Tải bản đầy đủ

Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Vật liệu xây dựng xây lắp kinh doanh nhà Đà Nẵng

MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................4
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)...............4
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................3
5. Kết cấu của luận văn..................................................................................3
CHƯƠNG 1......................................................................................................7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.........................................................................7
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ...............7
1.1.1. Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí.............7
a. Bản chất của kế toán quản trị............................................................7
b. Bản chất của kế toán quản trị chi phí................................................9
1.1.2. Vai trò của kế toán quản trị chi phí...............................................9
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ CHI PHÍ.........................................................................................12
1.3. NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH

NGHIỆP XÂY LẮP..............................................................................16
1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp...............16
1.3.2. Lập dự toán chi phí............................................................................19
a. Lập dự toán chi phí sản xuất.............................................................19
b. Lập dự toán chi phí ngoài sản xuất...................................................24
1.3.4. Kiểm soát chi phí sản xuất..........................................................28


a. Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp......................................29
b. Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp..............................................30
c. Kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công...........................................30
d. Kiểm soát chi phí sản xuất chung.....................................................31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..............................................................................34
CHƯƠNG 2....................................................................................................35
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY VẬT
LIỆU XÂY DỰNG – XÂY LẮP VÀ KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG....35
2.1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY VẬT
LIỆU XÂY DỰNG- XÂY LẮP & KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG.35
2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty.......................................................35
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển..............................................35
2.2. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY
VẬT LIỆU XÂY DỰNG - XÂY LẮP & KINH DOANH NHÀ ĐÀ
NẴNG...................................................................................................37
2.2.1. Chức năng sản xuất kinh doanh.........................................................37
2.2.2. Đặc điểm, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý..................................37
2.2.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán.............................................41
a. Bộ máy kế toán.................................................................................41
b. Hình thức sổ kế toán tại Công ty......................................................43
2.3. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY
VLXD- XÂY LẮP & KINH DOANG NHÀ ĐÀ NẴNG.....................44
2.3.1. Phân loại chi phí sản xuất tại công ty..........................................45
a. Chi phí sản xuất.................................................................................45
b. Chi phí ngoài sản xuất.......................................................................47
2.3.2. Thực trạng lập dự toán chi phí sản xuất tại Công ty...................50
a. Định mức chi phí tại công ty.............................................................50


b. Dự toán chi phí tại công ty...............................................................53
2.3.3. Tổ chức tập hợp chi phí xây lắp tại công ty...............................66
-Tập hợp chi phí NVL trực tiếp.............................................................66


- Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp (NCTT).....................................67
- Tập hợp chi phí sản xuất chung.........................................................69
2.3.4. Kiểm soát chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp tại công ty..................71
a. Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu.....................................................72
b . Kiểm soát chi phí nhân công............................................................73
c. Kiểm soát chi phí máy thi công.........................................................74
d. Kiểm soát chi phí sản xuất chung.....................................................75
2.3.5. Các báo cáo nội bộ phục vụ quản trị chi phí......................................76
a. Báo cáo chi phí nguyên vật liệu........................................................77
b. Báo cáo chi phí nhân công................................................................80
c. Báo cáo chi phí MTC........................................................................82
d. Báo cáo chi phí sản xuất chung.........................................................83
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI
CÔNG TY VLXD – XÂY LẮP & KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG.84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..............................................................................87
CHƯƠNG 3....................................................................................................89
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ.................................89
CHI PHÍ TẠI CÔNG TY VẬT LIỆU XÂY DỰNG- XÂY LẮP...............89
& KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG.............................................................89
3.1. SỰ CẦN THIẾT HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI
CÔNG TY VLXD – XÂY LẮP & KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG.89
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ...91
3.3.1. Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin giữa KTQT với các phòng
ban.......................................................................................................91


