Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác kiểm soát chi phí kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đà Nẵng

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Đà Nẵng, tháng 11 năm 2012
Tác giả luận văn

Lê Hoa


ii

MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN...................................................................................................................i
MỤC LỤC.............................................................................................................................ii
MỞ ĐẦU................................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài........................................................................................2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................................3
CHƯƠNG 1...........................................................................................................................8
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ.....................................................8
SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP...................................................8
KẾT LUẬN CHUNG........................................................................................................106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................104
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
BHYT
BHTN
CNCN
CPNCTT
CPSX
CPSXC
Dawaco
DN
GTGT
HĐQT
KPCĐ
KSNB
NVLTT

Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Chi nhánh cấp nước
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất chung
Công ty TNHH MTV Cấp nước Đà Nẵng
Doanh nghiệp
Giá trị gia tăng
Hội đồng quản trị
Kinh phí công đoàn
Kiểm soát nội bộ
Nguyên vật liệu trực tiếp




iii

QLDN
SCL
SCTX
SXKD
TK
TM, NH
TNHH MTV
TSCĐ
XDCB

Quản lý doanh nghiệp
Sửa chữa lớn
Sửa chữa thường xuyên
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản
Tiền mặt, ngân hàng
Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Tài sản cố định
Xây dựng cơ bản

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ - LƯU ĐỒ
Sơ đồ

2.2

Tên sơ đồ
Trang
Khái quát cách xây dựng định mức cho mỗi giai đoạn
19
sản xuất
Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty TNHH MTV Cấp
39
nước ĐN
Quy trình xử lý - Nhà máy nước Cầu đỏ
41

2.3

Quy trình xử lý – Nhà máy nước Sân bay

41

2.4

Quy trình xử lý – Nhà máy nước Sơn trà

42

2.5

Biểu đồ nước sản xuất – nước có doanh thu

42

2.6

Tình hình thất thoát 2006-2011

43

2.7

Sơ đồ bộ máy kế toán tại Dawaco

44

2.8

Trình tự ghi sổ kế toán

45

3.1

Qui trình kiểm soát xuất kho NVLTT

85

3.2

Qui trình kiểm soát chi phí nhân công

90

3.3

Qui trình kiểm soát chi phí SCL, SCTX, sửa chữa ống bể

93

1.1
2.1

3.4

Sơ đồ phân vùng tách mạng hệ thống cấp nước theo khu
vực

96


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
2.12
2.13
2.14
2.15
2.16
2.17
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9

Tên bảng
Trang
Công suất cấp nước của Công ty trên địa bàn TP Đà
36
Nẵng
Báo cáo kết quả hoạt động KD của Công ty năm 2011
37
Số liệu thực hiện năm 2011
43
Định mức kế hoạch tiêu hao NVLTT qua các năm
48
Dự toán khấu hao TSCĐ năm 2012
50
Dự toán SCTX, công cụ dụng cụ năm 2012
50
Định mức kế hoạch tiêu hao nhiên liệu qua các năm
51
Bảng tập hợp chi phí sản xuất chung theo yếu tố
52
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm
53
Sổ chi tiết chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp
54
Bảng tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp
55
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung năm 2011
55
Bảng tổng hợp chi phí bán hàng năm 2011
56
Tổng hợp chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2011
56
Phân công trách nhiệm kiểm soát chi phí nguyên vật
59
liệu trực tiếp
Phân công trách nhiệm kiểm soát chi phí nhân công
62
trực tiếp
Báo cáo chi phí điện năng qua các năm.
64
Dự toán nguyên vật liệu trực tiếp năm 2012
79
Dự toán chi phí điện năng tháng 12 năm 2012
79
Bảng dự toán chi phí đầu tư lắp đặt ĐH cho KH mới
80
năm 2013
Bảng định mức chi phí thất thoát tháng 01/2013
81
Bảng tổng hợp tình hình thực hiện nguyên vật liệu trực
82
tiếp tháng 12 năm 2011
Bảng tổng hợp tình hình thực hiện chi phí điện năng
82
tháng 12 năm 2011
Bảng tập hợp chi phí theo đơn vị
83
Báo cáo chi phí thất thoát nước tháng 01/2013
84
Bảng so sánh tình hình thực hiện chi phí NVL TT tháng
87
12 năm 2011


v

Số bảng
3.10
3.11
3.12
3.13
3.14

Tên bảng
Trang
Bảng phân tích chênh lệch giữa thực hiện với dự toán
88
chi phí NVL TT tháng 12 năm 2011
Bảng so sánh tình hình thực hiện chi phí điện năng
92
tháng 12 năm 2011
Bảng phân tích chênh lệch giữa thực hiện với dự toán
92
chi phí điện năng tháng 12 năm 2011
Bảng Phân công vùng quản lý cấp nước
95
Bảng tổng hợp và phân tích tình hình thất thoát theo
98
phân vùng tháng 12/2012


