Tải bản đầy đủ

Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản (sau đây gọi tắt là Công ty SEATECCO)
với lĩnh vực kinh doanh chính là xây lắp các công trình cơ điện lạnh và kinh doanh
vật tư, thiết bị ngành thủy sản và công nghiệp lạnh, tính cạnh tranh giữa các đơn vị
xây lắp trong ngành cơ điện lạnh rất lớn. Yếu tố quyết định lớn nhất để đơn vị trúng
thầu các công trình cơ điện lạnh là giá. Do đó, thông tin về chi phí đóng vai trò quan
trọng giúp nhà quản trị kiểm soát được chi phí nhằm đưa ra mức giá hợp lý trong
công tác đấu thầu cũng như việc kiểm soát được chi phí sản xuất phát sinh tại Công ty
SEATECCO.
Hiện nay, Kế toán Công ty SEATECCO mới chỉ hướng vào kế toán tài chính
và sản phẩm chính là báo cáo tài chính, chủ yếu phục vụ cho báo cáo thuế. Thông tin
cung cấp cho nhà quản trị chưa đảm bảo tính phù hợp, kịp thời và tính tin cậy do một
số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, bộ máy kế toán tại Công ty chỉ có hệ thống kế toán tài chính, chưa
có hệ thống kế toán quản trị.
Thứ hai, việc tổ chức phân loại và tập hợp chi phí mới chỉ hướng tới việc tính
giá thành cho từng công trình. Chưa thực hiện phân loại chi phí theo chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp.

Thứ ba, chưa thành lập các trung tâm chi phí để phục vụ cho việc phân tích,
kiểm soát chi phí sản xuất.
Thứ tư, chưa xây dựng hệ thống định mức chi phí nội bộ riêng cho từng
khoản mục chi phí.
Trên đây là một số vấn đề cần khắc phục tại đơn vị. Sau khi những vấn đề
này được giải quyết thì sẽ giúp cho công tác hạch toán kế toán, phân tích, kiểm soát
nhằm cắt giảm chi phí có hiệu quả hơn. Thông tin cung cấp cho nhà quản trị phù
hợp, kịp thời và tin cậy.


2

Xuất phát từ lý do trên, tác giả nghiên cứu đề tài “ Kế toán quản trị chi phí
tại Công ty Công ty Cổ phần Kỹ thuật Thủy sản”
2. Tổng quan
Việc nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói
riêng đã được rất nhiều tác giả Việt nam nghiên cứu. Tác giả Phạm Văn Dược
(1997) đã nghiên cứu về “phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế
toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam”. Trong công trình này, tác giả đã có
những nghiên cứu cụ thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào
thực tiễn trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn
mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt
của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của
từng ngành. Có một số tác giả nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị chi phí trong
các ngành nghề cụ thể. Tác giả Đào Diệu Hằng (năm 2004) nghiên cứu về” Tổ chức
kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc
trên địa bàn Hà Nội”, tác giả Phạm Thị Thủy (Năm 2006) nghiên cứu về“xây dựng
mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt
Nam”, tác giả Phan Văn Phúc (năm 2008) nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế
toán quản trị chi phí tại Công ty vận tải đa phương thức”.
Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ
thống kế toán quản trị và đề xuất giải pháp ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành
cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài. Mặc dù vậy, tất cả các công trình
nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ
thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất xây lắp cơ
điện lạnh và đặc biệt là Công ty SEATECCO.
Hướng đi mới của đề tài là góp phần chắt lọc và hoàn thiện về hệ thống kế
toán quản trị chi phí tại Công ty SEATECCO. Nhằm cung cấp cho nhà quản trị
những nhận thức về kế toán quản trị chi phí và tầm quan trọng của nó. Qua đó, có
thể vận dụng cho doanh nghiệp mình nhằm cải tạo lại hệ thống kế toán để mang lại


lợi ích kinh tế cao hơn, giảm thiểu hóa chi phí. Hiện nay sách giáo khoa, và các đề


3

tài nghiên cứu đều hướng đến các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, sản xuất
những mặt hàng thông dụng. mà đặc điểm của những lĩnh vực kinh doanh này khác
so với lĩnh vực xây lắp. Do đó đề tài góp phần giúp cho các nhà quản trị doanh
nghiệp xây lắp nói chung nhận thức đúng hơn về cách tổ chức kế toán tại đơn vị
mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong Công ty
SEATECCO, nhằm tìm ra những mặt còn tồn tại, từ đó mạnh dạn đề xuất các giải
pháp cụ thể, khoa học nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng chi phí sản xuất tại Công ty
SEATECCO từ đó đưa ra nội dung kế toán quản trị chi phí tại Công ty.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Công ty kinh doanh nhiều ngành nghề, tuy nhiên ngành xây lắp các công
trình cơ điện lạnh là chủ yếu. Do đó, giới hạn của luận văn tập trung nghiên cứu các
vấn đề liên quan đến kế toán quản trị chi phí của công trình xây lắp cơ điện lạnh tại
Công ty SEATCCO.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp: Mục đích để thu thập, phân tích
những thông tin liên quan đến thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty
SEATECCO. Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành phỏng vấn kế toán trưởng
tại đơn vị; thu thập số liệu từ phòng kế toán, phòng kế hoạch. Dựa vào việc thu thập
dữ liệu thứ cấp tác giả có thể rút ra kết luận về thực trạng áp dụng kế toán quản trị
chi phí tại Công ty SEATECCO.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp: Các giáo trình, tạp chí kế toán và
các công trình của những tác giả nghiên cứu.