3.3.2. Hoàn thiện cách phân loại chi phí...............................................93
3.3.3. Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí xây lắp.........................95
- Lập dự toán chi tiết nhu cầu nguyên vật liệu.....................................96
- Lập dự toán chi tiết nhu cầu nhân công.............................................96
- Lập dự toán chi tiết nhu cầu máy thi công.........................................97
3.3.4. Hoàn thiện công tác kiểm soát chi phí...............................................97
- Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp........................................97
- Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp..............................................101
- Kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công..........................................101
- Kiểm soát chi phí sản xuất chung.....................................................102
3.3.5. Tổ chức công tác phân tích chi phí theo khoản mục nhằm cung cấp
thông tin cho nhà quản trị....................................................................103
- Phân tích chi phí theo hạng mục công trình.....................................103
- Phân tích chi phí của toàn công trình................................................105
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY VLXD – XÂY LẮP & KINH
DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG.................................................................106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3............................................................................107
KẾT LUẬN..................................................................................................108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán quản trị với chức năng cung cấp các thông tin quá khứ, hiện
tại và cả tương lai cho các nhà quản lý sẽ là công cụ hỗ trợ tốt cho nhà
quản trị trong việc điều hành doanh nghiệp. Thế nhưng hiện nay tại Việt
Nam, kế toán quản trị vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ và chưa được chú
trọng đúng mức tại các doanh nghiệp, trong khi trên thế giới nó đã được
ứng dụng từ khá lâu. Để theo kịp với tiến độ phát triển của các doanh
nghiệp trên thế giới thì việc ứng dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý
tại các doanh nghiệp Việt Nam là hết sức cần thiết.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế,
tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xây lắp không chỉ
có ý nghĩa nội bộ mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn.Trong các doanh
nghiệp xây lắp, chi phí thường chiếm một tỷ lệ khá lớn so với doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ. Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý tốt chi phí
thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Thế nhưng cũng như mọi loại hình doanh nghiệp khác, trong doanh
nghiệp xây lắp hiện nay, việc tổ chức kế toán quản trị chưa được chú trọng và
gần như chưa được triển khai tại các doanh nghiệp.
Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng là một
trong những công ty họat động trong lĩnh vực xây dựng, đã và đang phát triển
cả về quy mô lẫn đa dạng hóa lĩnh vực ngành nghề kinh doanh. Tuy nhiên,
môi trường kinh doanh với nhiều biến động và cạnh tranh, đặc biệt là tình
hình lạm phát như hiện nay đã tác động không ít đến đến hoạt động kinh
doanh của công ty. Công tác tổ chức kế toán quản trị tại công ty còn hạn chế
làm ảnh hưởng không ít đến lợi thế cạnh tranh của công ty. Tại công ty có


2

nhiều đơn vị trực thuộc, phụ thuộc nhau làm cho công tác kế toán quản trị chi
phí trở nên thiếu chính xác, khó kiểm soát trong việc quản lý vốn. Công trình
thường phân tán nhiều nơi nên việc kiểm soát vật tư cũng gặp nhiều khó khăn.
Nguyên nhân của những tồn tại đó là công tác kế toán quản trị chưa được
quan tâm đúng mức. Hệ thống thông tin tại đơn vị chỉ nhằm phục vụ bộ phận
kế toán tài chính, chưa có sự phân tích nhằm phục vụ kế toán quản trị chi phí.
Để phục vụ cho quản trị nói chung và quản trị chi phí nói riêng, việc tổ chức
kế toán quản trị tại công ty là cần thiết.
Xuất phát từ lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Kế toán quản trị chi
phí tại Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề thuộc về cơ sở lý luận của tổ chức
kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp.
Nghiên cứu thực trạng của tổ chức kế toán quản trị chi phí xây lắp tại
Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng nhằm từ đó
rút ra ưu điểm và những mặt còn hạn chế tồn tại trong tổ chức kế toán quản
trị chi phí tại Công ty.
Vận dụng lý luận và nghiên cứu thực tiễn, tác giả đề xuất phương hướng
và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí tại
Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
lợi thế cạnh tranh của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những lý luận chung về kế
toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp, thực trạng kế toán quản trị
chi phí và tập hợp chi phí tại Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh
doanh nhà Đà Nẵng, từ đó rút ra sự cần thiết cung cấp thông tin của kế toán


3

quản trị. Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức kế toán quản
trị chi phí tại Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng.
Phạm vi nghiên cứu: Với điều kiện cho phép, Luận văn chỉ nghiên cứu
KTQT chi phí ở lĩnh vực xây lắp tại Công ty Vật liệu xây dựng - xây lắp và
kinh doanh nhà Đà Nẵng. Trên cơ sở khảo sát thực tế tình hình xây lắp KTQT
xây lắp tại Công ty, nhằm hoàn thiện KTQT chi phí cho phù hợp với điều kiện
ở lĩnh vực này của Công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực tế tại công ty thông qua phân tích, so sánh và
đánh giá giữa lý thuyết và thực tế.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
chia thành 3 chương:
Chương 1: Những nội dung cơ bản về tổ chức kế toán quản trị chi phí
trong các doanh nghiệp xây lắp.
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty Vật
liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng .
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
Vật liệu xây dựng - xây lắp & kinh doanh nhà Đà Nẵng.
6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên dựa
vào nhiều nguồn thông tin khác nhau để ra quyết định quản trị nhằm đạt được
kết quả tốt nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Kế toán quản
trị cung cấp rất nhiều thông tin hữu hiệu cho các nhà quản trị cho việc ra
quyết định trong kinh doanh. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp Việt Nam
việc vận dụng hệ thống kế toán nói chung và kế toán quản trị nói riêng phục
vụ cho lãnh đạo trong việc ra quyết định chưa được thực hiện phổ biến. Để ra