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh. Khác với các tổ chức không
vì lợi nhuận như cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, tôn giáo, ... Doanh
nghiệp được thành lập với mục đích thu được lợi nhuận.
Dù cung cấp những sản phẩm hay dịch vụ khác nhau, song hoạt động
chủ yếu của các doanh nghiệp là chuyển hoá các dạng khác nhau của nguồn
lực kinh tế thành các dạng khác có giá trị hơn để đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng. Vấn đề tiêu hao các nguồn lực kinh tế ban đầu của các doanh
nghiệp trong kế toán đó được xem là chi phí. Như vậy, chi phí là khoản tiêu
hao của các nguồn lực đã sử dụng cho một mục đích, biểu hiện bằng tiền.
Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, bước đầu hội nhập vào nền
kinh tế thế giới và các tổ chức kinh tế khu vực, các doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển được phải tự đổi mới để khẳng định vị trí, tạo chỗ đứng vững
chắc cho mình trong nền kinh tế thị trường. Trước sự cạnh tranh gay gắt để
tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần phải tăng cường và cải tiến công tác
quản lý hoạt động của đơn vị mình để đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất.
Công tác kiểm soát nội bộ là giải pháp rất quan trọng, giúp cho người
quản lý kiểm tra, giám sát được mọi hoạt động của đơn vị. Kiểm soát chi phí
là một vấn đề quan tâm hàng đầu của người quản lý doanh nghiệp, vì chi phí
sản xuất là yếu tố quan trọng nhất, cấu thành nên sản phẩm. Để đạt được mục
tiêu đó thì yêu cầu đặt ra là phải tiết kiệm được chi phí, mặt khác, các doanh
nghiệp cũng phải tự thân vượt qua những thách thức nếu không muốn sẽ bị
đào thải ra khỏi môi trường kinh tế năng động. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết
các doanh nghiệp nước ta đều chưa thiết lập được một hệ thống kiểm soát nội
bộ hoàn chỉnh.


2

Luôn đổi mới và không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
là chủ trương và mục đích của Ban Lãnh đạo Công ty TNHH MTV Cấp nước
Đà Nẵng (Dawaco). Tuy nhiên qua mỗi giai đoạn thì mục tiêu cũng như giải
pháp để đạt được mục tiêu là khác nhau. Hiện nay, cùng với công tác đầu tư
và phát triển sản xuất kinh doanh, thì công tác quản lý là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm tại Dawaco.
Song song với công tác đầu tư phát triển cơ sở vật chất, các giải pháp
tạo uy tín, xây dựng thương hiệu, giữ vững và mở rộng thị trường, đầu tư mở
rộng quy mô sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu…thì Dawaco cần phải
tăng cường công tác KSNB về chi phí SXKD, nhất là trong bối cảnh hội nhập
kinh tế toàn cầu Có như vậy mới nâng cao hiệu quả quản lý, tiết kiệm chi phí,
giảm thiểu rủi ro, củng cố lòng tin của các bên có lợi ích liên quan và tăng uy
tín cho Công ty.
Hiện nay, tại Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng, công tác kiểm
soát chi phí SXKD chưa được quan tâm đúng mức. Câu hỏi được đặt ra với
các nhà quản lý Doanh nghiệp, làm thế nào để kiểm soát chi phí một cách
hiệu quả nhất? Đây là vấn đề cần thiết cần được tăng cường từ tình hình thực
tế hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Với mong muốn góp phần nâng cao
hiệu quả quản lý của Dawaco, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác
kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH MTV cấp nước
Đà Nẵng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Vận dụng cơ sở lý luận về kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh để
phân tích thực trạng kiểm soát chi phí tại Dawaco, để đánh giá một cách
khách quan các thủ tục kiểm soát chi phí của Dawaco. Qua đó đánh giá những
mặt mạnh, yếu hiện tại và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
kiểm soát chi phí SXKD tại Dawaco.


3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác KSNB chi phí SXKD tại Dawaco.
Dawaco là đơn vị có nhiều ngành sản xuất, kinh doanh nhiều loại sản
phẩm khác nhau như: Ngành sản xuất kinh doanh nước sạch; Ngành xây lắp
công trình; Ngành kinh doanh vật tư; Ngành sản xuất và kinh doanh nước
uống tinh khiết; Tư vấn thiết kế và tư vấn giám sát các công trình xây lắp
v.v… . Để có thể khảo sát thực trạng kiểm soát chi phí cho tất cả các ngành
sản xuất kinh doanh là một khối lượng công việc khá lớn. Trong khi đó, về
nguyên tắc thủ tục KSNB cho các đối tượng trong Dawaco là có các điểm
tương đồng. Vì thế sau khi cân nhắc và được Giáo viên hướng dẫn đồng ý, tác
giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài ở ngành SXKD sản phẩm nước
sạch của Công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp : phỏng vấn,
thu thập tài liệu, thông tin, phân tích, so sánh giữa lý luận và thực tiễn kiểm
soát, đánh giá công tác kiểm soát nội bộ chi phí, từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất kinh doanh của
Dawaco.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động về kiểm soát chi phí SXKD
tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đà Nẵng, đánh giá hiệu quả, rút ra bài
học, tìm ra các giải pháp khắc phục.
Vận dụng những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD và hoàn thiện công tác kiểm soát
chi phí SXKD tại Công ty TNHH MTV Cấp nước Đà Nẵng.


