Tải bản đầy đủ

làng chuông, xã phương trung, huyện thanh oai, hà nội

LOGO
Khảo sát cơ sở làm nón của nghệ nhân Lê Văn Tuy
tại làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai,
Hà Nội

Nhóm 4



Đôi nét về nghề làm nón làng Chuông
- Làng Chuông là một làng quê trù phú có từ thời xa xưa nằm giữa trung tâm
tỉnh Hà Tây cũ nay là Thành Phố Hà Nội. Nay thuộc xã Phương Trung –
huyện Thanh Oai – TP. Hà Nội. Làng Chuông là một làng nghề làm nón nổi
tiếng cả nước và thế giới, thông qua sản phẩm nón lá. Người dân Làng
Chuông sống chủ yếu bằng nghề làm nón lá và làm ruộng. Ngày nay nhiều
người đã cho con ăn học và đi thoát ly khắp mọi miền của tổ quốc và quốc
tế.
- Làng Chuông còn gọi là làng Phương Trung, là một ngôi làng cổ còn rất
nhiều những ngôi nhà xưa cũ, nghề làm nón có lẽ cũng từ khi ấy. Làng
Chuông đất đai vốn khô cằn nên người làng đã làm thêm nghề phụ là nghề
làm nón. Xưa kia, làng Chuông sản xuất nhiều loại nón, dùng cho nhiều tầng

lớp như nón ba tầm cho các cô gái, nón nhô, nón long, nón dấu, nón chóp cho
các chàng trai và những người đàn ông sang trọng. Nhưng từ năm 1940 đến
nay, những người thợ làng Chuông chỉ còn làm duy nhất một loại nón.


Những chiếc nón lá
 Làng Chuông với nghề làm nón giờ đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước.
Ngôi làng nhỏ bé luôn tấp nập khách ra vào. Khách đến làng không chỉ để
đặt hàng mà còn muốn tham quan, tận mắt chứng kiến công việc làm nón.
Ngày nay, cùng với xu thế cách tân trang phục truyền thống, chiếc nón cũng
được đa dạng hóa thêm, thị trường nón cũng được mở ra một hướng khác.
Bất cứ du khách nào tới Việt Nam đều yêu thích chiếc nón. Chính vì vậy,
người làng Chuông làm những chiếc nón đủ kích cỡ, phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng của khắp mọi miền.
Ngoài ra, nón còn được xuất sang các nước Lào,
Campuchia, Hàn Quốc, Úc, Đức. Do thị trường tiêu thụ
được mở rộng nên trong làng xuất hiện một lớp người
chuyên đi thu mua nón để bán cho thị trường nội địa và
vài người thu gom nón để xuất khẩu kết hợp bán nội địa.
Trong đó phải kể đến hai cơ sở buôn lớn nhất là cơ sở
của cô Tạ Thu Hương và chú Lê Văn Tuy với mỗi tháng
xuất khoảng 3 - 4 vạn nón/cơ sở. Hai cơ sở này chuyên
thu mua nón của các hộ dân trong làng và đem nón bán
đi các tỉnh khác.


Cơ sở làm nón của nghệ nhân Lê Văn Tuy
- Gần 40 gắn bó
với nghề.
- Trong khi đa
phần người làm
nón làng Chuông
đang loay hoay,
vất vả mưu sinh và
bảo tồn nghề
truyền thống thì
nghệ nhân Lê Văn
Tuy là một trong
số ít người đã tìm
ra hướng đi mới


cho nghề và sản
phẩm nón.



Cả làng Chuông làm nón
Có thời, nón lá làng
Chuông được chọn làm
quà biếu cho các
hoàng hậu, công chúa
trong cung. Sau này,
khi thứ che mưa, che
nắng và làm duyên mái
tóc là lựa chọn gần như
duy nhất của phụ nữ,
cũng là lúc nón lá làng
Chuông được bán khắp
các chợ khu vực phía
Bắc.