4

quyết định quản lý trong mọi lĩnh lực hoạt động sản xuất kinh doanh như: sản
xuất, tiêu thụ, tài chính, đầu tư… lãnh đạo doanh nghiệp phải thường xuyên
nắm bắt những thông tin liên quan đến các lĩnh vực đó. Có nhiều phương
pháp thu thập thông tin khác nhau hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của lãnh
đạo. Trong đó, ra quyết định quản trị dựa trên nguồn thông tin từ hệ thống kế
toán quản trị thực sự mang lại hiệu quả và ngày càng thu hút sự quan tâm của
lãnh đạo thuộc nhiều cấp khác nhau.
Các vấn đề về kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị chi phí
được các tác giả Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ đầu những năm 1990. Tác
giả Nguyễn Việt trong luận án “Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam” đã trình
bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kế
toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những đề xuất về kế
toán quản trị trong công trình này là những đề xuất mang tính cơ bản nhất của
hệ thống kế toán quản trị, trong bối cảnh kế toán quản trị bắt đầu được nghiên
cứu tại Việt Nam.
Tác giả Phạm Văn Dược đã nghiên cứu về “Phương hướng xây dựng
nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt
Nam”. Trong công trình này, tác giả đã có những nghiên cứu cụ thể và đề xuất
các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn trong các doanh nghiệp
Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất
cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán quản trị lại
rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành.
Tác giả Trần Văn Dung nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị chi
phí và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tác giả Lê Đức
Toàn nghiên cứu về “Kế toán quản trị và phân tích chi phí sản xuất trong
ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”.Có một số công trình nghiên cứu
ứng dụng kế toán quản trị trong các ngành cụ thể, như tác giả Phạm Thị Kim


5

Vân nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở
các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”, tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga nghiên
cứu “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp dầu khí Việt
Nam”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm nghiên cứu “Xây dựng hệ thống kế
toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”. Trong các công trình
này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị
và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể
theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài. Mặc dù vậy, tất cả các công trình
nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về
hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp, trong
khi ngành xây lắp là ngành đang rất cần những thông tin kế toán quản chi phí
và việc vận dụng từ những lý thuyết kế toán quản trị chi phí cơ bản vào thực
tiễn hoạt động kinh doanh.
Tác giả Nguyễn Đăng Quốc Hưng [10] với đề tài: “ Hoàn thiện kế toán
Quản trị chi tại các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn Thành phố Đà
Nẵng”. Trên cơ sở phân tích thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh
nghiệp, kết hợp với cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí tác giả đã tập
trung hoàn thiện các nội dung như: Hoàn thiện kế toán chi tiết cung cấp thông
tin chi tiết về chi phí giá thành cho các nhà quản trị, hoàn thiện lập dự toán ở
các đơn vị trong đó nhấn mạnh đến công tác lập dự toán linh hoạt nhằm cung
cấp thông tin nhanh cho các chức năng hoạch định, kiểm soát và dự báo của
quản trị. Bên cạnh đó, hoàn thiện công tác lập báo cáo trách nhiệm bộ phận
phục vụ cho việc đánh giá trách nhiệm của các bộ phận chức năng và kiểm
soát được chi phí theo các trung tâm chi phí. Qua đó, tác giả đã kiến nghị các
phương pháp xác định chi phí đối với sản phẩm dịch vụ du lịch trên cơ sở đó
xác định khung giá bán các sản phẩm dịch vụ du lịch trong điều kiện cạnh
tranh. Đặc biệt khi hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh


6

nghiệp, tác giả đã đưa ra mô hình tổ chức kế toán quản trị tại các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch theo hướng chuyên môn hóa công tác kế toán quản
trị và khai thác tối đa nguồn tài liệu cung cấp của kế toán tài chính trong cùng
một bộ máy kế toán.
Nhìn chung các giải pháp tác giả đưa ra đã góp phần hoàn thiện hơn
công tác kế toán quản trị chi phí, đặc biệt trong các lĩnh vực hay các ngành
mà các tác giả đã đi sâu nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa hình
thành nên một khuôn khổ để có thể áp dụng chung cho các doanh nghiệp
trong các lĩnh vực khác nhau và có đặc thù tổ chức quản lý khác nhau. Tại
Công ty Vật liệu xây dựng – Xây lắp và Kinh doanh nhà Đà Nẵng, việc
nghiên cứu kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng
chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. Một số đề tài có đề cập đến nội dung
kế toán quản trị tại Công ty nhưng chủ yếu nghiên cứu về phân tích mối quan
hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận. Cụ thể tác giả Mai Đăng Tuyền có nghiên
cứu về các vấn đề liên quan đến phân tích chi phí trong phân tích mối quan hệ
với khối lượng và lợi nhuận, nội dung nghiên cứu chỉ đề cập đến việc thay đổi
chi phí sẽ làm thay đổi doanh thu và lợi nhuận như thế nào chứ chưa có các
nội dung nghiên cứu về hoạch định chi phí, về phân tích chi phí …
Chính vì vậy, các vấn đề mà luận văn cần tập trung nghiên cứu về kế
toán quản trị chi phí áp dụng đặc thù cho doanh nghiệp xây lắp mà cụ thể là
áp dụng tại Công ty Vật liệu xây dựng – Xây lắp và Kinh doanh nhà Đà Nẵng
gắn liền với bối cảnh kinh tế cụ thể, kinh nghiệm vận dụng các phương pháp
kế toán quản trị chi phí trong các nền kinh tế khác nhau, đặc biệt là các nền
kinh tế có tính chất tương đồng với nền kinh tế Việt Nam.