4

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng công tác kiểm soát chi phí sản xuất kinh
doanh tại Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi phí sản
xuất kinh doanh tại Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng.
7. Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
Kiểm soát chi phí sản xuất là công việc không thể thiếu trong doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, nó góp phần hạn chế được việc lãng phí các yếu
tố trong quá trình sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
Đối với người làm công tác quản lý thì các chi phí là mối quan tâm
hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của
những chi phí đã phát sinh. Do đó, kiểm soát chi phí là vấn đề cần thiết, quan
trọng và mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.
Chính vì thế, đã có nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về công tác kiểm
soát chi phí sản xuất trong doanh nghiệp như: tác giả Huỳnh Thị Loan “Tăng
cường kiểm soát chi phí sản xuất tại Tổng Công ty cổ phần dệt may Hòa
Thọ”, viết về kiểm soát chi phí sản xuất và đưa ra một số giải pháp tăng
cường kiểm soát chi phí sản xuất như sau: Tăng cường kiểm soát chi phí NVL
trực tiếp, chi phí NCTT và chi phí SXC, đồng thời tác giả cũng nêu ra công
tác Kiểm soát sự biến động của CPSX chưa được toàn diện, do đó cần lập dự
toán CPSX linh hoạt phục vụ công tác kiểm soát CPSX nhằm giúp cho nhà
quản trị có thể so sánh được chi phí thực tế ở các mức độ hoạt động khác
nhau.


5

Luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng; tác
giả Nguyễn Thị Tuyết (Năm 2007) “Tăng cường công tác kiểm soát chi phí
sản xuất tại nhà máy đóng tàu Đà Nẵng”. Trong luận văn này, tác giả đặt ra
vấn đề là việc sản xuất tại nhà máy đóng tàu đi theo một quy trình kỹ thuật
công nghệ khá phức tạp, nếu không có sự phân công trách nhiệm rõ ràng và tổ
chức quản lý tốt cũng như việc ban hành các quy chế hoạt động và thiết kế
quy trình tổ chức sản xuất hợp lý, khoa học thì sẽ gây nên sự lãng phí trong
chi phí sản xuất và trong việc xây dựng hệ thống định mức vẫn còn tồn tại,
như bị động từ tính chất đơn chiếc của sản phẩm qua mỗi lần đặt hàng của
khách hàng, công tác lập dự toán CPSX còn chưa linh hoạt. Từ đó, luận văn
đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường cho công tác kiểm soát CPSX, nâng
cao hơn nữa hiệu quả SXKD và tăng khả năng cạnh tranh của nhà máy.
Luận văn thạc sỹ, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng ; Đề tài
“Nâng cao hiệu quả công tác công tác kiểm soát nội bộ về chi phí ở Công ty
Điện lực 3, tác giả Hoàng Thị Thanh Hải (năm 2005), đề tài này đi vào vấn đề
tổ chức thông tin phục vụ kiểm soát nội bộ chi phí, các thủ tục kiểm soát nội
bộ chi phí sản xuất kinh doanh điện.
Đề tài “Tăng cường kiểm soát nội bộ chi phí đối với hệ thống thông tin
kế toán ở các Doanh nghiệp Dệt may trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, của
tác giả Lưu Thị Hiếu (năm 2008), đề tài này đi chi tiết về kiểm soát nội bộ
thông tin kế toán trong điều kiện các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn thành
phố đang ứng dụng tin học vào công tác kế toán.
Đề tài “Tăng cường kiểm soát nội bộ chi phí tại các Doanh nghiệp
thuộc khu quản lý đường bộ 5, của tác giả Trịnh Thị Hoàng Dung, (năm
2005), đề tài này đi vào công tác kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất trong
Doanh nghiệp xây dựng.


6

Luận văn thạc sỹ, chuyên ngành kế toán, Đại học Đà Nẵng của tác giả
Trần Thị Diệp Thúy (năm 2009), Đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi
phí sản xuất kinh doanh tại Công ty Cao su Kon Tum” với các giải pháp hoàn
thiện môi trưởng kiểm soát, hoàn thiện việc xây dựng định mức chi phí
SXKD, hoàn thiện các thủ tục kiểm soát chi phí SXKD và hoàn thiện công tác
phân tích chi phí SXKD.
Đề tài “Kiểm soát chi phí tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản
Miền Trung” của tác giả Lê Thị Minh Sang (năm 2011), viết về công tác kiểm
soát chi phí trong doanh nghiệp thương mại có xuất khẩu ra nước ngoài., đề
tài này đi vào hoàn thiện công tác kế toán quản trị, tăng cường vai trò của
thông tin kế toán vào hoạt động quản trị.
Đề tài “Tăng cường kiểm soát chi phí xây lắp tại Công ty TNHH tư vấn
xây dựng Xuân Quang” của tác giả Đoàn Thị Lệ Hà (năm 2011), viết về đặc
điểm hoạt động kinh doanh xây lắp, cách tổ chức quản lý và công tác kiểm
soát chi phí xây lắp, tăng cường kiểm soát bằng cách hoàn thiện môi trưởng
kiểm soát, phân tích chi phí xây lắp và hoàn thiện thủ tục kiểm soát chi phí
xây lắp.
Nhìn chung các đề tài trên đã đi vào vấn đề kiểm soát nội bộ về quản
lý, tuy nhiên, tất cả các đề tài Kiểm soát nội bộ chi phí sản xuất kinh doanh đã
được thực hiện chủ yếu là tại các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng thông
dụng, riêng doanh nghiệp sản xuất nước sạch, được xem là một ngành tương
đối đặc thù thì chưa có đề tài nào về kiểm soát chi phí được thực hiện. Từ
thực tế đó, tác giả muốn thử sức mình trong một đề tài tương đối mới, có thể
sẽ phục vụ cho công việc của bản thân trong thời gian tới, và phần nào giúp
cho Doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn chi phí sản xuất của mình. Và
cũng qua đó, tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu trên đều có chung mục
tiêu đó là làm thế nào để kiểm soát chi phí sản xuất một cách hiệu quả nhất,


