Tải bản đầy đủ

Giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện tủa chùa, tỉnh điện biên



i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
luận văn nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 1 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thanh Bình


ii

LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời
cảm ơn đến TS Bùi Đình Hòa người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế và
PTNT, phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp
giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đến Huyện Ủy, UBND huyện Tủa Chùa,
các phòng ban chức năng của huyện; UBND và các hộ nông dân các xã … đã
cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình,
người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng 1 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thanh Bình


5

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................ iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................. vii
MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu.......................................................................................... 3
3. Các câu hỏi đặt ra nghiên cứu............................................................................ 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN............................................... 5
1.1. Cơ sở lý luận................................................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm nghèo.......................................................................................... 5
1.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói................................................................... 6
1.1.3. Khái niệm nghèo đa chiều........................................................................... 9
1.1.4. Chuẩn nghèo đa chiều................................................................................ 10
1.1.5. Phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều........................................ 12
1.1.6. Cách tiếp cận đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam.................................. 13
1.1.7. Thước đo nghèo đói đa chiều trong đánh giá mức độ phát triển của

các cộng đồng, các địa phương................................................................. 14
1.1.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo đa chiều bền vững........................ 15
1.2. Cơ sở thực tiễn.............................................................................................. 17
1.2.1. Kinh nghiệm giảm nghèo trên thế giới...................................................... 17


1.2.2. Kinh nghiệm ở Việt Nam........................................................................... 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................... 30
2.2. Nội dung nghiên cứu..................................................................................... 30
2.3. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................... 30


2.4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 30
2.4.1. Chọn điểm và mẫu nghiên cứu.................................................................. 30
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu..................................................................... 31
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu......................................................................... 32
2.4.4. Phương pháp phân tích.............................................................................. 32
2.4.5. Phương pháp PRA..................................................................................... 32
2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu........................................................................ 32
2.5.1. Nhóm chỉ tiêu phản ảnh các nguồn lực và phát triển kinh tế..................... 32
2.5.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo đa chiều................................... 32
2.5.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh giảm nghèo đa chiều........................................... 33
2.5.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự bền vững của giảm nghèo đa chiều................33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN............................. 34
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu........................................................................ 34
3.1.1. Điều kiện tự nhiên..................................................................................... 34
3.1.2. Đặc điểm KT - XH huyện Tủa Chùa......................................................... 40
3.1.3. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong thực hiện

chương trình giảm nghèo của huyện tủa Chùa- tỉnh Điện Biên.................47
3.2. Thực trạng nghèo đói của huyện Tủa Chùa.................................................. 49
3.2.1. Thực trạng nghèo của huyện Tủa Chùa theo chuẩn nghèo giai đoạn

2011 - 2015............................................................................................... 49
3.2.2. Thực trạng nghèo của huyện Tủa Chùa theo chuẩn nghèo giai đoạn

2016 - 2020............................................................................................... 51
3.2.3. Thực trạng nghèo tại 3 xã được chọn để khảo sát nghiên cứu...................53
3.3. Thực trạng thiếu hụt chiều nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo

của các hộ điều tra..................................................................................... 53
3.3.1. Thực trạng thiếu hụt các dịch vụ xã hội của các hộ điều tra...................... 53
3.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng tới ngưỡng thiếu hụt và nguyên nhân nghèo......54
3.3.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo đa chiều............................................ 59
3.4. Các giải pháp giảm nghèo đa chiều.............................................................. 62


3.4.1. Mục tiêu giảm nghèo bền vững theo tiêu chí tiếp cận đa chiều.................62
3.4.2. Các giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí tiếp cận đa chiều..........63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................... 70
1. Kết luận........................................................................................................... 70
2. Kiến nghị......................................................................................................... 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................. 75
PHỤ LỤC ...............................................................................................................


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa tiếng Việt

BCH

Ban chấp hành

BTXH

Bảo trợ xã hội

CS

Chính sách

DTTS

Dân tộc thiểu số

ESCAP

Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc

HN

Hộ nghèo

KT-XH

Kinh tế - xã hội

KV

Khu vực

LĐ-TB&XH

Lao động - thương binh và xã hội

MPI

Thước đo nghèo đói đa chiều

MTTQ

Mặt trận tổ quốc

NQ

Nghị quyết

NSNN

Ngân sách nhà nước



Quyết định

THCS

Trung học cơ sở

TTCP

Thủ tướng chính phủ

Ttg

Thủ tướng

TV

Thành viên

TW

Trung ương

UN

Tổ chức Liên hợp quốc

UNDP

Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc

VPQGGN

Văn phòng Quốc gia Giảm nghèo

WB

Ngân hàng Thế giới

XĐGN

Xóa đói giảm nghèo


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1:

Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia).............8

Bảng 3.1.