7

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1. Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí
a. Bản chất của kế toán quản trị
Kế toán là công cụ quản lý rất quan trọng và không thể thiếu được
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chức năng
của kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của tài
sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các đối tượng
sử dụng thông tin với các mục đích sử dụng khác nhau. Mục đích sử dụng
thông tin kế toán của các đối tượng khác nhau nên thông tin mà kế toán cung
cấp rất đa dạng và khác nhau cả về nội dung, phạm vi, mức độ, tính chất và
thời gian cung cấp, kể cả giá trị pháp lý của thông tin. Sự khác nhau đó là tiêu
thức để chia hệ thống thông tin kế toán thành hai bộ phận. Một bộ phận
chuyên cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp gọi là
kế toán tài chính; một bộ phận cung cấp thông tin theo yêu cầu của các nhà
quản trị trong nội bộ doanh nghiệp gọi là kế toán quản trị.
Kế toán quản trị không chỉ thu thập xử lý và cung cấp các thông tin về
các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hình thành, đã ghi chép hệ thống hóa các sổ
kế toán mà còn xử lý cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định
quản trị. Để có được các thông tin này kế toán quản trị phải sử dụng các
phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách cụ thể, phù hợp
với nhu cầu thông tin của nhà quản trị. Hệ thống hóa các thông tin theo một
trình tự dễ hiểu và giải thích quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục
vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp.


8

Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài
chính trong phạm vi yêu cầu quản lý của nội bộ doanh nghiệp. Những thông
tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà quản
lý, điều hành doanh nghiệp không có ý nghĩa với các đối tượng bên ngoài. Vì
vậy người ta nói kế toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm
công tác quản trị trong khi đó kế toán tài chính không phục vụ trực tiếp mục
đích này [4 tr19].
Thông tin tài chính cung cấp trong phạm vi nội bộ DN bao gồm:
- Thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ của DN.
- Quá trình lập các dự toán cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế
hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch hướng đến các mục tiêu trên
thị trường của DN.
- Thiết kế để lập báo cáo và phân tích các báo cáo cung cấp các thông tin
đặc thù để giúp các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh.
- Những người bên trong doanh nghiệp rất đa dạng, gọi chung là nhà
quản lý DN, những nhu cầu thông tin của họ phản ánh một mục đích chung là
phục vụ quá trình ra quyết định nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Do nhu cầu thông
tin nội bộ rất đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp nên các báo cáo kế
toán nội bộ do KTQT cung cấp không mang tính tiêu chuẩn như báo cáo tài
chính. Kế toán quản trị đặt trọng tâm giải quyết các vấn đề quản trị của DN.
Vì vậy, kế toán quản trị phải thiết kế các thông tin kế toán sao cho nhà quản
trị có thể dùng vào việc thực hiện các chức năng quản trị.
Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một
công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ
doanh nghiệp


9

b. Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Kế toán chi phí bao gồm việc tập hợp phân loại, tính giá theo yêu cầu
nhất định của kế toán tài chính và kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin kế
toán mà chủ yếu là thông tin về chi phí cho các nhà quản trị. Mặc dù đều
nhằm mục đích thông tin cho các nhà quản trị nhưng có sự khác nhau về mục
đích và phạm vi giữa hai loại kế toán này: với kế toán tài chính, kế toán chi
phí là cơ sở xác định chi phí và thu thập thể hiện trên báo cáo lãi lỗ kinh
doanh trong kỳ kế toán, với kế toán quản trị, kế toán chi phí được sử dụng để
tính giá thành, lập dự toán chi phí …làm cơ sở để phân tích chi phí và ra
quyết định.
Kế toán quản trị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và
trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý (Trong đó tập trung
vào cấp quản trị cấp thấp như tổ, đội phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản
lý và phục vụ - là nơi trực tiếp phát sinh các chi phí) nhằm gắn trách nhiệm
của các nhà quản trị với chi phí phát sinh thông qua hình thức thông tin chi
phí được cung cấp theo các trung tâm chi phí (nguồn gây ra chi phí). Kế toán
quản trị chi phí trả lời câu hỏi chi phí sẽ là bao nhiêu, thay đổi như thế nào khi
có sự thay đổi về mặt sản lượng sản xuất, ai phải chịu trách nhiệm giải thích
về những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh.
Điều này cho thấy kế toán quản trị chi phí mang nặng tính bản chất của kế
toán quản trị nhiều hơn là kế toán chi phí.
Như vậy, kế toán quản trị chi phí không nhận thức chi phí theo quan
điểm của kế toán tài chính mà nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau
để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát
và ra quyết định.
1.1.2. Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị là công cụ sắc bén cung cấp những thông tin để các