5 đời
Lê Văn Tuy
40 năm gắn bó

Nền KT thị trường

Sự hiện diện trào lưu của
các loại mũ thời hiện đại
đã làm nón trở nên lạc
lõng. Làng Chuông điêu
đứng vì sản phẩm làm ra
bán chậm, dù giá bán thấp.
Nhiều gia đình trong làng
phải bỏ nghề. Bắt đầu từ
cuối những năm 90, nghệ
nhân Lê Văn Tuy đã tiếp
cận với khách hàng để tìm
hiểu và mày mò thiết kế
những kiểu dáng, chất liệu
mới cho sản phẩm nón.


Năm 1999
1 đơn đặt hàng
Đường kính nón 1m, lá nón không nối
Tự thiết kế, 2 vợ chồng cùng khâu nón
Sự hài lòng của khách hàng, khiến cho
nghệ nhân LVT đã mạnh dạn thay đổi
kiểu dáng, chất liệu mới
Ngoài nón chóp che mưa nắng, sản phẩm mới của gia đình
anh còn có nón quai thao, các loại nón làm quà lưu niệm,
nón biểu diễn (thời trang, múa), nón phục trang trong các
phim cổ trang; nón Thái, nón Hàn Quốc, nón Tàu… Bên
cạnh đó là hàng loạt sản phẩm phục vụ trang trí nội thất
khác. Dù đổi mới về kiểu dáng cũng như chất liệu, nhưng
các sản phẩm làm ra vẫn đảm bảo về chất lượng (độ bền,
vững chắc của nón, mũ) và thẩm mỹ truyền thống (màu lá
sáng, màu sắc đồng đều, hình dáng cân đối nhưng thanh
thoát).


Ngoài tự gia đình sản xuất,
nghệ nhân đứng ra mua thu
gom nón của các gia đình
trong làng để tìm mối khách
hàng ngoại tỉnh (Nam Định,
Ninh Bình, Bắc Giang, Thái
Bình) phía Bắc và cả phía
Nam. Cơ sở của gia đình anh
tạo công ăn việc làm cho gần
chục nhân công và nhận
truyền dạy nghề làm nón. Tạo
thu nhập ổn định cho công
nhân 3,5 – 4tr/ tháng.


Nghệ nhân Lê Văn Tuy chia sẻ:
“Mỗi ngày cơ sở sản xuất của gia
đình làm ra 1.000 sản phẩm. Có
ngày bán hết, có ngày chỉ vài
chục. Khách các tỉnh xa đến đặt
hàng mua sỉ thường xuyên với số
lượng lớn. Gia đình tôi còn nhận
đơn đặt hàng theo mẫu mã của
các đoàn nghệ thuật, đoàn làm
phim, các nhà thiết kế thời trang.
Chúng tôi cũng thường xuyên
xuất khẩu hàng đi các nước".


Cơ sở sản xuất của gia đình
nghệ nhân Lê Văn Tuy đã
trở thành điểm du lịch hấp
dẫn, nhiều lượt du khách
trong và ngoài nước tham
quan, mua hàng. Đây là cơ
hội để nghề nón của gia
đình cũng như của làng
Chuông - một nét văn hóa
về nghề, làng nghề truyền
truyền thống cũng như vẻ
đẹp của chiếc nón lá được
giới thiệu, quảng bá hiệu
quả và thiết thực.


Theo nghệ nhân Lê Văn Tuy: “ Mỗi chiếc nón có giá khác nhau, nón đẹp, xuất khẩu
có giá từ 7-9$ (150- 200 ngàn đồng/ chiếc) chủ yếu người mua là khách du lịch ở
trong và ngoài nước mua về để làm quà tặng. Còn nón bình thường có giá từ 20- 80
ngàn đồng/ chiếc chủ yếu là những người dân mua về để đi làm ngoài ruộng”.