4

6. Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận:
Luận văn nghiên cứu, hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về kế toán quản trị chi
phí doanh nghiệp xây lắp.
- Về mặt thực tiễn:
Phân tích thực trạng công tác công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
SEATECCO, từ đó đánh giá về thực trạng.
- Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn tại Công ty SEATECCO luận văn đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty.
7. Kết cấu luận văn
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây
lắp.
- Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty SEATECCO.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty
SEATECCO.


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN
XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1. Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Xã hội càng phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh càng được mở rộng,
càng mang tính chất đa dạng, phức tạp thì nhu cầu thông tin càng trở nên bức thiết
và quan trọng.
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - tài chính
của một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tượng bên trong và bên
ngoài tổ chức, doanh nghiệp lại còn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay – giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế, sự cạnh tranh mang tính chất
phức tạp, khốc liệt. Có thể nói chính chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức đề đạt
được các mục tiêu đã đề ra. Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấp
cho các đối tượng bên trong và bên ngoài tổ chức, có sự khác biệt nên thông tin kế
toán được phân biệt thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị.
Mặc dù kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã minh
chứng được sự cần thiết và quan trọng của nó đối với công tác quản trị, điều hành
các tổ chức, doanh nghiệp; đặc biệt là những tổ chức, doanh nghiệp có quy mô lớn,
hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành trong phạm vi rộng. Hiện nay, kế toán quản trị thật
sự đã trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng hoạt
động, kiểm soát và ra quyết định.
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy,
bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán. Trải
qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán


6

dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định
nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán [15,tr5].
Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với
chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể
quản lý. Định nghĩa này hướng về bản chất của kế toán. Quá trình sản xuất ra của cải
vật chất là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người. Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả, nhất thiết phải có
hoạt động quản lý, tức là hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức
thực hiện theo những hướng đã định. Trong hoạt động quản lý này, kế toán đóng vai
trò là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý (quá trình sản xuất) và chủ thể quản lý.
Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghi
chép và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức. Định nghĩa
này hướng về nội dung của kế toán. Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng hệ thống
các phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cân
đối) để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy, nhất quán và so sánh được nhằm
giúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định đúng đắn đối
với tổ chức.
Như vậy, xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một
bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình
định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh
tế của một tổ chức [17,tr11].
Để cụ thể hoá nội dung và chức năng quản trị chi phí chúng ta sẽ phân tích
đối tượng sử dụng thông tin kế toán.
Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội
bộ tổ chức. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các cổ đông,
ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế, … Đối tượng sử dụng thông tin
kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo
các bộ phận) trong tổ chức. Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng
hai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau. Bên ngoài


7

tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế
của tổ chức. Các nhà quản lý trong nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo
từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong
tương lai cho tổ chức.
Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thống kế toán trong tổ
chức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán
quản trị. Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bên
ngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các
chủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức.
Kế toán quản trị thường được định nghĩa là quá trình định dạng, đo lường,
tích luỹ, phân tích, thiết lập, diễn giải và cung cấp thông tin tài chính và phi tài
chính cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, đánh giá, kiểm soát tổ chức và
bảo đảm cho việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của tổ chức. Khái niệm này tập
trung vào việc xác định nội dung, mục đích của kế toán quản trị, phân định ranh
giới giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính. Mục đích chủ yếu của kế toán quản
trị là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểm
soát quá trình hoạt động trong khi mục đích chủ yếu của kế toán tài chính là cung
cấp cơ sở thông tin cho các nhà đầu tư, các ngân hàng, các đối tác ký kết các hợp
đồng kinh tế đối với tổ chức. Với mục đích khác nhau nên nội dung của kế toán
quản trị và kế toán tài chính cũng khác nhau. Kế toán quản trị cung cấp thông tin
hướng về tương lai của tổ chức, trong khi kế toán tài chính cung cấp thông tin về
quá khứ của tổ chức. Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà
còn cung cấp thông tin phi tài chính về các quá trình hoạt động trong nội bộ tổ chức
cũng như môi trường bên ngoài tổ chức. Hơn nữa, kế toán quản trị không phải tuân
thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán ban hành mà được thực hiện một cách
linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu quản trị trong nội bộ tổ chức.
Bên cạnh khái niệm kế toán tài chính và kế toán quản trị còn có khái niệm kế
toán chi phí. Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được
định nghĩa là “ kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một