Tình hình sử dụng đất của huyện Tủa Chùa qua các năm
(2015 - 2017)...............................................................................36

Bảng 3.2.

Cơ cấu kinh tế huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên giai đoạn
2015 - 2017..................................................................................41

Bảng 3.3.

Biến động dân số và lao động huyện Tủa Chùa giai đoạn
2015 - 2016..................................................................................43

Bảng 3.4.

Số trường học, lớp học và phòng học phổ thông.........................45

Bảng 3.5.

Số giáo viên và học sinh phổ thông.............................................45

Bảng 3.6.

Tỷ lệ học sinh chuyển cấp và hoàn thành cấp học phân theo
cấp học và phân theo giới tính.....................................................46

Bảng 3.7.

Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế...................................46

Bảng 3.8.

Một số chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe.........................................47

Bảng 3.9.

Tỷ lệ hộ nghèo huyện Tủa Chùa giai đoạn 2013 - 2015..............49

Bảng 3.10. Tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số huyện Tủa Chùa giai
đoạn 2013 - 2015.........................................................................50
Bảng 3.11. Tỷ lệ hộ nghèo huyện Tủa Chùa giai đoạn 2015 - 2017..............51
Bảng 3.12. Tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số huyện Tủa Chùa giai
đoạn 2015 - 2017.........................................................................52
Bảng 3.13. Thực trạng nghèo tại 3 xã nghiên cứu giai đoạn từ 2015 - 2017...53
Bảng 3.14. Mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của các hộ điều tra ...
54 Bảng 3.15. Tỷ lệ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản ở các dân tộc........55
Bảng 3.16. Tỷ lệ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản theo giới tính của chủ hộ55
Bảng 3.17. Tỷ lệ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản theo nhóm hộ.............56
Bảng 3.18. Thực trạng thu nhập của các hộ điều tra......................................57
Bảng 3.19. Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra.......................................... 58
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của quy mô nhân khẩu tới nghèo..............................58
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của quy mô đất đai tới nghèo................................... 59
Bảng 3.22. Đánh giá của hộ điều tra về nguyên nhân nghèo.........................60


10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trọng
quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Trong giai đoạn
2011-2015, dưới sự Lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo thường xuyên, sát sao của
Quốc hội, Chính phủ, với sự nỗ lực liên tục, không ngừng của các cấp, các ngành
và toàn xã hội, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam đã thu được những kết quả
quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% năm 2010, xuống còn
4,25% năm 2015; Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016-2020, đầu năm 2016, cả nước có 2.338.569 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,88%;
1.235.784 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,22%[10]. Thành tựu giảm nghèo của Việt
Nam đã được Liên hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong
việc thực hiện một số mục tiêu Thiên niên kỷ.
Tuy nhiên, công tác giảm nghèo còn nhiều khó khăn, thách thức, vẫn còn
nhiều nơi tỷ lệ nghèo ở mức cao, lên tới 50%, cá biệt trên 60-70%; Tỷ lệ hộ
nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vùng dân tộc và miền núi cao nhất cả nước;
tình trạng tái nghèo phổ biến ở nhiều nơi. Năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo khu vực
miền núi Tây Bắc là 34,52%, miền núi Đông Bắc: 20,74%; Tây Nguyên:
17,14%; các tỉnh Bắc Trung Bộ: 12,5%. Kết quả giảm nghèo thiếu tính bền
vững. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền
núi thấp: 21% số người trong độ tuổi đi học không biết đọc, biết viết chữ phổ
thông; số người trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo chiếm 89,5%, riêng số
người trong độ tuổi lao động là người dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo chiếm
94,2% (tỷ lệ này ở đồng bào dân tộc Mông là 98,7%; Khmer: 97,7%; Thái:
94,6%; Mường: 93,3%); chất lượng đào tạo nghề thấp [10].
Đội ngũ cán bộ y tế vùng dân tộc và miền núi vừa thiếu, vừa yếu về
chuyên môn nghiệp vụ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số. Trang thiết bị y tế
thiếu và lạc hậu, phần lớn người nghèo vùng dân tộc và miền núi không có điều
kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng tốt [10].


Hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu, đặc biệt đội ngũ cán bộ có
năng lực, trình độ còn hạn chế, nhất là thiếu đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu
số hoặc có cán bộ dân tộc nhưng chưa được đào tạo. Tỷ lệ cán bộ là người dân
tộc thiểu số trong chính quyền cấp huyện và tỉnh tại các địa phương có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp (khoảng 10,9% và 11,32%). Trong tổng số
48.200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ
sở chiếm 45%, tiểu học: 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học[10].
Tỷ lệ người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh không
cao, trung bình chỉ đạt 44,8%. Tỷ lệ phụ nữ đến các cơ sở y tế để khám thai chưa
cao và chưa phổ biến ở một số dân tộc, trung bình chỉ đạt 70,9% phụ nữ khám
thai ít nhất một lần tại các cơ sở y tế. Tập quán sinh con tại nhà rất phổ biến ở
các DTTS, mới có khoảng 64% các ca sinh được thực hiện ở cơ sở y tế trong khi
có đến một nửa các DTTS lựa chọn phương pháp sinh con tại nhà là chủ yếu.
Về mặt giáo dục, đào tạo, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi còn rất thấp ở các
DTTS. Người DTTS biết đọc, biết viết tiếng phổ thông chưa cao, có nhiều dân
tộc hơn một nửa dân số mù chữ
Có 73,3% các hộ DTTS đã được tiếp cận đến nguồn nước hợp vệ sinh
trong sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh rất thấp,
trung bình chỉ có 27,9%. Mặc dù tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh khá cao, nhưng
có nhiều dân tộc đại đa số các hộ không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh,
như Khơ Mú, Chứt, La Ha, La Chí, Lào, Pu Péo[10]
Mặt khác, chuẩn nghèo theo thu nhập chưa phản ánh được đầy đủ các nhu
cầu cơ bản, lại được duy trì trong cả giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu
dùng hàng năm đều tăng, dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không
đáp ứng được nhu cầu bảo mức sống tối thiểu của người dân.
Phương pháp đo lường nghèo đa chiều mới được chính phủ ban hành cho
giai đoạn 2016-2020 hy vọng sẽ khắc phục được những điểm yếu trong đo lường
nghèo bằng thu nhập vốn đã bộc lộ những điểm yếu trong bối cảnh kinh tế, xã
hội đã có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng hội nhập hơn với kinh tế thế giới.


Nhưng đây là cách tiếp cận mới đối với Việt Nam, vì vậy cần có những nghiên
cứu cụ thể về cách tiếp cận này để chương trình giảm nghèo trong đó có giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số được bền vững hơn trong điều kiện đo
lường bằng tiêu chí mới.
Huyện Tủa Chùa là một huyện nghèo của tỉnh tỉnh Điện Biên và là huyện
có nhiều cộng đồng người dân tộc thiểu số sinh sống. Trong nhiều năm qua
huyện đã triển khai nhiều giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của huyện và đạt được những thành tựu nhất định. Tỷ lệ người dân được
tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời
sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. Tuy nhiên kết
quả giảm nghèo chưa được bền vững mặc dù đã đạt được những mục tiêu đề ra.
Tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ nghèo phát sinh còn lớn, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không
muốn thoát nghèo còn diễn ra phổ biến ở một bộ phận người dân, chênh lệch
người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo
nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao. Vấn
đề cấp thiết hiện nay là cần có các nghiên cứu, phân tích, đánh giá nghèo của
cộng đồng các dân tộc thiểu số của huyện một cách đúng đắn, từ đó đưa ra các
giải pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các điểm yếu, nhằm đưa cộng
đồng dân tộc thiểu số của huyện Tủa Chùa thoát nghèo bền vững trong giai đoạn
tiếp theo.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền
vững theo tiêu chí nghèo đa chiều cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện
Tủa Chùa tỉnh Điện Biên” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững theo

tiêu chí nghèo đa chiều.
- Đánh giá thực trạng nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều của đồng bào

dân tộc thiểu số tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững theo tiêu chí

nghèo đa chiều của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.


- Đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều

cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đến năm 2025.
3. Các câu hỏi đặt ra nghiên cứu
(1) Thế nào là nghèo đa chiều? Tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều là gì?
(2) Thực trạng nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều của dân tộc thiểu số ở

huyện Tủa Chùa,tỉnh Điện Biên như thế nào?
(3) Nguyên nhân nào dẫn tới nghèo đa chiều tại địa bàn nghiên cứu?
(4) Các yếu tố nào ảnh hưởng tới chương trình giảm nghèo bền vững theo

tiêu chí giảm nghèo đa chiều cho đòng bào dân tộc thiểu số tại huyện Tủa
Chùa,tỉnh Điện Biên?
(5) Các giải pháp nào cần thực hiện để giảm nghèo bền vững cho đồng

bào dân tộc thiểu số theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện Tủa Chùa,tỉnh Điện
Biên trong thời gian tới?
4. Ý nghĩa của đề tài luận văn
(i) Kết quả nghiên cứu của luận văn là làm tài liệu tham khảo tốt cho

những ai quan tâm đến giảm nghèo và giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận
nghèo đa chiều.
(ii) Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tư vấn cho

lãnh đạo huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong việc đưa ra được các chính sách
để phát huy các thế mạnh và hạn chế các điểm yếu, nhằm đưa cộng đồng dân tộc
thiểu số của huyện Tủa Chùa thoát nghèo bền vững trong giai đoạn tiếp theo.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm nghèo

Việt Nam thừa nhận quan điểm về đói nghèo của Hội nghị chống đói
nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok Thái Lan vào tháng 9/1993. Khái niệm đói nghèo được thể hiện như sau:
“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được xã hội
thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của
từng địa phương”[4]
Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức
sống ở mức tối thiểu, không thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu cơ
bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người.
Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v…
“Đói là một bộ phận của những người nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu như: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không duy trì cuộc
sống”.
“Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận
lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu ăn”.
“Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương”.
Nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là không gian, thời gian, môi
trường và giới.
Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định
như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải
bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp do thiên
tai, rủi do hay do con người gây ra).


Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ. Mặc dù trong
gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng
của nghèo.
Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu,
vùng xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa, dân cư ở các
vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo.
Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi
trường khắc nhiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không
đủ khả năng và điều kiện gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống [3].
Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cách tiếp cận khác nhau
nên có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến
đổi. Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến. Nó
biến đổi tùy theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng, miền, quốc gia.
1.1.2. Chuẩn mực xác định nghèo đói
1.1.2.1. Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới

Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên cơ
sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời
gian nhất định. Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường
sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là:
Đem chia dân số của 1 nước, 1 châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm
có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo. Theo cách
tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập
toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế
giới.
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ
giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu
người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ
giá hối đoái và tính theo USD.


Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các
nước trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000USD/người/năm là nước cực giàu.
+ Từ 20.000 đến dưới 25.000UDS/người/năm là nước giàu.
+ Từ 10.000 đến dưới 20.000USD/người/năm là nước khá giàu.
+ Từ 2.500 đến dưới 10.000USD/người/năm là nước trung bình.
+ Từ 500 đến dưới 2.500USD/người/năm là nước nghèo.
+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo.
Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới
1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của
đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác
nhau ở từng quốc gia. Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác
định là 14USD/người/ngày. Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB để xác
định nghèo của Việt Nam [13].
1.1.2.2. Xác định tiêu trí chuẩn nghèo của Việt Nam

- Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương
trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì. Lúc đầu, nghèo
được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu
nhập, kết quả là đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau
(bảng 1.1).
Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015,chương trình giảm nghèo của
nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm
từ 14,2% năm 2010 xuống 11,76% cuối năm 2011 (giảm 2,24%), 9,6% cuối năm
2012 (giảm 2,16%) và 7,8% cuối năm 2013 (giảm 1,8%) và cuối năm 2014 còn
5,97% (giảm 1,83%). Đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 4,25% theo
chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015.


Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)
Chuẩn nghèo đói
qua các giai đoạn
1993 - 1995
(Mức thu nhập
quy ra gạo)

1996 - 2000
(Mức thu nhập quy

Phân loại nghèo đói

Dưới 8 KG

Đói (KV thành thị)

Dưới 13 KG

Nghèo (KV nông thôn)

Dưới 15 KG

Nghèo (KV thành thị)

Dưới 20 KG

Đói (tính cho mọi KV)

Dưới 13 KG (45.000 đồng)

Nghèo (KV nông thôn, miền
núi, hải đảo)
bằng trung du)
Nghèo (KV thành thị)
Nghèo (KV nông thôn, miền

2001 - 2005

núi hải đảo)

(Mức thu nhập

Nghèo (KV nông thôn, đồng

tính bằng tiền)

bằng trung du)

2006 - 2010
(Mức thu nhập
tính bằng tiền)
2011 - 2015
(Mức thu nhập
tính bằng tiền)

quân/người/tháng

Đói (KV nông thôn)

ra gạo tương đương Nghèo (KV nông thôn, đồng
với số tiền)

Mức thu nhập bình

Dưới 15 KG (55.000 đồng)
Dưới 20 KG (70.000 đồng)
Dưới 25 KG (90.000 đồng)
Dưới 80.000 đồng
Dưới 100.000 đồng

Nghèo (KV thành thị)

Dưới 150.000 đồng

Nghèo (KV nông thôn)

Dưới 200.000 đồng

Nghèo (KV thành thị)

Dưới 260.000 đồng

Nghèo (KV thành thị)

Dưới 500.000 đồng

Cận nghèo (KV thành thị)

Từ 501.000 - 650.000 đồng

Nghèo (KV nông thôn)

Dưới 400.000 đồng

Cận nghèo (KV nông thôn)

Từ 401.000 - 520.000 đồng

(Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương tình mục tiêu quốc gia về XĐGN)
Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo đã giảm từ 58,33% cuối năm 2010
xuống 50,97% cuối năm 2011 (giảm 7,36%), 43,89% cuối năm 2012 (giảm


7,08%), 38,2% cuối năm 2013 (giảm 5,69%), 32,59% cuối năm 2014 (5,61%) và
còn 28% cuối năm 2015 (giảm 4,59%); bình quân giảm trên 6%/năm [7].
Bình quân tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước giảm 2%/năm, tỷ lệ hộ nghèo ở
các huyện nghèo giảm bình quân trên 6%/năm, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra theo
Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững
thời kỳ từ năm 2011-2020 và Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 phê
duyệt nội dung chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2012-2015 [7].
1.1.3. Khái niệm nghèo đa chiều

Xuất phát từ quan niệm: Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng
nghèo cần được nhìn nhận sự thiếu hụt/ không được thỏa mãn các nhu cầu cơ
bản của con người. Vì vậy nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con
người không được đáp ứng một hoặc một số các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa
có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang
được các quốc gia thừa nhận;
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc,
không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc
không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá
nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống
ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và
công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của
tất cả các tổ chức UN thông qua).
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các
quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ
phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người


mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục
tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận".
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh
tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu;
dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà
chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng
nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ
bản của con người.
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không
được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Nghèo đa chiều (multidimensional poverty): Đã ra đời trong đó xác định
rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh
hoạt khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác
nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ về:
sức khỏe, giáo dục và mức sống. Như vậy, sự nghèo khó không chỉ đơn thuần là
một cá thể mà nó bao gồm các yếu tố kìm hãm cá thể đó không tiếp cận được các
nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra các giải pháp cho bản thân để
thoát ra khỏi tình trạng hiện có[5]
1.1.4. Chuẩn nghèo đa chiều

Chuẩn nghèo đa chiều là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều
hơn mức độ này thì bị coi là nghèo đa chiều. Theo quan niệm của các tổ chức
quốc tế, một hộ gia đình thiếu từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên sẽ bị coi là
nghèo đa chiều.
Theo QĐ 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng
chính phủ quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho
giai đoạn 2016-2020 như sau:
1. Các tiêu chí về thu nhập
a) chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực nông thôn và

900.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực thành thị.


b) chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/ người/ tháng ở khu vực nông thôn và
1.300.1

đồng/ người/ tháng ở khu vực thành thị.

2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
a) các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch

vệ sinh, thông tin.
b) các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ

số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn;
tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu
người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn
thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Theo QĐ trên chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình
áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:
1. Hộ nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng đủ từ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 700.000 đồng đến
1.1.1

đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các

dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên 900.000 đồng đến

1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
2. Hộ cận nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên

700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên

900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.