7

bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những
chi phí đã chi ra. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu đề
tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh tại Công ty
TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng”. Tác giả thực hiện luận văn này nhằm mục
đích tìm hiểu thực trạng kiểm soát chi phí sản xuất tại Dawaco và từ đó đề
xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát chi phí sản xuất
kinh doanh tại Công ty.


8

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ
SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CHI PHÍ SXKD TRONG DN

1.1.1. Bản chất chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao
phí về lao động sống và lao động vật hóa mà DN đã bỏ ra trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất đinh (tháng, quí, năm).
Bản chất của chi phí chính là các phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động
phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh, được tài trợ từ vốn kinh
doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh. Với bản
chất này giúp các nhà quản lý phân biệt được chi phí với chi tiêu.
Khi xem xét bản chất của chi phí trong DN, cần phải xác định rõ các mặt:
- Chi phí của DN phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một
khoàng thời gian nhất định.
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu : Khối lượng các
yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất
đã hao phí.
Về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn DN
vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình
sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị DN luôn cần
biết số chi phí chi ra cho từng hoạt động sản xuất kinh doanh, từng loại sản
phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu.


9

1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Trong mỗi đơn vị, chi phí có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Mỗi tiêu thức phân loại chi phí có ý nghĩa riêng đối với hoạt động
của đơn vị. Phân loại chi phí là để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán,
kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra quyết đinh kinh doanh. Chi phí
sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức sau:
a/ Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí
Chia thành các yếu tố:
* Chi phí nhân công: Bao gồm các khoản tiền lương phải trả cho
người lao động và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ của
người lao động.
* Chi phí nguyên vật liệu: Yếu tố chi phí này bao gồm giá mua, chi
phí mua NVL dùng vào hoạt động SXKD, bao gồm:
+ Chi phí NVL chính: NVL chính thường cấu thành nên cơ sở vật
chất của sản phẩm và chiếm tỉ lệ trọng yếu trong giá thành sản phẩm ở DN
sản xuất.
+ Chi phí NVL phụ : Chi phí này thường dùng kết hợp với NVL
chính làm tăng chất lượng, độ bền, về thẩm mỹ của sản phẩm, …Chi phí NVL
phụ thường phát sinh trong tất cả các hoạt động, tiêu thụ, quản lý, …
+ Chi phí nhiên liệu: Thực chất nhiên liệu cũng là NVL phụ nhưng
nó giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho hoạt động sản
xuất kinh doanh, vì vậy được xếp vào một loại riêng để quản lý và đôi khi để
kiểm soát khi có sự biến động nhiên liệu, năng lượng trên thị trường. Chi phí
nhiên liệu cũng phát sinh trong tất cả các hoạt động sản xuất, tiêu thụ, quản
lý, …


10

+ Chi phí phụ tùng thay thế: Bao gồm những bộ phận, chi tiết dùng
thay thế trong máy móc thiết bị khi sửa chữa, chi phí này chỉ phát sinh khi có
hoạt động sửa chữa máy móc thiết bị.
+ Chi phí nguyên vật liệu khác: Bao gồm như chi phí NVL đặc thù,
chi phí về phế phẩm, phế liệu tận dụng.
* Chi phí công cụ dụng cụ: Yếu tố này bao gồm giá mua và chi phí
mua của các công cụ dùng vào hoạt động SXKD. Tổng chi phí công cụ, dụng
cụ là tiền đề để nhà quản trị hoạch định luân chuyển qua kho, định mức dự
trữ, nhu cầu thu mua công cụ, dụng cụ hợp lý.
* Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm khấu hao của tất cả
TSCĐ, tài sản hạn dùng vào hoạt động SXKD. Tổng mức chi phí khấu hao
giúp nhà quản trị nhận biết được mức chuyển dịch, hao mòn TSCĐ, tài sản
dài hạn. Từ đây, nhà quản trị hoạch định tốt hơn chiến lược tái đầu tư, mở
rộng cơ sở vật chất, thiết bị thích hợp cho quá trình sản xuất kinh doanh.
* Chi phí dịch vụ thuê ngoài: Yếu tố này bao gồm giá dịch vụ mua từ
bên ngoài cung cấp cho hoạt động SXKD của DN như : giá dịch vụ điện
nước, giá bảo hiểm tài sản, giá phí quảng cáo,…
* Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm tất cả các chi phí SXKD bằng tiền
tại doanh nghiệp. Nhận thức tốt yếu tố chi phí này giúp nhà quản trị hoạch
định được ngân sách chi tiền mặt chi tiêu, hạn chế những tồn đọng tiền mặt,
tránh bớt tổn thất, thiệt hại trong quản lý vốn bằng tiền.
Phân loại theo nội dung kinh tế giúp cho các nhà quản trị xác định được
các chi phí theo từng yếu tố sản xuất để xây dựng được định mức như : Định
mức kinh tế kỹ thuật, dự toán chi phí, nhu cầu về vốn cho từng kỳ sản xuất
kinh doanh.
b/ Phân loại theo chức năng hoạt động và công dụng kinh tế
Chi phí được chia thành:


11

* Chi phí sản xuất: Là chi phí từ các yếu tố sản xuất mà đơn vị bỏ ra
trong quá trình sản xuất nhằm mục đích tạo ra thành phẩm. Chi phí sản xuất
của DN được chia ra:
+ Chi phí NVL trực tiếp: là toàn bộ chi phí NVL được sử dụng trực tiếp
cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.
Khoản mục chi phí này bao gồm toàn bộ chi phí NVL sử dụng trực tiếp
trong từng quá trình sản xuất sản phẩm như chi phí NVL chính, chi phí NVL
phụ,…Chi phí NVL trực tiếp tuy thường chiếm tỷ lệ lớn trên tổng chi phí và
đóng vai trò quyết định chi phí, giá thành sản phẩm nhưng dễ nhận diện, định
lương chính xác, kịp thời khi phát sinh. Trong quản lý chi phí, chi phí NVL
trưch tiếp thường được định mức theo từng loại sản phẩm và có thể nhận diện
trên hồ sơ kỹ thuật, định mức vật tư trực tiếp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải
trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công
nhân sản xuất như BHXH, BHYT, KPCĐ.
Chi phí nhân công trực tiếp dễ nhận diện, định lượng chính xác, kịp
thời khi phát sinh, Trong quản lý, chi phí nhân công trực tiếp được định mức
theo từng loại sản phẩm, dịch vụ.
+ Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục
vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất như : Chi
phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ, chi phí khấu hao
TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền.
Chi phí SXC gồm nhiều thành phần có nguồn gốc phát sinh, đặc điểm
khác nhau, chúng liên quan đến nhiều quá trình sản xuất, sản phẩm, ít biểu
hiện một cách cụ thể qua mối quan hệ nhân quả. Vì vậy, việc thu thập thông
tin chi phí sản xuất thường chậm trễ, mặt khác, đây cũng là bộ phận chi phí
mà việc tập hợp, phân bổ dễ làm sai lệch chi phí trong từng quá trình sản xuất


12

dẫn đến các quyết định sai sót, đặc biệt là đối với những qui trình sản xuất, bộ
phận sản xuất mà chi phí này chiếm một tỷ lệ lớn.
* Chi phí ngoài sản xuất: là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản
xuất sản phẩm, phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác
quản lý chung toàn DN. Chi phí này được xác định bao gồm:
+ Chi phí bán hàng:
Chi phí bán hàng còn được gọi là chi phí lưu thông, là những chi phí
đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược và chính sách bán hàng của DN.
Khoản mục này bao gồm:
- Chi phí lương và khoản trích theo lương vào chi phí của toàn bộ lao
động trực tiếp, gián tiếp hay quản lý trong hoạt động bán hàng, vận chuyển
hàng hóa tiêu thụ.
- Chi phí về vật liệu, nhiên liệu dùng trong việc bán hàng, vận chuyển
hàng hóa tiêu thụ.
- Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong việc bán hàng như bao bì sử dụng
luân chuyển, các quầy hàng…
- Chi phí khấu hao thiết bị, TSCĐ dùng trong bán hàng.
- Chi phí dịch vụ thuê ngoài liên quan đến bán hàng như chi phí quảng
cáo, chi phí hội chợ, chi phí bảo trì, chi phí khuyến mãi…
- Chi phí khác bằng tiền trong hoạt động bán hàng.
Chi phí bán hàng gồm nhiều thành phần có nguồn gốc, đặc điểm khác
nhau. Vì vậy, thông tin chi phí bán hàng cũng thường thu thập chậm, việc
hạch toán, phân bổ phức tạp dễ dẫn đến sai lệch thông tin chi phí trong từng
sản phẩm, bộ phận.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Khoản mục chi phí này liên quan đến công việc hành chính, quản trị ở
phạm vi toàn DN. Ngoài ra, chi phí quản lý doanh nghiệp còn bao gồm cả