Ahihi
=))


Chọn lá
Là lá

Quay
nón

Khâu nón


Quy trình làm nón lá
1. Chọn và là lá

Lá nón được lấy từ một loại cây họ nhà cọ trên rừng xa của núi non
Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An.Người ta phải lựa loại lá màu sáng và
xanh đều thì nón mới đẹp. Lá khi được mua về sẽ được vò trong cát
để lá mềm rồi mới đem phơi khoảng hai, ba nắng cho đến khi màu
xanh của lá chuyển thành màu bạc trắng. Lượng lá mua về chỉ vừa đủ
để tránh khi gặp trời mưa hoặc để lâu lá sẽ chuyển sang màu đỏ.
Người ta thu lá về sau khi phơi nắng và sấy thêm bằng bếp củi, bếp
đun lửa nhỏ để lá khô dần mà không bị giòn, nếu muốn lá trắng hơn
thì phải hun một lần nữa qua diêm sinh.Chuẩn bị khâu chuốt nón
người ta sẽ làm công đoạn rẽ lá và là lá, lá nón được lót dưới tấm giẻ,
dùng lưỡi cày đã qua sử dụng lâu năm đã mòn, nhẵn rồi miết nhanh
cho lá phẳng mà không bị giòn và rách.


2
1



2. Công đoạn quay nón
Vòng nón được làm bằng cật nứa vót nhỏ và
đều. Khi nối bắt buộc vòng nón phải tròn và
chỗ nối không có vết. Khác với nón thường
có 20 lớp vòng, nón làng Chuông có 16 lớp
vòng giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn
mềm mại. Con số 16 là kết quả của sự
nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho
đến nay đã trở thành một nguyên tắc không
thay đổi. Chúng đã tạo cho những chiếc nón
Chuông có được dáng thanh tú, không quá
ngắn, không xùm xụp.
Vòng nón sau khi được hoàn thành sẽ
được xếp vào khuôn, sau đó sẽ xếp từng lá
vào vòng nón. Lá sẽ có hai lớp, một lớp
ngoài cùng sau đó là một lớp mo tre và
ngoài cùng là một lớp lá nữa.


3. Khâu nón



Phân phối, tiêu thụ nón lá
Trung bình một tháng, cơ sở sản xuất nón lá làng Chuông của nghệ nhận
Lê Văn Tuy làm xuất được 3 vạn chiếc nón, mang tiêu thụ ở các tỉnh.
Ngoài ra, đã được xuất sang Trung Quốc, Nhật Bản và các nước châu
Âu. Tuy nhiên, so với các làng nghề khác, nguyên liệu lá lụi phải nhập từ
các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, vì làng không tự trồng được.
Bình quân 1 năm các công nhân chỉ làm nghề trong 8 tháng, còn
những thời gian khác họ làm các công việc của nghề nông. Và như
vậy, mức thu nhập là khoảng 30 – 40.000 đồng/ngày. Trong khi đó,
các lao động vệ tinh vào khoảng 8000 – 20.000 đ/ngày.
Cũng từng được mang đi triển lãm tại nhiều nơi trong và ngoài nước.
Đặc biệt sản phẩm này thường được giới thiệu ở các sân bay quốc tế.
Nón làng Chuông ngoài việc tham gia vào nhiều sự kiện như SEA
Game 22, APEC 2006 và nhiều hội chợ quốc tế, người dân đã nhanh
chóng chuyển đổi thói quen sản xuất truyền thống nhỏ lẻ sang hướng
liên kết, chuyên môn hóa, hình thành bộ phận chuyên cung cấp nguyên
vật liệu và bộ phận gom hàng giải quyết đầu ra.