3. Hộ có mức sống trung bình
a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên

1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng
b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/ tháng trên

1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng[33]
1.1.5. Phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều

Việc lựa chọn các chiều thiếu hụt tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của mỗi
quốc gia, đối với Việt Nam, các chiều được lựa chọn dựa vào các nhu cầu cơ bản
trong cuộc sống được quy định trong Hiến pháp 2013, Nghị quyết 15-NQ/TW,
và Nghị quyết 76/2014/QH13. Tổng số bao gồm 5 chiều: y tế, giáo dục, điều
kiện sống, việc làm và tiếp cận thông tin (dự kiến). Các chỉ số đo lường của mỗi
chiều và ngưỡng thiếu hụt của từng chỉ số, trong đó các chỉ số được xác định
theo những nguyên tắc sau: Các chỉ số cần phản ảnh được việc được đáp ứng
hay không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản; các chỉ số cụ thể, đo đếm được,
đặc biệt khi thu thập số liệu ở quy mô lớn; Ưu tiên lựa chọn chỉ số phản ánh kết
quả, hoặc các chỉ số đo lường mức độ tiếp cận và khả năng chi trả các dịch vụ cơ
bản; các chỉ số nên nhạy cảm với thay đổi chính sách, có lợi thế về nguồn lực và
khả năng thực thi, có tính định hướng chính sách. Về ngưỡng thiếu hụt của từng
chỉ số được xác định nhằm phản ánh nhu cầu cơ bản tối thiểu của Việt Nam
được thể hiện trong các mục tiêu của các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật
lao động, Luật việc làm, Luật bảo hiểm xã hội, Luật giáo dục đào tạo, Luật nhà
ở, Luật bảo hiểm y tế, Luật khám chữa bệnh, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của Việt Nam 2011-2020, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 20112015, các chiến lược/kế hoạch phát triển ngành. Về điểm số cho các chiều nghèo
và chỉ số: Các chiều, thể hiện quyền được đáp ứng các nhóm nhu cầu cơ bản, sẽ
được cho điểm bằng nhau, chứng tỏ các nhóm quyền có vai trò quan trọng ngang
bằng nhau. Ví dụ: có tất cả 5 chiều, mỗi chiều được 20 điểm, như vậy tổng số
điểm thiếu hụt sẽ là 100 điểm. Trong mỗi chiều, các chỉ số cũng được cho điểm
bằng nhau. Ví dụ: trong chiều Giáo dục có 2 chỉ số, thì mỗi chỉ số sẽ được 10


điểm. Ở mỗi chỉ số trong chiều Giáo dục này, nếu hộ gia đình không thiếu hụt thì
sẽ có điểm bằng 0, nếu thiếu hụt sẽ có điểm bằng 10. Tổng điểm của tất cả các
chỉ số thiếu hụt sẽ cộng thành điểm thiếu hụt chung của cả hộ. Nếu điểm thiếu
hụt chung này nhiều hơn chuẩn nghèo thì hộ sẽ bị coi là nghèo đa chiều[8].
1.1.6. Cách tiếp cận đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam

Về nguyên tắc chung, thứ nhất là cách tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt
Nam là cách tiếp cận theo quyền nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con
người. Các nhu cầu cơ bản này được coi là quan trọng ngang bằng nhau và con
người có quyền được đáp ứng tất cả các nhu cầu này để có thể đảm bảo một cuộc
sống bình thường. Cách tiếp cận này khác một cách cơ bản với cách tiếp cận đơn
chiều dựa trên thu nhập trong đó coi thu nhập bằng tiền là tiêu chí duy nhất đại
diện cho nhu cầu của con người. Các văn bản pháp luật cơ bản làm cơ sở định
hướng cho xây dựng phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều ở Việt Nam là Hiến
pháp sửa đổi năm 2013, trong đó Điều 34 có quy định “Công dân có quyền được
bảo đảm an sinh xã hội”. Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương khoá XI, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020: đưa
ra các nhiệm vụ về đảm bảo an sinh xã hội trong đó có đáp ứng các nhu cầu tối
thiểu về y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và thông tin. Nghị quyết 76/2014/QH13
của Quốc hội chỉ đạo định hướng "xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp
tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã
hội cơ bản". Thứ hai là trong qua trình chuyển đổi phương pháp tiếp cập đo
lường nghèo từ đơn chiều sang nghèo đa chiều, chuẩn nghèo đa chiều và chuẩn
nghèo thu nhập sẽ được sử dụng song song. Chuẩn nghèo đa chiều sử dụng để
phản ánh ngưỡng thiếu hụt về các nhu cầu cơ bản của con người Việt Nam.
Chuẩn nghèo thu nhập thể hiện mức sống bằng tiền. Chuẩn thu nhập sẽ được
dùng làm như tiêu chí bổ sung để phân loại đối tượng nghèo đa chiều thành cách
đối tượng ưu tiên chính sách. Thứ ba là khi tiếp cận nghèo đa chiều phân tách rõ
ràng 3 công việc: đo lường và giám sát nghèo, xác định hộ nghèo, và xác định
đối tượng thụ hưởng chính sách. Thứ tư là, đo lường và giám sát nghèo sẽ được