8

quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực
tiếp, kết chuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”.Theo định
nghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ thứ ba
của hệ thống kế toán, mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính
và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị [12,tr17].
Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính
toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để
cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả
kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Dưới góc độ kế toán
quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi
phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận
của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh
doanh.
Bên cạnh quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài
chính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị còn có quan điểm đồng nhất kế
toán chi phí với kế toán quản trị. Quan điểm này xuất phát từ thực tế khách quan là
thông tin chi phí cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng đối với sự
sống còn của tổ chức. Các nhà quản trị của tổ chức không phải đơn thuần chỉ cần
quyết định được chi phí giá vốn của hàng bán hoặc dịch vụ cung cấp mà quan trọng
hơn, họ cần phải có khả năng kiểm soát chi phí của các hoạt động và các quá trình
trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Theo tác giả, quan điểm đồng nhất kế toán chi phí
với kế toán quản trị sẽ dẫn đến sự “thiên vị” khi xây dựng hệ thống kế toán chi phí
trong các tổ chức. Hệ thống kế toán chi phí theo quan điểm này sẽ quá tập trung vào
việc cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ và sẽ sao nhãng việc cung cấp thông tin
trung thực và khách quan cho việc lập các báo cáo tài chính [15,tr6].
Theo tác giả, quan điểm kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tài
chính và vừa có trong hệ thống kế toán quản trị là hoàn toàn hợp lý, trong đó bộ
phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi
phí. Quan điểm này thể hiện đúng bản chất, chức năng của kế toán chi phí và sẽ


9

giúp ích trong việc xây dựng hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong các tổ chức,
với việc kết hợp hài hoà các mục tiêu của hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế
toán quản trị.
Với các phân tích trên, tác giả cho rằng kế toán quản trị chi phí là một bộ
phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ
chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động,
nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp
lý. Quan điểm này sẽ là cơ sở cho tất cả các phân tích khác được trình bày trong nội
dung luận văn.
1.1.2. Sơ lược sự ra đời và phát triển kế toán quản trị chi phí ở Việt Nam
Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về kế
toán quản trị và kế toán quản trị chi phí xuất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm
1990. Phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn các doanh nghiệp
Việt Nam được bàn luận ngày càng nhiều, tuy nhiên thực tế áp dụng kế toán quản trị
tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.
Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư
hướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Có thể nói, đây
là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện
kế toán quản trị tại Việt Nam.
Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về
hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời
nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT.
1.1.3. Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất
1.1.3.1. Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên và liên tục. Đối với nhà
quản trị thông tin cần thiết về quá khứ và hiện tại là dự toán cho tương lai. Do đó,
yêu cầu KTQT là phải xây dựng dự toán, thu nhận và xử lý các thông tin về chi phí,
giá thành, thu nhập và kết quả... của từng tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công
việc, từng sản phẩm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất. Tiến


10

hành phân tích kịp thời các thông tin làm căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp,
quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sử
dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp [14,tr17].
Đối với các nhà quản lý thì những chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi lợi
nhuận chịu những ảnh hưởng với những chi phí đã chi. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm
sao kiểm soát được chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động phát sinh chi phí là
mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn đối với
hoạt động của DN. KTQT chi phí cung cấp cả những thông tin quá khứ và những
thông tin có dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi
phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho sự lựa chọn và đưa ra các quyết định về giá
bán sản phẩm, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài...
KTQT không nhận thức chi phí theo quan điểm của KTTC mà phải được
nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong
hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. KTQT chi phí sẽ trả lời
chi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào khi có sự thay đổi của một số nhân tố
nào đó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm giải thích những thay đổi bất lợi của chi phí
và giải pháp đưa ra để điều chỉnh một cách kịp thời. Từ đó cho thấy KTQT chi phí
mang nặng bản chất của KTQT hơn là kế toán chi phí thuần túy và cung cấp các
thông tin về chi phí nhằm thực hiện các chức năng quản trị [14,18].
1.1.3.2. Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất
Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp
trong việc thực hiện các chức năng quản lý. Để thực hiện vai trò của mình, kế toán
quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh
nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch; phản ánh thông tin thực hiện để trợ giúp
các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch và xử
lý thông tin thực hiện để từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng
kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Như vậy, kế toán quản trị chi phí đã đóng
vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý cả trước, trong và sau
quá trình kinh doanh.


11

Các chức năng của kế toán quản trị được khái quát như sau:
Như phần trên đã trình bày, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ
thống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp họ
thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp. Các chức năng cơ bản của quản trị
doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc
thực hiện kế hoạch và ra quyết định. Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từ
khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực
hiện kế hoạch theo sơ đồ sau.