10

nhà quản trị điều hành một cách có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, vai trò đó của kế toán quản trị được thể hiện trong các khâu
của quá trình quản lý
Thông qua các chức năng quản lý mà các nhà quản trị có thể kiểm tra,
giám sát việc sử dụng chi phí và tính toán hiệu quả của chi phí bỏ ra so với
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp có thể hoạt động ở các phạm
vi, lĩnh vực khác nhau nhưng việc bỏ ra chi phí luôn gắn liền với các quá trình
cung ứng, quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao dịch dịch
vụ và quá trình bán hay tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ.
Mục đích quản lý có hiệu quả hoạt động sản xuất của các nhà quản trị
là đạt được lợi nhuận tối đa với chi phí bỏ ra ít nhất, thấp nhất. Quyết định
của nhà quản trị xuyên suốt trong quá trình thực hiện các hoạt động quản lý.
Để có quyết định đúng đắn và có hiệu lực đòi hỏi phải nghiên cứu về các
thông tin.
Vậy kế toán quản trị chi phí là một trong những nguồn thông tin quan
trọng để ra các quyết định quản lý. Cụ thể:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán: Kế toán
quản trị cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp những thông tin, số liệu mà
doanh nghiệp đã thực hiện, trên cơ sở đó mà xây dựng kế hoạch mặc khác kế
toán quản trị còn cụ thể hóa mục tiêu trong tương lai của doanh nghiệp thành
các chỉ tiêu kinh tế tài chính, trên cơ sở đó mà xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh, lập các dự toán chi phí, doanh thu và lợi nhuận một cách khoa
học có căn cứ thực tế có tính khả thi. Từ những kế hoạch và dự toán này mà
lựa chọn được phương án tối ưu nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch: Kế toán
quản trị cung cấp những thông tin đã và đang thực hiện để phục vụ cho nhà
quản trị doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn và đưa ra quyết định tiếp tục hay


11

đình chỉ kinh doanh một bộ phận, quyết định nên đầu tư hay không đầu tư,
quyết định lựa chọn nhà thầu nào là phù hợp. Để thực hiện được chức năng
này nhà quản trị cần một lượng lớn các thông tin từ kế toán quản trị chi phí
như thông tin về chi phí sản xuất, giá vốn sản phẩm dịch vụ tiêu thụ, chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng như thay đổi trong kế hoạch cần
phải điều chỉnh…
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá: Sau khi lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi nhà quản trị phải kiểm tra và đánh
giá việc thực hiện đó. Phương pháp thực hiện là phân tích sai biệt trên cơ sở
so sánh giữa các số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện. Từ đó
nhận biết các sai biệt giữa kết quả thực hiện với kế hoạch đề ra, chỉ ra những
vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác.
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Thông tin của KTQT
chi phí rất cần thiết cho quá trình ra quyết định. Đây là chức năng quan trọng
xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá.
Để có những quyết định đúng đắn, kịp thời nhà quản trị phải có sự lựa chọn
hợp lý, tối ưu trong nhiều phương án, giải pháp đặt ra. Đây là một chức năng
luôn gắn liền với các chức năng khác. Trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức
điều hành hoặc kiểm tra luôn tồn tại chức năng ra quyết định. Tất cả các quyết
định đưa ra đều dựa vào nguồn thông tin do kế toán nói chung và kế toán
quản trị chi phí nói riêng cung cấp, kế toán quản trị chi phí phải dựa trên hệ
thống thông tin quá khứ và dự toán tương lai tiến hành phân loại, lựa chọn,
tổng hợp và cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến chi phí thích
hợp cho việc ra quyết định.


12

1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ CHI PHÍ
1.2.1. Đặc điểm hoạt động xây dựng cơ bản
Trong XDCB, các doanh nghiệp xây lắp giữ vai trò khá quan trọng.
hoạt động xây lắp chiếm một lượng lớn về lực lượng lao động, máy móc thiết
bị, tiền vốn…và giữ vai trò quyết định về hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp.
Cũng giống như các ngành sản xuất khác, khi sản xuất đơn vị xây lắp
cần biết các hao phí vật chất mà đơn vị đã bỏ vào quá trình sản xuất vật chất
và kết tinh vào công trình là bao nhiêu. Do vậy, việc xác định chi phí và giá
thành sản phẩm xây lắp một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ có một ý nghĩa
vô cùng to lớn trong công tác quản lý hiệu quả về chất lượng hoạt động sản
xuất kinh doanh của đơn vị xây lắp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp gồm các giai đoạn cơ
bản:
- Lập hồ sơ tham gia đấu thầu
- Ký kết hợp đồng xây dựng
- Khảo sát xây dựng: thị sát, đo vẽ, thăm dò, thu thập và tổng hợp
những tài liệu và số liệu về điều kiện tự nhiên của vùng, địa điểm cần xây
dựng…
- Lựa chọn nhà thầu phụ (nếu có), mua sắm vật tư, thiết bị xây dựng…
- Thực hiện thi công
- Kiểm nghiệm công trình khi hoàn thành
- Quyết toán công trình (thanh lý hợp đồng xây dựng)
Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán (dự toán thiết kế,
dự toán thi công), lấy dự toán làm thước đo đối chiếu, và để giảm bớt những
rủi ro, lãng phí trong thi công.