tiến hành độc lập bởi cơ quan thống kê và sử dụng các chuẩn nghèo khách quan,
được xây dựng trên cơ sở khoa học, nhằm giám sát và đánh giá sự thay đổi tình
trạng nghèo qua thời gian, không gian, và đối tượng, cung cấp thông tin cho
hoạch định chính sách vĩ mô; cơ quan thống kê sẽ chịu trách nhiệm công bố tỷ lệ
nghèo hàng năm, giai đoạn của cả nước cũng như từng địa phương. Thứ năm là,
việc xác định hộ nghèo và các đối tượng an sinh xã hội khác được tiến hành bởi
ngành Lao động, Thương binh và Xã hội từ nhận diện, lập danh sách phục vụ
cho công tác quản lý, xác định đối tượng thụ hưởng, và hoạch định chính sách cả
cấp trung ương và địa phương. Thứ sáu là việc xác định đối tượng thụ hưởng
chính sách: mỗi chính sách phụ thuộc vào nội dung và nguồn lực cụ thể sẽ xác
định đối tượng thụ hưởng tương ứng; các đối tượng thụ hưởng cũng không nhận
được sự hỗ trợ như nhau mà tùy thuộc nhu cầu mà sẽ được phân loại hỗ trợ cho
phù hợp [8].
1.1.7. Thước đo nghèo đói đa chiều trong đánh giá mức độ phát triển của các

cộng đồng, các địa phương
Bằng thước đo MPI, chúng ta có thể đo đạc và đánh giá nghèo đói một
cách sâu sắc ở các cấp độ khác nhau: gia đình, khu vực, quốc gia và quốc tế.
MPI cung cấp thang đo toàn diện hơn về sự nghèo đói so với cách tính truyền
thống (đô la/ ngày) trước đây. Nó chính là sự hoàn thiện cho hệ thống các công
cụ đánh giá các chiều cạnh rộng lớn hơn sự thình vượng (Well-being) của con
người, bao gồm tất cả các mặt toàn diện của cuộc sống: một cuộc sống no đủ,
hạnh phúc, sức khỏe dồi dào, các cơ hội lựa chọn luôn rộng mở và năng lực nắm
bắt cơ hội cũng luôn được quan tâm bồi dưỡng và nâng cao.... “Chỉ số nghèo đa
chiều này giống như một giải pháp hữu hiệu mới có thể giúp chúng ta xác định
những thách thức đa dạng luôn rình rập người nghèo và các hộ gia đình nghèo
nhất các cộng đồng vẫn đang phải đối mặt”.
Đúng như những người sáng lập ra chỉ số nghèo khổ đa chiều đã nhận
định: “Chỉ số nghèo đa chiều cung cấp thang đo đầy đủ hơn về sự nghèo đói so
với cách tính truyền thống là thu nhập (tính bằng đô la/ngày). Đây là một sự bổ