Error: Reference source not found LẬP KẾ HOẠCH

RA QUYẾT ĐỊNH

KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Hình 1.1. Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp
Chức năng ra quyết định yêu cầu các nhà quản lý cần lựa chọn một giải pháp
hợp lý nhất trong số các giải pháp đề xuất. Với chức năng lập kế hoạch các nhà
quản lý cần xây dựng các mục tiêu chiến lược cho doanh nghiệp và vạch ra các
bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó. Với chức năng tổ chức thực hiện các nhà
quản lý cần quyết định cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của doanh nghiệp để
đạt được các kế hoạch đã đề ra. Với chức năng kiểm tra và đánh giá, các nhà quản
lý cần so sánh báo cáo thực hiện với các số liệu kế hoạch để bảo đảm cho các bộ
phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng các mục tiêu đã định.


12

Để thực hiện tốt các chức năng quản trị doanh ngiệp, nhà quản trị cần phải
đưa ra được các quyết định đúng đắn và vai trò của kế toán quản trị chi phí chính là
nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý trong quá trình ra quyết
định.
Trên cơ cở các chức năng của quản trị doanh nghiệp, kế toán quản trị có các
vai trò sau:
Kế toán quản trị chi phí tiến hành cụ thể hoá các kế hoạch hoạt động của
doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh. Kế toán quản trị chi phí cung
cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác
theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về đặc
điểm của sản phẩm, cơ cấu sản phẩm sản xuất và phân bổ hợp lý các nguồn lực có
hạn cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh cung cấp thông tin về dự toán chi phí cho việc lập kế hoạch và ra
quyết định của các nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin
để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh
giá, đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng
cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động. Việc cung cấp thông tin về chi
phí của các hoạt động một cách chi tiết và thường xuyên sẽ giúp ích cho các nhà
quản lý rất nhiều trong kiểm soát và hoàn thiện quá trình sản xuất sản phẩm hoặc
thực hiện các dịch vụ vì những thông tin này giúp các nhà quản lý phát hiện các
hoạt động tốn kém quá nhiều chi phí để thiết kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạt
động tốn kém chi phí đó hoặc có những cải tiến làm cho hoạt động đó có hiệu quả
hơn, tốn kém chi phí ít hơn.
Ngoài ra, các báo cáo hoạt động định kỳ so sánh kết quả thực tế với mục tiêu
dự kiến về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được sử dụng để
làm cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý và do đó cung cấp động lực để các
nhà quản lý cố gắng thực hiện tốt công việc của mình.
Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà
quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo


13

định kỳ và báo cáo đặc biệt. Báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các
bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, như các sản phẩm, dịch vụ, các thị trường
tiêu thụ nhằm bảo đảm doanh nghiệp chỉ tiến hành thực hiện các hoạt động mang lại
lợi nhuận. Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp các thông tin để phân bổ các
nguồn lực của doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu
thụ, hay quyết định ngừng sản xuất hợp lý. Các báo cáo đặc biệt giúp cho các nhà
quản lý đưa ra các quyết định chiến lược, như phát triển các sản phẩm và dịch vụ
mới, đầu tư các thiết bị, nhà xưởng mới, đàm phán các hợp đồng dài hạn với các
nhà cung cấp và các khách hàng. Trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về
chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất
là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên
thị trường [14,tr22].
Để thực hiện vai trò cung cấp thông tin của mình, mô hình kế toán quản trị
chi phí được tổ chức thành hai nội dung cơ bản: tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi
phí và tổ chức các khâu công việc kế toán quản trị chi phí. Bộ máy kế toán quản trị
chi phí cần được tổ chức hợp lý để thực hiện tốt các nội dung kế toán quản trị chi
phí như lập dự toán chi phí, tổ chức thu thập thông tin thực hiện, kiểm soát quá trình
thực hiện dự toán, phân tích thông tin chi phí để ra các quyết định kinh doanh.
1.2. VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH
VỰC XÂY LẮP CƠ ĐIỆN LẠNH
1.2.1. Vai trò của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp cơ điện lạnh
Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân,
chuyên hoạt động sản xuất kinh doanh các sản phẩm xây lắp trên thị trường xây
dựng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
DNXL là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân và có đủ điều kiện để thực
hiện những công việc có liên quan đến quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị cho các
công trình, hạng mục công trình như: đội xây dựng, xí nghiệp xây dựng, công ty lắp
máy,...