13

1.2.2. Đặc điểm sản phẩm xây lắp
Xây lắp là một loại hình sản xuất công nghệ đặc biệt theo đơn đặt hàng,
sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi công trình đòi hỏi một
yêu cầu kỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau được xác
định cụ thể trên từng thiết kế và dự toán. Vì vậy, khi thiết kế đòi hỏi Công ty
phải luôn luôn điều chỉnh phương thức tổ chức thi công sao cho có hiệu quả
kinh tế cao nhất mà không làm gián đoạn công việc thi công.
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc... có quy
mô lớn, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài...Do đó, việc tổ chức
quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự
toán thi công). Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự
toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công
trình xây lắp. Đặc điểm này của sản phẩm xây lắp đòi hỏi các doanh nghiệp
xây lắp nên áp dụng hệ thống kế toán chi phí theo công việc là thích hợp nhất,
đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu công tác quản trị.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận
với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp
không thể hiện rõ.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất
(xe máy, thiết bị thi công, người lao động...) phải di chuyển theo địa điểm đặt
sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản,
vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất
mát, hư hỏng...
Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình
bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính
phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành
nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các


14

công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi
trường như nắng, mưa, lũ lụt...Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý,
giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế,
dự toán.
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toán
vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một
doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình
doanh nghiệp xây lắp.
1.2.3. Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Chi phí cho đầu tư XDCB chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách nhà
nước cũng như ngân sách của doanh nghiệp.
Chi phí xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng
mới hoặc cải tạo, mở rộng hay trang bị lại kỹ thuật công trình. Do đặc điểm
của quá trình sản xuất và quá tình xây dựng nên mỗi công trình có chi phí xây
dựng riêng được xác định theo quy mô, đặc điểm, tính chất kỹ thuật và yêu
cầu công nghệ của quá trình xây dựng.
Theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng, chi phí xây dựng
công trình được biểu thị qua chỉ tiêu tổng mức đầu tư ở giai đoạn chuẩn bị
đầu tư, tổng dự toán công trình, dự toán hạng mục công trình ở giai đoạn thực
hiện đầu tư, giá thanh toán và quyết toán đầu tư công trình khi kết thúc xây
dựng đưa dự án vào sử dụng. Bao gồm:
Tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng ( kể cả vốn sản
xuất ban đầu ) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong
quyết định đầu tư. Tổng mức đầu tư được phân tích, tính toán và xác định
trong giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án, bao gồm những chi
phí cho việc chuẩn bị đầu tư, chi phí chuẩn bị thực hiện đầu tư, chi phí thực


15

hiện đầu tư và xây dựng, chi phí chuẩn bị sản xuất để đưa dự án vào khai thác
sử dụng, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất, lãi vay ngân hàng của chủ đầu tư
trong thời gian thực hiện đầu tư, chi phí bảo hiểm, chi phí dự phòng.
Tổng dự toán công trình là tổng chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây
dựng công trình được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết
kế thi công. Tổng dự toán bao gồm: Chi phí xây lắp, chi phí thiết bị, chi phí
khác và chi phí dự phòng ( bao gồm cả dự phòng do yếu tố trượt giá và dự
phòng do khối lượng phát sinh).
Dự toán xây lắp hạng mục công trình là chi phí cần thiết để hoàn thành
khối lượng công tác xây lắp của hạng mục công trình được tính toán từ bản vẽ
thi công hoặc thiết kế kỹ thuật thi công.
Giá thanh toán đối với trường hợp đấu thầu được thực hiện theo tiến độ
và theo giá trúng thầu ( đối với hợp đồng trọn gói ) hoặc thanh toán theo đơn
giá trúng thầu và các điều kiện được ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và
doanh nghiệp xây dựng ( đối với hợp đồng có điều chỉnh giá). Đối với trường
hợp chỉ định thầu thì giá thanh toán được thực hiện theo giá trị dự toán hạng
mục hay toàn bộ công trình được duyệt trên cơ sở nghiệm thu khối lượng và
chất lượng từng kỳ thanh toán.
Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện
trong quá trình đầu tư và xây dựng
Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm
tổ chức sản xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán
trong các doanh nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định. Tuy
nhiên, về cơ bản, kế toán các phần hành cụ thể (tài sản cố định, vật liệu, công
cụ, chi phí nhân công…) trong doanh nghiệp xây lắp cũng tương tự như
doanh nghiệp công nghiệp.