13

những chi phí mà không thể ghi nhận vào những khoản mục chi phí nói trên.
Chi phí QLDN bao gồm:
- Chi phí lương và khoản trích theo lương của người lao động, quản lý
ở các phòng ban của DN.
- Chi phí về nguyên vật liệu dùng trong hành chính quản trị.
- Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong việc hành chính quản trị.
- Chi phí khấu hao TSCĐ dùng trong công việc hành chính quản trị.
- Chi phí dịch vụ thuê ngoài như điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục
vụ chung toàn DN.
- Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản.
- Các khoản chí phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản dùng trong
SXKD như dự phòng nợ phải thu khó đòi, hao hụt trong định mức ở khâu dự trữ.
- Chi phí khác bằng tiền liên quan đến phục vụ quản lý toàn DN.
Chi phí QLDN là khoản mục chi phí gồm nhiều thành phần có nguồn
gốc, đặc điểm khác nhau, liên quan khá chặt chẽ đến qui mô, trình độ tổ chức,
hành vi quản trị của DN. Vì vậy, chi phí QLDN cũng thường thu thập chậm,
việc hạch toán, phân bổ phức tạp, dễ dẫn đến sai lệch, khác biệt chi phí trong
sản phẩm, dịch vụ các bộ phận nên các nhà quản trị dễ đánh giá sai lầm thành
quả đóng góp, tính năng động và sáng tạo của các bộ phận.
+ Chi phí hoạt động tài chính: là những chí phí và các khoản lỗ liên
quan đến các hoạt động về vốn như: chi phí liên doanh, chi phí đầu tư tài
chính, chi phí liên quan cho vay vốn, lỗ liên doanh.
+ Chi phí khác: là các chi phí và các khoản lỗ docác sự kiện hay các
nghiệp vụ bất thường do DN khonng thể dự kiến được như: chi phí thanh lý,
nhương bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt truy thu
thuế.


14

c/ Phân loại theo cách ứng xử của chi phí
Chi phí được chia thành:
* Chi phí khả biến (Biến phí): là chi phí thay đổi theo tỷ lệ với mức
độ hoạt động của đơn vị. Khi mức độ hoạt động của đơn vị tăng (hay giảm).
Thông thường, trong đơn vị sản xuất, chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp là chi phí khả biến, một số khoản mục trong chi phí SXC (như :
chi phí vật liệu phụ, chi phí động lực), chi phí bán hàng, chi phí QLDN (như :
phí hoa hồng, khuyến mãi, phí vận chuyển) có thể là chi phí khả biến.
* Chi phí bất biến (Định phí): là các chi phí không có sự thay đổi
theo các mức độ hoạt động của đơn vị. Trong các đơn vị sản xuất, chi phí bất
biến thông thường là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên
quản lý, chi phí quảng cáo…
* Chi phí hỗn hợp: là các chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu
tố chí phí khả biến và chí phí bất biến. Ở một nức độ hoạt động cụ thể nào đó,
chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt đông
tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến. Hiểu
theo một cách khác, phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận
chi phí cơ bản để duy trì các hoạt động ở mức tối thiểu, còn phần khả biến là
bộ phận chi phí sẽ phát sinh tỷ lệ với mức độ hoạt động tăng thêm. Trong các
đơn vị sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại
chi phí, chẳng hạn như: chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị…
d/ Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
Một khoản chi phí có thể kiểm soát được hoặc không thể kiểm soát
được, ở một cấp quản lý nào đó là phụ thuộc vào khả năng cấp quản lý này có
thể ra quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay không. Quản
lý chi phí thường gắn với một cấp quản lý nhất định. Khoản chi phí mà ở một


15

cấp quản lý nào đó có quyền ra quyết định để chi phối nó thì được gọi là chi
phí kiểm soát được, ngược lại thì được gọi là chí phí không kiểm soát được.
Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản lý xác định được
chính xác mức phát sinh của nó có trong kỳ, đồng thời nhà quản lý cũng có
quyền quyết định về sự phát sinh của nó. Ngược lại, chi phí không kiểm soát
được là những chi phí mà nhà quản lý không thể dự đoán chính xác mức phát
sinh của nó trong kỳ và sự phát sinh của nó vượt quá tầm kiểm soát, quyết
định của nhà quản trị.
Sự nhận thức chi phí kiểm soát được và chí phí không kiểm soát được
tùy thuộc vào hai yếu tố cơ bản :
- Đặc điểm, nguồn gốc phát sinh của chi phí trong hoạt động SXKD
của DN.
- Sự phân cấp quản lý trong SXKD của DN
Xác định chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là
một vấn đề quan trọng đối với nhà quản lý, giúp nhà quản lý hoạch định được
ngân sách chi phí chính xác cho từng cấp và làm rõ trách nhiệm quản lý đối
với chi phí.
1.1.3. Đặc điểm chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế gắn liền với mục đích
SXKD. Chi phí được biểu hiện bằng tiền, là thước đo để đo lường mức tiêu
hao của các nguồn lực và có liên quan đến một mục đích , cụ thể như :
- Trong giai đoạn nghiên cứu tiếp cận nhu cầu sản xuất, hình thành nên
chi phí marketing, chi phí nghiên cứu, chi phí thành lập DN. Chi phí trong
giai đoạn sẽ được vốn hóa thành tài sản vô hình hoặc các mục chi phí ban đầu
trước khi hoạt động sản xuất diễn ra.