14

Tùy theo hình thức sở hữu vốn mà các DNXL có thể tồn tại dưới hình thức
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty TNHH... Các
doanh nghiệp này giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì xây dựng là một nhu cầu
thường xuyên và ngày một tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Ngày
nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thì xây dựng trở thành một ngành sản xuất
vật chất quan trọng phục vụ cho nền kinh tế.
Các DNXL giữ một vai trò quan trọng trong việc nộp Ngân sách Nhà nước,
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, giảm bớt nạn thất
nghiệp.
Đối với Việt Nam, với việc hội nhập kinh tế thế giới và phát triển như hiện
nay, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến ngành xây dựng, ngân sách Nhà nước cấp cho
xây dựng tăng qua các năm bởi vì phát triển xây dựng là tiền đề phát triển các
ngành công nghiệp khác.
1.2.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp cơ điện
lạnh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp có một số đặc điểm
như sau:
- Chủ yếu là thực hiện các hợp đồng đã ký với đơn vị chủ đầu tư sau khi
trúng thầu hoặc được chỉ định thầu.
- Trong ngành xây dựng việc sản xuất ra những sản phẩm nào, tiêu chuẩn
chất lượng kỹ thuật ra sao đã được xác định cụ thể, chi tiết trong hồ sơ thiết kế kỹ
thuật được duyệt. DNXL phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kỷ thuật, chất
lượng xây lắp công trình. DNXL phải có bộ phận kiểm tra kỹ thuật và chất lượng để
thực hiện công tác quản lý kỹ thuật và chất lượng xây lắp công trình theo thiết kế
được duyệt nhằm bảo đảm thời gian sử dụng rất lâu dài của sản phẩm xây lắp.
- Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc... có quy mô lớn, kỹ
thuật phức tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian xây lắp dài có khi 2,3 năm.


15

Trong điều kiện đó không thể chờ cho đến khi xây dựng xong mới tính toán kết quả
và thanh toán mà phải tiến hành hàng tháng, quý, năm.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn có các điều kiện cần thiết
cho sản xuất như các loại xe máy, thiết bị, nhân công... phải di chuyển theo đơn vị
thi công.
- Trong các doanh nghiệp xây dựng, ngoài bộ phận thi công xây lắp chính
đảm nhận thực hiện các hợp đồng đã ký với bên giao thầu còn có thể có các bộ phận
sản xuất khác như: bộ phận xây lắp phụ, bộ phận sản xuất phụ để phục vụ cho bộ
phận xây lắp chính và tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ các khoản hao phí
vật chất mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện công tác xây lắp nhằm tạo ra các loại
sản phẩm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng như theo hợp đồng giao nhận
thầu đã ký kết. Việc kiểm soát chi phí xây lắp có tác động trực tiếp đến giá thành
sản phẩm xây lắp cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp.

1.3. TỔ CHỨC MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CƠ ĐIỆN LẠNH
Tổ chức mô hình kế toán quản trị được khái quát trên hai mô hình như sau:
Thứ nhất, tổ chức kế toán quản trị kết hợp với kế toán tài chính:
Theo mô hình này, hệ thống kế toán quản trị được tổ chức kết hợp với hệ
thông kế toán tài chính, kế toán quản trị và kế toán tài chính được tổ chức thành một
hệ thống nhất trong cùng một bộ máy kế toán. Các kế toán viên vừa làm nhiệm vụ
của kế toán tài chính vừa làm nhiệm vụ của kế toán quản trị. Kế toán tài chính sử
dụng những tài khoản tổng hợp, còn kế toán quản trị sử dụng những tài khoản chi
tiết kết hợp với các phương pháp thống kê toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin.
Bộ phận kế toán chi phí sản xuất có chức năng thu nhận và cung cấp thông
tin vừa tổng hợp vừa chi tiết về chi phí sản xuất theo yêu cầu quản lý.
Ưu điểm của mô hình này là kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp và quản
lý cụ thể, thông tin cung cấp có độ chính xác cao hơn nhờ có sự so sánh giữa kế


16

toán tổng hợp và kế toán chi tiết, việc thu nhận thông tin nhanh, thuận lợi cho việc
tin học hóa công tác kế toán.
Tuy nhiên mô hình này có nhược điểm là tính chuyên môn hóa chưa cao,
không tách biệt rõ ràng kế toán quản trị và kế toán tài chính nên quá trình quản lý
nội bộ vẫn còn hạn chế [15,tr36].
Thứ hai, tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính
Theo mô hình này, bộ phận kế toán quản trị chi phí sản xuất có chức năng
thu thập, xử lý các thông tin về chi phí sản xuất từ chứng từ ban đầu hay do bộ phận
kế toán tài chính đã phản ánh, lập các dự toán về chi phí sản xuất, các báo cáo quản
trị theo yêu cầu quản lý cụ thể.
Ưu điểm của mô hình này, có sự chuyên hóa giữa kế toán tài chính và kê
toán quản trị, phân định rõ ranh giới từng lĩnh vực, giúp cho từng bộ phận có khả
năng nâng cao trình độ chuyên môn.
Hạn chế của mô hình này là tính kồng kềnh kém linh hoạt và hiệu quả kinh tế
không cao, giữa quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết không có sự kết hợp chặt chẽ,
việc thu nhận và xử lý thông tin chậm do khâu luân chuyển chứng từ kế toán
[15,37].
1.4. NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CƠ ĐIỆN LẠNH
1.4.1. Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp cơ điện lạnh
1.4.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế
Theo cách phân loại này thì toàn bộ các chi phí sản xuất của doanh nghiệp
xây lắp được chia ra thành 7 yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu
Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu
phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử
dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực


17

Bao gồm toàn bộ các chi phí về nhiên liệu, động lực mà doanh nghiệp đã sử
dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp
Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân và nhân viên hoạt động
sản xuất trong doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn, BHTN
Bao gồm toàn bộ số trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,
bảo hiểm thất nghiệp của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh
nghiêp.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định
Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định sử dụng cho sản xuất
của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài
Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua từ
bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền bưu phí... phục vụ cho hoạt động sản xuất
của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí bằng tiền khác
Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài các yếu tố
chi phí trên.
Phân loại theo yếu tố chi phí giúp ta biết được chi phí nào đã dùng vào sản
xuất và tỷ trọng của từng chi phí đó là bao nhiêu để phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện dự toán chi phí sản xuất từ đó cung cấp tài liệu để tổng hợp tính toán thu nhập
quốc dân.
1.4.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo chức năng hoạt động của chi phí
Theo cách phân loại này gồm:
* Chi phí sản xuất
- Chi phí vật liệu trực tiếp:


18

Chi phí vật liệu trực tiếp là chi phí (đã tính đến hiện trường xây lắp) của các
vật liệu chính, vật kết cấu, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển ( ván khuôn, đà
giáo…), bán thành phẩm để tạo nên sản phẩm xây lắp.
- Chi phí nhân công trực tiếp:
Bao gồm chi phí về tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp xây lắp,
không tính vào khoản mục này số tiền công và trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
của công nhân xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên sản xuất chung
(phân xưởng, đội sản xuất), nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý.
- Chi phí sử dụng máy thi công:
Bao gồm những chi phí liên quan đến việc sử dụng máy thi công để hoàn
thành sản phẩm xây lắp:
+ Chi phí nhân công: là chi phí liên quan phải trả cho công nhân ( thợ, điều
khiển máy) như: tiền công, tiền lương, các khoản phụ cấp,
+ Chi phí vật liệu: là chi phí về vật liệu dùng để chạy máy, sửa chửa máy thi
công như nhiên liệu...
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí dụng cụ, công cụ dùng cho sử dụng
máy thi công;
+ Chi phí khấu hao máy thi công: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao cơ bản
của máy thi công;
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngoài
để sử dụng máy thi công như: Chi phí về điện, nước, hơi, khí nén, chi phí sửa chữa
máy thi công thuê ngoài…;
+ Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí bằng tiền ngoài những chi phí nêu
trên phục vụ cho sử dụng máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung:
Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các đội ( phân
xưởng) sản xuất ngoài ba khoản mục đã nêu trên, bao gồm 5 khoản mục:
+ Chi phí nhân viên quản lý đội xây dựng: gồm chi phí tiền lương, tiền công
trả cho quản lý đội xây dựng, các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ,


19

BHTN tính cho các bộ phận: Nhân công trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển
máy thi công, nhân viên quản lý đội xây dựng...
+ Chi phí vật liệu
+ Chi phí dụng cụ sản xuất
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ Chi phí bằng tiền khác
* Chi phí ngoài sản xuất:
- Chi phí bán hàng: rất ít phát sinh tại đơn vị xây lắp
- Chi phí quản lý:
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý và
phục vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp. Cụ thể, chi phí
quản lý doanh nghiệp bao gồm:
+ Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí của người
lao động, quản lý ở các bộ phận phòng ban của doanh nghiệp.
+ Chi phí vật liệu, năng lượng, công cụ dụng cụ dùng trong hành chính
quản trị văn phòng.
+ Chi phí khấu hao thiết bị, TSCĐ khác dùng trong công việc hành chính
của văn phòng.
+ Chi phí dịch vụ điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục vụ chung cho toàn
doanh nghiệp.
+ Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản.
+ Các khoản phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản như dự phòng nợ
phải thu khó đòi, hao hụt trong khâu dự trữ.
Như vậy chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là một khoản mục chi phí gồm
nhiều thành phần có đặc điểm khác nhau và khá phức tạp. Đây là khoản mục chi phí
liên quan khá chặt chẽ đến quy mô, trình độ tổ chức quản trị doanh nghiệp. Vì vậy
sự nhận diện và phân cấp quản lý, phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp rất khó


20

khăn, đôi khi dẫn đến mức phân bổ sai lệch cho các sản phẩm, dịch vụ làm đánh giá
sai lầm thành quả đóng góp, kiềm chế tính năng động và sáng tạo của các bộ phận.
Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục
vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính
giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện giá thành.
1.4.1.3. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia thành hai loại:
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sản
xuất ra một công trình, một hạng mục công trình, căn cứ vào số liệu của chứng từ kế
toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất ra
nhiều công trình, nhiều hạng mục công trình, những chi phí này phải thông qua phân
bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa trong việc xác định phương
pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp
lý.
1.4.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử
- Chi phí khả biến (biến phí): Là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi
theo các mức độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có hoạt động xãy ra.
- Chi phí bất biến (định phí): Là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sự
thay đổi về mức độ hoạt động đạt được.
- Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí cấu thành nên nó bao gồm cả chi phí
khả biến và chi phí bất biến.
1.4.1.5. Phân loại chi phí sản xuất trong kiểm tra và ra quyết định
- Chi phí kiểm soát được: Là chi phí mà cấp quản lý dự đoán được sự phát
sinh và thuộc quyền quyết định của cấp quản lý đó.