sung hữu ích vào hệ thống các công cụ đánh giá các chiều cạnh rộng lớn một
cuộc sống thịnh vượng (Well-being) của con người”.
Thậm chí ở các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh trong vài năm
trở lại đây, việc phân tích chỉ số nghèo đói đa chiều lại bộc lộ sự dai dẳng của sự
nghèo đói một cách sâu sắc (acute poverty), trong khi nếu tính theo thu nhập,
cộng đồng đó đã vượt qua được ngưỡng nghèo của thế giới, như ở Ấn Độ,
Hungary… là những trường hợp điển hình. Chỉ số nghèo này còn có khả năng
chỉ ra từng mức độ tiến bộ, hay xu hướng thay đổi lớn của các quốc gia.
Theo tiêu chí này, tỷ lệ người nghèo của thế giới tăng thêm 21%, tức hiện
có hơn 1,7 tỷ người nghèo trên khắp thế giới. Tuy nhiên, nó cũng cho phép nhìn
nhận nghèo một cách toàn diện và biện chứng hơn, nhờ các chỉ báo đa dạng, cụ
thể, dễ xác định, và do vậy chính xác hơn.
Như vậy, có thể thấy, công tác giảm nghèo nếu chỉ dựa trên tiêu chí thu
nhập/chi tiêu là chưa đủ. Bởi trên thực tế, nếu đánh giá nghèo đơn chiều theo thu
nhập, nhiều địa phương không còn hộ nghèo, theo cả chuẩn nghèo quốc gia lẫn
địa phương. Nhưng, nhiều người dân tuy đã thoát nghèo theo các tiêu chuẩn vẫn
thiếu thốn rất nhiều những nhu cầu cần thiết so với mức phát triển chung của
cộng đồng. Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề chất lượng bền vững trong giảm
nghèo trong thời gian tới, đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận đa ngành, trong
đó, tình trạng nghèo đói phải được xem như một hiện tượng đa chiều, không chỉ
có mỗi nghèo về thu nhập, chi tiêu [8].
1.1.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo đa chiều bền vững

Tái nghèo, thoát nghèo hay giảm nghèo bền vững được xem là những kết
quả sinh kế. Do vậy các yếu tố tác động đến kết quả sinh kế đều có thể tác động
đến giảm nghèo, giảm nghèo bền vững. Theo lý thuyết sinh kế, các yếu tố tác
động có thể phân thành các nhóm cơ bản như sau:
a. Các yếu tố bên trong

Tài sản sinh kế bao gồm vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn
tự nhiên, vốn xã hội đây là những yếu tố được xem là “nội lực“ của người nghèo,


hộ nghèo. Một mặt, các tài sản sinh kế phản ảnh tình trạng hay mức độ nghèo
của hộ thông qua các chỉ báo về đất đai, thu nhập, vốn tín dụng, tiết kiệm, nhà ở,
trình độ giáo dục,... Mặt khác, các tài sản kế phản ánh khả năng thỏa mãn các
nhu cầu cơ bản, khả năng sản xuất, tạo thu nhập của hộ ví dụ: hộ có vốn con
người cao sẽ có cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao, mức độ nghèo thấp hơn; hộ có
nhiều đất đai tốt (vốn tự nhiên) sẽ có cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp hơn
những hộ không có đất đai; hộ có nhiều phương tiện sản xuất (vốn vật chất) có
điều kiện tổ chức sản xuất tốt hơn hộ không có; hộ có các quan hệ xã hội (vốn xã
hội) tốt hơn sẽ thuận lợi hơn trong huy động các nguồn lực; hộ tiếp cận tốt hơn
với các nguồn vốn (vốn tài chính) sẽ có nhiều cơ hội mở rộng sản xuất hơn,...
Như vậy, hộ có tài sản sinh kế càng tốt thì càng có nhiều khả năng giảm nghèo
nhanh và bền vững.
Chiến lược và hoạt động sinh kế: Thực chất một phần nhóm yếu tố này
thuộc về vốn con người vì vốn con người là yếu tố quan trọng quyết định chiến
lược sinh kế. Chiến lược sinh kế phù hợp, hoạt động sinh kế càng hiệu quả thì
các tài sản sinh kế càng có cơ hội được cải thiện, tăng trưởng và giảm nghèo[23]
b. Các yếu tố tác động từ bên ngoài
- Thị trường, thể chế, chính sách liên quan trực tiếp và gián tiếp đến chi

phí sản xuất, tiêu thụ, giá cả; cơ chế hỗ trợ hay hạn chế hoạt động sinh kế của hộ;
các điều kiện hành chính thuận lợi hay cản trở các giao dịch của hộ gia đình. Ví
dụ, giá gạo trên thị trường bị các tư thương lũng loạn gây ảnh hưởng trực tiếp
đến người sản xuất lúa, thua lỗ, thu nhập giảm.
- Khoa học kỹ thuật: Đây là một trong những yếu tố gắn liền với vốn con

người, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các hoạt
động sinh kế, nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập. Ví dụ, những
hộ sản xuất đúng quy trình kỹ thuật sẽ thường có năng suất, chất lượng cao hơn,
thu nhập cao và bền vững hơn.
- Hỗ trợ giảm nghèo: Là những trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền

mặt hay vật chất đối với hộ gia đình nghèo nhằm hỗ trợ hộ nghèo cải thiện các


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×