16

- Trong giai đoạn đầu tư, mua sắm, tích lũy nguồn lực kinh tế, phát sinh
chi phí đầu tư, mua sắm nguồn lực kinh tế. Những chi phí này sẽ được vốn
hóa thành giá trị tài sản của DN.
- Trong giai đoạn sản xuất sẽ phát sinh chi phí sản xuất, đây chính là sự
tiêu dùng các nguồn lực kinh tế, qui trình chuyển hóa tài sản thành chi phí. Về
cơ bản, chi phí trong lĩnh vực sản xuất bao gồm:
- Chi phí dài hạn: Chi phí này phát sinh do sử dụng, tiêu dùng các
nguồn lực kinh tế dài hạn trong sản xuất như máy móc thiết bị, nhà xưởng, tài
sản vô hình. Chi phí dài hạn mang tính ổn định tương đối qua một số kỳ sản
xuất và gắn liền với các quyết định, trách nhiệm của nhà quản lý.
- Chi phí ngắn hạn: Chi phí này phát sinh do sử dụng, tiêu dùng các
nguồn lực kinh tế ngắn hạn trong sản xuất, như NVL, công cụ, dịch vụ. Chi
phí ngắn hạn biến đổi phức tạp qua các thời kýản xuất và gắn liền với các
quyết định, trách nhiệm nhà quản lý trong nhiệm kỳ quản lý. Trong chi phí
ngắn hạn còn có chi phí nhân lực, bao gồm các khoản phí mà DN trả trực tiếp
cho người lao động khi tham gia vào hoạt động sản xuất và khoản phí gắn liền
với sự điều tiết, phân phối thu nhập tại DN, đôi khi bao gồm cả chi phí
khuyến khích, thu hút nhân lực.
- Trong giai đoạn tiêu thụ sẽ phát sinh chi phí lưu thông, tiếp thị do sử
dụng các nguồn lực kinh tế thực hiện chiến lược, chính sách tiêu thụ tại DN.
Chi phí tiêu thụ không phải là chi phí đặc trưng trong DN sản xuất, mà nó tồn
tại hầu hết ở tất cả các loại hình DN.
Ngoài ra, trong hoạt động của DN luôn phát sinh chi phí quản lý, điều
hành chung toán DN, loại chi phí này phát sinh theo qui mô, trình độ tổ chức
quản lý của doanh nghiệp và tình hình tiêu dùng các nguồn lực kinh tế.
Từng khoản mục chi phí là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng ở các
DN. Việc hạch toán các khoản mục chi phí không đúng đắn sẽ dẫn đến kết


17

quả kinh doanh của DN không đúng đắn. Đồng thời đây cũng là những trường
hợp rất dễ xảy ra sai sót hoặc gian lận vì nhiều nguyên nhân khác nhau, bao
gồm nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của các nhà quản lý DN.
1.2. KIỂM SOÁT CHI PHÍ SXKD TRONG DN

1.2.1. Sự cần thiết và mục tiêu của kiểm soát chi phí SXKD trong DN
a/ Sự cần thiết phải kiểm soát chi SXKD trong DN
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh
nghiệp là các thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận. Do vậy, các nhà quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ
chi phí của doanh nghiệp. Để quản lý được chi phí, cần thiết phải nắm vững
các khái niệm về chi phí và các cách phân loại chúng vì mỗi cách phân loại
chi phí đều cung cấp thông tin ở những góc độ khác nhau cho nhà quản lý ra
quyết định thích hợp.
Quản lý chi phí là việc tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc
sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi
phí ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp. Kiểm soát chi phí là một
hoạt động quan trọng của quản lý chi phí. Đối với nhà quản lý, để kiểm soát
được chi phí phát sinh hàng ngày, điều quan trọng là phải nhận diện ra các
loại chi phí, đặc biệt là nhà quản lý nên nhận dạng những chi phí kiểm soát
được để đề ra biện pháp kiểm soát chi phí thích hợp và nên bỏ qua những chi
phí không thuộc phạm vi kiểm soát của mình nếu không việc kiểm soát sẽ
không mang lại hiệu quả so với công sức, thời gian bỏ ra.
Chi phí cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến
động nhất định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan
trọng của quản lý chi phí là xem xét, lựa chọn cơ cấu chi phí sao cho tiết
kiệm, hiệu quả nhất.


