các “vật tự nó” ở bên ngoài con người, thế giới đó có thể tác động
tới các giác quan của chúng ta. Ở điểm này, Cantơ là nhà duy vật. Mặt khác,
ông lại cho rằng thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên
quan đến cái gọi là thế giới “vật tự nó”,chúng chỉ là các “hiện tượng phù hợp
với cái cảm giác và tri thức do lý tính của ta tạo ra”, nhưng các cảm giác và tri
thức không cung cấp hiểu biết về thế giới “vật tự nó”. Nói cách khác, theo
Cantơ nhận thức, con người không thể chỉ biết được hiện tượng bề ngoài mà
không xâm nhập vào được bản chất đích thực của sự vật, không phán xét gì
được sự vật như chúng tự thân tồn tại. Như vậy, trong lĩnh vực nhận thức
luận, Cantơ là người theo thuyết “không thể biết”. Nhận thức luận của Cantơ
có tính chất duy tâm thể hiện ở sự phản ứng của ông với chủ nghĩa duy vật

17


18

Pháp và sự khôi phục lại Thượng đế. Ông nói rằng trong nhận thức cần hạn
chế phạm vi của lý tính để dành cho đức tin.
Tính chất duy tâm trong triết học của Cantơ không nhất quán, đầy mâu
thuẫn. Lênin nhận xét: “Đặc trưng chủ yếu của triết học Cantơ là ở chỗ nó
dung hoà chủ nghĩa duy ý chí với chủ nghĩa duy tâm, thiết lập sự thoả hiệp
giữa hai chủ nghĩa, đó kết hợp hai khuynh hướng triết học khác nhau và đối
lập trong một hệ thống triết học duy nhất. Khi Cantơ thừa nhận rằng một cái
gì đó ở ngoài chúng ta thì Cantơ là người duy vật. Khi ông tuyên bố rằng cái
”vật tự nó” ấy không thể nhận thức được là siêu nghiệm, là ở thế giới bên kia
thì ông ta là người duy tâm”.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đánh giá cao những công trình của
Cantơ về khoa học tự nhiên, về những vấn đề phép biện chứng, nhưng đã bác
bỏ thuyết “không thể biết” và nghiêm khắc phê phán những quan niệm duy
tâm của Cantơ về không gian và thời gian, về các phạm trù, bởi vì Cantơ coi
phạm trù chỉ là hình thức tiên thiên của lý tính con người. Mặc dù có những
hạn chế nhất định, song Cantơ thực sự một nhà triết học vĩ đại của nền triết
học cổ điến Đức nói riêng và lịch sử triết học nhân loại nói chung. Ông có
nhiều đóng góp lớn lao cho sự phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, trong đó
“triết học lý luận” là một trong những hạt nhân cơ bản đã thể hiện rõ những
cống hiến ấy./.

18


19

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Lịch sử triết học cổ điển Đức- NXB Khoa học xã hội 2014
1. TS. Bùi Thị Thanh Hương- Nguyễn Văn Đại, Giáo trình Khái lược lịch
sử triết học, Nxb Chính trị- hành chính Hà Nội 2013
2. Giáo trình Triết học Mác Lênin Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2012
3. Bùi Thị Thanh Hương - Nguyễn Văn Đại, Khái lược lịch sử triết học,
Khoa Triết học - HV BC&TT.
4. Lịch sử triết học (giáo trình dùng cho các trường đại học và cao đẳng) –
Nhà xuất bản Giáo

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×