Khó khăn với nghề
Giá đã rẻ lại không ổn định về nguồn tiêu thụ; sự ra đời ngày càng nhiều loại mũ
vải thời trang, phù hợp với mọi lứa tuổi… 
Thị trường tiêu thụ sản phẩm không lớn, chỉ 1 nhóm đối tượng nhất định
Sản xuất thủ công, cần số lượng lớn nhân công, chưa áp dụng được KHKT để đổi
mới mẫu mã, sản phẩm. Để tạp ra 1 sản phẩm rất tốn thời gian và gặp nhiều khó
khăn. Điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm và đón nhận sản
phẩm của khách.
Vấn đề vốn cũng gặp nhiều khó khăn với nguồn vốn hạn hẹp. Sự cạnh tranh và
liên kết kỹ thuật cho các làng nghề còn hạn chế.
Vấn đề ô nhiễm môi trường cũng ảnh hưởng lớn đến công việc sản xuất sản
phẩm, làm đình trệ sự phát triển của làng nghề. Sự quan tâm giúp đỡ của các cơ
quan nhà nước còn ở mức độ nhất định.

Thu nhập thấp, tốn nhiều thời gian, sức lao động,…
cho nên số lượng người muốn gắn bó với nghề rất ít.


Thuận lợi
-Sử dụng thời gian nhàn rỗi của lao động nông nghiệp. Hộ sản xuất tại nhà
nên vẫn có điều kiện kết hợp làm những công việc khác như làm ruộng, làm
vườn, chăn nuôi lợn, gà...
- Sản xuất được diễn ra tại nhà mà không cần nhà xưởng. Sản phẩm hiện nay
chủ yếu là đồ dùng. Đặc biệt nghề này có tiềm năng về nhân lực, tạo việc làm
cho rất nhiều lao động. Phát triển nghề này sẽ giải quyết việc làm cho số đông
lao động nhàn rỗi, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, giảm bớt
một phần nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội.
-Có kinh nghiệm làm nghề lâu năm, sản phẩm có chất lượng cao, giá thành rẻ.
- Tạo không khí làm việc vui vẻ, tăng cường tính đoàn kết, truyền thống. Tăng
thêm thu nhập.
- Nón làng Chuông đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)
công nhận nhãn hiệu tập thể “Nón Chuông”, cùng với việc tăng cường quảng
bá sản phẩm làng nghề, huyện Thanh Oai đang xây dựng một tour du lịch các
làng nghề; trong đó có nghề nón làng Chuông.


Đề xuất giải pháp
 

Phát triển các ngành nghề TTCN nói chung, cũng như nghề làm nón nói riêng gắn với dịch vụ du lịch.

• Phát triển nghề làm nón gắn với phát triển nông nghiệp và nông thôn, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa lao
động, nguyên liệu, thị trường và môi trường.
• Phát triển nghề, làng nghề truyền thống phải tạo được động lực xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm,
tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là người dân ở khu vực nông thôn, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, hình thành các cụm trung tâm công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Từ đó thúc đẩy quá trình đô thị
hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn.
•Tăng quy mô sản xuất, đặc biệt là các loại nón cỏ truyền như nón quai thao, nón chóp dứa Phát triển làng
nghề, kết hợp hài hòa nhiều quy mô, nhiều loại hình tổ chức sản xuất.  Phải gắn với chủ trương hội nhập kinh
tế quốc tế và đẩy mạnh xuất khẩu. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho các làng nghề
ở huyện tạo việc làm để tăng trưởng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu song cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách
thức cho sự phát triển; vì vậy, việc phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp cần chủ động chuẩn bị đầy đủ về
nội lực để từng bước phát triển theo hướng bền vững
• Phát triển làng nghề phải xuất phát từ nhu cầu thị trường để lựa chọn các mặt hàng, chủng loại, nhằm thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu thị trường về số lượng, chất lượng và giá cả sản phẩm; sản phẩm của làng nghề phải có
sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại được sản xuất ở các địa phương khác trong cả nước.
• Phát triển nghề theo hướng hình thành những điểm du lịch văn hóa, để thu hút khách tham quan, từ đó sẽ
tạo ra các ngành nghề khác phát triển, đặc biệt là dịch vụ.


Thank You !
Móah…Đang hay mà lại hết à ?
=))


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×