18

b/ Mục tiêu kiểm soát chi phí SXKD
Kiểm soát chi phí doanh nghiệp ở thời nào cũng rất quan trọng, nhất là
trong thời đại ngày nay khi tình hình cạnh tranh trên thương trường ngày càng
khốc liệt, thành công sẽ thuộc về một doanh nghiệp được kiểm soát chi phí
chặt chẽ. Các chi phí trong doanh nghiệp mang ý nghĩa quyết định cho sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp, nếu không có sự kiểm soát gắt gao dễ gây
thất thoát và đẩy doanh nghiệp đến bên bờ phá sản. Do đó, mục tiêu kiểm soát
chi phí sản xuất là:
- Kiểm soát việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp để tránh tình hình
sử dụng sai gây lãng phí tài sản doanh nghiệp.
- Giám sát chặt chẽ sổ sách, chứng từ kế toán để tránh trường hợp gian
lận, biển thủ có thể xảy ra hay các khoản chi không hợp lý, chi khống (chi phí
mua hàng, chi phí tiền lương).
- Cắt giảm những khoản chi phí không cần thiết, đây là vấn đề khá
“nhạy cảm” nên bên cạnh những lợi ích còn có những bất lợi tiềm ẩn bên
trong nó, do vậy doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ giữa được/mất và phải áp
dụng một cách linh động để giảm tránh các thiệt hại một cách tốt nhất (chi phí
xử lý nước thải, chi phí trồng rừng và an toàn lao động)
1.2.2. Tổ chức thông tin phục vụ kiểm soát chi phí SXKD trong DN
a/ Tổ chức thông tin dự toán chi phí SXKD
Lập dự toán chi phí SXKD là việc dự kiến những chi tiêu của quá trình
SXKD một cách chi tiết, phù hợp với yêu cầu quản lý cụ thể của DN. Dự
toán chi phí SXKD được dựa trên cơ sở tổng hợp các định mức chi phí của
toàn bộ sản phẩm SX hoặc toàn bộ dịch vụ cung cấp.
• Công tác lập định mức
Định mức chi phí là khoản chi phí được định trước bằng cách lập ra
những tiêu chuẩn gắn với từng trường hợp hay từng điều kiện làm việc cụ thể.


19

Định mức chi phí không những chỉ ra được các khoản chi dự kiện mà còn xác
định nên chi trong trường hợp nào. Tuy nhiên, trong thực tế, chi phí luôn thay
đổi, vì vậy các định mức cần phải được xem xét lại thường xuyên để đảm bảo
tính hợp lý của chúng. Để công tác định mức chi phí được tốt, cần nhiều kênh
thông tin khác nhau, cụ thể như tiêu chuẩn kỹ thuật (bộ phận kỹ thuật cung
cấp), chi phí thực tế nhiều kỳ (bộ phận kế toán cung cấp).
Định mức được xây dựng cho mỗi giai đoạn sản xuất chi tiết như sau:
Sơ đồ 1.1. Khái quát cách xây dựng định mức cho mỗi giai đoạn sản xuất

Định mức NVLTT

Định mức về
lượng (lượng
NVLTT tiêu hao

Định mức NCTT

Định mức
về giá

Định mức về lượng
(giờ công lao động

Định mức
về giá

+ Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Định mức chi phí NVL trực tiếp thường được xây dựng riêng định mức
về lượng và định mức về giá
- Định mức về lượng NVL: Phản ảnh số lượng NVL bình quân để sản
xuất một đơn vị sản phẩm.
- Định mức về giá : Phản ảnh đơn giá bình quân của một đơn vị NVL.
Công thức:
m

ĐMCP VL TT Spi =

∑ Mij.Pj

j=1

Trong đó:
ĐMCP VL TT Spi: Định mức chi phí NVL trực tiếp cho sản phẩm i;
Mij: khối lượng nguyên vật liệu j để sản xuất đơn vị sản phẩm i;


20

Pj: Đơn giá nguyên vật liệu j.
+ Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí nhân công trực tiếp cũng được xây dựng dựa trên cơ
sở định mức về lượng và định mức về giá.
- Định mức về lượng: Phản ánh lượng thời gian bình quân để sản xuất
một đơn vị sản phẩm hoặc một giai doạn của quá trình sản xuất.
- Định mức về giá: Phản ánh giá giờ công bình quân phải trả cho
công nhân.
Định mức chi phí nhân công trực tiếp được tính bằng định mức lượng
thời gian lao động sản xuất một đơn vị sản phẩm nhân với định mức giá giờ công.
+ Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung
Định mức chi phí SXC được xây dựng dựa trên định mức biến phí sản
xuất chung và định mức định phí sản xuất chung như sau:
- Định mức biến phí SXC:
Nếu biến phí SXC lớn, chỉ gồm các khoản mục như NVL gián tiếp,
nhân công gián tiếp, nhiên liệu,…thì định mức biến phí SXC được xây dựng
dựa trên định mức về lượng và định mức về giá biến phí SXC, cụ thể như sau:
1. Định mức về lượng biến phí SXC: Phản ánh về lượng cần thiết sử
dụng, lượng hao hụt, nghỉ ngơi cần thiết, lượng hư hỏng, ngừng nghỉ trong
sản xuất.
2. Định mức về giá biến phí SXC: Phản ánh về giá mua vật liệu, đơn
giá tiền lương cơ bản, phụ cấp theo lương, các khoản trích theo lương, chi phí
thu mua, vận chuyển, bốc dỡ, …
Định mức biến phí
Định mức lượng
Định mức giá
=
x
SXC
Biến phí SXC
biến phí SXC
Nếu biến phí SXC bao gồm nhiều thành phần chi tiết khó có thể tách
riêng theo từng khoản mực thì xây dựng định mức dựa trên chi phí trực tiếp
như chi phí NVLTT, chi phí NCTT.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×