16

1.3. NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Chi phí xây lắp giữ vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh, liên
quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động xây lắp của doanh nghiệp nên đòi hỏi
các nhà quản lý phải theo dõi và quản lý tốt chi phí xây lắp. Chi phí xây lắp
bao gồm nhiều khoản chi có nội dung và mục đích sử dụng khác nhau. Vì vậy
để phục vụ tốt công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng, cần
phân loại chi phí xây lắp theo các tiêu thức thích hợp.
* Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
- Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu
phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử
dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền công, tiền lương phải trả, các khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí công cụ, dụng cụ là phần giá trị hao mòn của các loại công cụ
dụng cụ trong quá trình sản xuất xây lắp.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền tính khấu hao TSCĐ
sử dụng vào hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài và toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả
về các dịch vụ bên ngoài sử dụng vào quá trình xây lắp của doanh nghiệp như
tiền nước, tiền điện…
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất xây lắp ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố trên và được thanh
toán bằng tiền.


17

* Phân loại chi phí theo công dụng của chi phí
Trong Doanh nghiệp xây lắp toàn bộ chi phí xây lắp phát sinh trong kỳ
được chia thành:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp [4 tr40] bao gồm: chi phí vật liệu
chính, các cấu kiện hoặc bộ phận rời, vật liệu phụ, bán thành phẩm cần thiết
để tạo nên sản phẩm xây lắp.
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí lao động trực tiếp tham
gia quá trình hoạt động xây lắp, cung cấp dịch vụ bao gồm cả lao động do
doanh nghiệp quản lý và lao động thuê ngoài.
- Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí cho các máy thi công
nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy. Chi phí sử dụng máy
thi công bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.
Chi phí thường xuyên cho hoạt động máy thi công là chi phí phát sinh
hàng ngày khi sử dụng máy như: chi phí nhân công điều khiển máy, chi phí
nhiên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao máy thi công,
chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí dịch vụ mua ngoài.
Chi phí tạm thời là chi phí hỗ trợ cho việc sử dụng máy, bao gồm: chi
phí sửa chữa lớn, chi phí công trình tạm để che và bảo dưỡng máy.
- Chi phí sản xuất chung: là chi phí phục vụ và quản lý đội, công trường
xây dựng như: lương nhân viên quản lý đội, tiền ăn ca của nhân viên quản lý
đội và công nhân xây lắp, các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của
nhân viên quản lý đội, công nhân xây lắp, công nhân máy điều khiển máy thi
công thuộc danh sách lao động không xác định thời hạn của doanh nghiệp,
khấu hao TSCĐ dùng cho các hoạt động của đội và các chi phí khác có liên
quan đến hoạt động của đội.


18

* Phân loại chi phí sản xuất trong kiểm tra và ra quyết định
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được [4 tr61] :Đây
là một phương pháp phân loại chi phí có thể hữu ích trong việc kiểm soát chi
phí. Phương pháp phân loại này dựa trên khả năng kiểm soát chi phí đối với
các nhà quản lý. Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong
phân tích chi phí và ra các quyết định xử lý đối với các nhà quản trị thuộc
từng cấp bậc quản lý trong doanh nghiệp, giúp họ hoạch định được dự toán
chi phí đúng đắn hơn, hạn chế sự biến động về huy động nguồn lực để đảm
bảo cho các khoản chi phí. Mặc khác giúp cho các nhà quản trị cấp cao hơn
đưa ra các phương hướng tăng cường chi phí kiểm soát được cho từng cấp mở
rộng, phát triển quy trình sản xuất kinh doanh có tỉ lệ định phí cao hơn, phân
cấp quản lý chi tiết, rõ ràng hơn về những chi phí gián tiếp phục vụ sản xuất
kinh doanh.
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp [4 tr63] : Trong các doanh nghiệp
sản xuất, các chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất
sản phẩm hoặc thực hiện các đơn đặt hàng, do vậy có thể tính trực tiếp cho
từng loại sản phẩm hay từng đơn đặt hàng thì được gọi là chi phí trực tiếp.
Ngược lại, các khoản chi phí cho mục đích phục vụ và quản lý chung, liên
quan đến việc sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng
cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo các tiêu
thức phân bổ phù hợp được gọi là chi phí gán tiếp.
Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp
hạch toán và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí.
- Chi phí lặn [4 tr63] : Chi phí lặn được được xem như khoản chi phí
không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thực hiện
theo phương án nào. Chính vì vậy chi phí lặn là loại chi phí không thích hợp
cho việc xem xét và ra quyết định của người quản lý.