21

- Chi phí không kiểm soát được: Là chi phí mà cấp quản lý không dự đoán
được sự phát sinh của nó, đồng thời không thuộc quyền quyết định của cấp quản lý
đó.
- Chi phí trực tiếp: Là chi phí cấu thành nên sản phẩm, gắn liền với một sản
phẩm hay dịch vụ nhất định hoàn thành.
- Chi phí gián tiếp: Là chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, hoặc nhiều dịch
vụ khác nhau không làm tăng giá trị sản phẩm, dịch vụ.
- Chi phí lặn: Chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí gắn liền với các
phương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chon.
- Chi phí chênh lệch: Khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong
quyết định lựa chọn phương án tối ưu.
- Chi phí cơ hội: Là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực
hiện phương án này thay cho phương án khác.
1.4.2. Lập dự toán chi phí sản xuất
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động hiệu quả đều phải có một dự
toán cụ thể. Dự toán càng chính xác bao nhiêu thì việc tiến hành thực hiện công
việc hiệu quả bấy nhiêu.
Lập dự toán là quá trình tính toán chi tiết nhằm chỉ ra cách huy động, sử
dụng vốn và các nguồn lực khác theo từng kỳ và được biểu diễn một cách có hệ
thống dưới dạng số lượng và giá trị. Việc lập dự toán chi phí sản xuất là dự toán về
chi phí cần thiết để hoàn thành khối lượng xây lắp của hạng mục công trình, công
trình [3,tr41].
Việc lập dự toán sẽ có tác dụng:
- Cung cấp thông tin một cách có hệ thống tất cả dự toán của các công trình
trong doanh nghiệp;
- Xác định rõ các mục tiêu cụ thể để làm căn cứ đánh giá sau này;
- Định hướng cho việc dầu tư.
Để lập được dự toán chi phí trong xây lắp cho các công trình, hạng mục công
trình cần dựa vào:


22

- Bản vẽ thiết kế ( cơ sở, thi công, ...)
- Định mức xây dựng cơ bản phần xây dựng, lắp đặt khảo sát của Bộ xây dựng
- Đơn giá xây dựng cơ bản của tỉnh, thành phố
- Thông tư hướng dẫn lập dự toán ( TT 05/2007/ TT – BXD)
- Thông tư điều chỉnh dự toán
- Thông tư hướng dẫn áp dụng luật thuế giá trị gia tăng
- Thông tư về chế độ tiền lương, phụ cấp
- Công bố giá nguyên vật liệu xây dựng của sở xây dựng
Trước khi đi vào lập dự toán, cần xây dựng định mức cho từng khoản mục chi
phí
1.4.2.1. Xây dựng định mức:
Định mức chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền những hao phí
về lao động sống và lao động vật hóa theo tiêu chuẩn để đảm bảo cho việc sản xuất
kinh doanh một đơn vị sản phẩm dịch vụ ở điều kiện nhất định.
Chi phí định mức là chi phí dự tính cho việc sản xuất một sản phẩm hay cung
cấp dịch vụ. Khi chi phí định mức tính cho toàn bộ số lượng sản phẩm sản xuất hay
dich vụ cung cấp thì chi phí định mức được gọi là chi phí dự toán.
Chi phí định mức được sử dụng như là thước đo trong hệ thống dự toán của
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kế toán quản trị sẽ sử
dụng chi phía định mức để xác định tổng chi phí dự toán để sản xuất sản phẩm. Sau
khi quá trình sản xuất được tiến hành, kế toán quản trị sẽ so sánh giữa chi phí thực tế
và dự toán để xác định sự biến động về chi phí. Đây chính là cơ sở để kiểm soát chi
phí [12,tr103].
Chi phí định mức là phương pháp cần thiết giúp cho quá trình thực hiện kế
toán trách nhiệm, vì chi phí định mức là một trong các thước đo để đánh giá thành
quả của các trung tâm trách nhiệm, nhất là trung tâm chi phí.
a. Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Vật liệu xây dựng ngoài xi măng, sắt, thép còn có các vật liệu trong môi
trường tự nhiên như cát, đá, sỏi, sạn. XDCB là một ngành sản xuất không chấp