19

- Chi phí chênh lệch [4 tr64] : Chi phí chênh lệch còn gọi là chi phí khác
biệt tương tự như chi phí lặn cũng chỉ xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền
với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu. Chi phí chênh
lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương
án so với một phương án khác. Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của
những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác
hoặc ở phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án
khác nhau.
Nhà quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở
phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông
tin thích hợp cho việc ra quyết định.
- Chi phí cơ hội[4 tr64] : Chi phí cơ hội là những thu thập tiềm tàng bị
mất đi khi lựa chọn thực hiện phương án này thay cho phương án khác. Chi
phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định
của quản lý. Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự
đoán hết tất cả các tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu. Có
như vậy phương án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so
sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các phương án bị loại bỏ.
1.3.2. Lập dự toán chi phí
a. Lập dự toán chi phí sản xuất
Dự toán chi phí sản xuất là các chi phí cần thiết để hoàn thành khối
lượng xây lắp của công trình, hạng mục công trình. Nó được tính toán từ bản
vẽ thiết kế thi công hoặc thiết kế kỹ thuật- thi công. Dự toán cung cấp cho
doanh nghiệp thông tin về toàn bộ kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp một
cách có hệ thống và đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Việc lập dự
toán chi phí sản xuất là dự toán về chi phí cần thiết để hoàn thành khối lượng
xây lắp của từng hạn mục công trình, công trình. Ngoài ra, việc lập dự toán


20

còn có những tác dụng khác nhau như cung cấp thông tin một cách có hệ
thống tất cả dự toán của các công trình trong doanh nghiệp; Xác định rõ các
mục tiêu cụ thể để làm căn cứ đánh giá việc thực hiện sau này. Lường trước
những khó khăn tiềm ẩn để có phương án xử lý kịp thời và đúng đắn. Liên kết
toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp bằng cách hợp nhất các kế hoạch và
mục tiêu của các bộ phận khác nhau. Chính nhờ vậy, dự toán đảm bảo các kế
hoạch và mục tiêu của các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn
doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả quản lý và thúc đẩy hiệu quả công việc.
Căn cứ để lập dự toán chi phí là dựa vào đơn giá xây dựng cơ bản, giá
tính theo một đơn vị diện tích hay công suất sử dụng, định mức các chi phí,
phí, lệ phí tính theo tỷ lệ, các tài liệu khác có liên quan.
Trình tự lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp thường bao gồm
các nội dung sau:
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (VL)
Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp phản ảnh toàn bộ các khoản chi phí vật
liệu trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ nhằm cung cấp thông tin cho
các nhà quản trị trong việc chuẩn bị kịp thời vật tư, đảm bảo sản xuất liên tục,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Căn cứ để xây dựng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường dựa
vào những cơ sở sau:
- Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm
- Đơn giá xuất nguyên vật liệu
- Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính
toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho.
m

VL =
Trong đó:


j =1

Qj * Djvl + CLvl


21

Qj: Khối lượng công tác xây lắp thứ j
Djvl: Chi phí vật liệu trong đơn giá xây dựng của công tác xây lắp thứ j.
CLvl: Chênh lệch vật liệu (nếu có).
-

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp (NC)

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp cũng giống như chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp như số giờ công, số công cho đơn vị khối lượng xây lắp được
quy định rõ trong các tiêu chuẩn xây dựng. Định mức giá của chi phí nhân
công tương đối ổn định vì tiền lương của công nhân xây dựng thường được
thỏa thuận trước theo trình độ nhân công và ổn định cho đến khi kết thúc công
trình.
-

Dự toán chi phí sử dụng máy thi công (M)

Dự toán chi phí sử dụng máy thi công góp phần quan trọng vào việc
tạo ra sản phẩm xây dựng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chế độ sử dụng
hợp lý, trên cơ sở luôn luôn lập dự toán chi phí sử dụng máy thi công để
chủ động trong sản xuất. Muốn lập dự toán chi phí sử dụng máy thi công
thì các nhà quản trị cần phải xây dựng định mức về gía của chi phí sử dụng
máy thi công. Định mức về giá chi phí máy thi công theo gìơ hay theo khối
lượng thực hiện công việc được xác định căn cứ vào:
- Đơn giá ca máy theo định mức nhà nước,
- Khấu hao máy trong kỳ của doanh nghiệp
- Định mức sử dụng nhiên liệu theo thiết kế máy của nhà sản xuất kết
hợp với kiểm tra bấm giờ tiêu hao nhiên liệu thực tế của đơn vị.
Về lượng thời gian để thi công một hạng mục công việc được xác định:
- Căn cứ vào định mức thi công công việc của nhà nước
- Căn cứ vào kỹ thuật lập tiến độ thi công cho từng hạng mục công
việc trong bảng tiến độ chung của dự án.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x