23

nhận sản phẩm kém chất lượng. Vì vậy các nhà thầu luôn luôn phải có phòng thí
nghiệm hiện trường để thường xuyên kiểm tra vật liệu tại công trường để tránh trình
trạng hỏng phá đi làm lại vì ngoài chi phí phải thi công lại, còn tốn chi phí di dời
sản phẩm hỏng ra khỏi công trường nhà thầu sẽ chịu rất nhiều tốn kém.
Định mức về lượng: Là lượng vật liệu cần thiết để thi công 1m 3 bê tông,
1m 2 đường giao thông... có cho phép những hao hụt bình thường.
Định mức về giá nguyên vật liệu: Phản ánh đơn giá bình quân của một đơn
vị nguyên vật liệu, bao gồm:
+ Giá mua vật liệu theo hóa đơn
+ Chi phí thu mua: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho...
+ Trừ các khoản giảm giá, chiết khấu.
Định mức chi phí NVLTT được xác định theo công thức sau:
Định mức chi

=

Định mức về

X

Định mức về

phí NVLTT
lượng NVL
giá NVL
b. Định mức chi phí nhân công trực tiếp: Cần xác định được lượng thời gian
và giá thời gian.
- Định mức lượng thời gian hao phí: Là lượng thời gian bình quân cần thiết
để hoàn tất công việc đối với công nhân ở mức độ lành nghề trung bình, bao gồm:
+ Thời gian cho nhu cầu sản xuất cơ bản
+ Thời gian cho vận hành máy móc thiết bị
+ Thời gian ngừng nghỉ hợp lý của máy móc thiết bị, người lao động
+ Thời gian sửa chữa sản phẩm.
- Định mức đơn giá cho một đơn vị thời gian: Phản ánh chi phí nhân công trả
cho một đơn vị thời gian hao phí, gồm:
+ Tiền lương cơ bản cho một đơn vị thời gian ở các bậc thợ khác nhau
+ Các khoản phụ cấp theo lương
+ Các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

Định mức chi phí nhân công trực tiếp được xác định như sau:


24

Định mức chi

=

Định mức về lượng

phí NCTT
thời gian hao phí
c. Định mức chi phí sử dụng máy thi công

x

Định mức về giá nhân công
cho một đơn vị thời gian

Định mức về giá chi phí máy theo giờ hay theo khối lượng thực hiện một
công việc được xác định căn cứ vào:
- Đơn giá ca máy theo định mức nhà nước.
- Khấu hao máy trong kỳ của doanh nghiệp.
- Định mức sử dụng nhiên liệu theo thiết kế máy của nhà sản xuất kết hợp
với kiểm tra bấm giờ tiêu hao nhiên liệu thực tế của đơn vị.
Về lượng thời gian để thi công một hạng mục công việc được xác định như
sau:
- Căn cứ vào định mức thi công công việc của nhà nước.
- Căn cứ vào điểm dần kỹ thuật lập tiến độ thi công cho từng hạng mục công
việc trong bảng tiến độ chung của dự án.
Định mức chi phí
máy thi công
d. Định mức chi phí chung:

=

Định mức
ca máy

*

Định mức giá
ca máy

Trong XDCB chi phí chung được xác định dựa vào tỷ lệ % ( 5 – 6% của chi
phí trực tiếp ) tùy thuộc vào từng dự án.
Để lập được chi phí chung của doanh nghiệp phải căn cứ vào các khoản chi
thực tế trong kỳ trước của doanh nghiệp như: chi lương, chi phí cho bộ phận điều
hành dự án, điều hành Công ty, các khoản chi khác chiếm khoảng bao nhiêu phần
trăm trong XDCB trên sản lượng thực hiện để có định mức chi phí chung cho phù
hợp.

* Xây dựng định mức chi phí sản xuất tại đơn vị được tóm lược theo sơ đồ
sau:


25

Định mức về lượng
Định mức chi phí NVL trực tiếp
Định
mức
chi
phí
sản
xuất

Định mức về giá
Định mức về lượng

Định mức chi phí NC trực tiếp

Định mức về giá
Định mức biến phí

Định mức chi phí sx chung
Định mức định phí
Hình 1.2: Xây dựng định mức chi phí tại Công ty xây lắp
1.4.2.2. Lập dự toán chi phí sản xuất
a. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: nhằm dự kiến số lượng nguyên vật liệu
cần cho quá trình sản xuất thi công.
Chi phí NVLTT
dự toán

NVL cần cho

=

quá trình thi

hoạch

Định mức chi phí

x

theo kế hoạch
Khối lượng

Lượng NVL
cần mua kế

Khối lượng công việc

=

NVLTT

Lượng nguyên
+

vật liệu tồn
cuối kỳ

-

Lượng NVL tồn
đầu kỳ

công
b. Chi phí nhân công trực tiếp: Là dự kiến số giờ công trực tiếp cần thiết để

thi công hạng mục công trình.
Phương pháp lập:
Chi phí NCTT

=

Khối lượng công việc

Định mức chi phí

x

dự toán
Theo kế hoạch
NCTT
c. Chi phí sử dụng máy thi công: Là dự kiến số ca máy cần thiết cho quá
trình thi công từng nội dung công việc, từng hạng mục công trình, công trình.
Chi phí sử dụng máy
thi công dự toán

=

Khối lượng công
việc theo kế hoạch

x

Định mức chi phí
sử dụng máy thi


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x