Tải bản đầy đủ

Tình hình thực hiện chính sách ưu đãi với người có công ở xã Đông ThọThái Bình

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

MỤC LỤC

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 1


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP


LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, công tác xã hội đã và đang là một trong những ngành đặc biệt
phát triển, ở các nước có CTXH phát triển thì công tác xã hội là một công cụ hỗ
trợ đắc lực cho hệ thống an sinh xã hội. Tại Việt Nam thì Công tác xã hội là một
ngành còn đang phát triển, non trẻ và đang có những bước tiến đáng kể.
Với mục đích vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, củng cố và bố
sung lượng kiến thức còn hạn chế, bản thân em đã quyết định về thực tập tại xã
Đông Thọ - TP Thái Bình – Thái Bình để có thể bồi dưỡng kiến thức, phân tích
thực trạng hoạt động công tác xã hội ở tại xã Đông Thọ - TP Thái Bình – Thái
Bình. Đồng thời tìm hiểu thêm về chức năng nhiệm vụ quyền hạn của nhân viên xã
hội tại cấp cơ sở để từ đo hình thành ý thức đạo đức nghề nghiệp, từ đó tự rèn
luyện bản thân sao cho phù hợp với yêu cầu của nghề.
Thông qua quá trình thực tập, bản thân em được tiếp cận thực tế, rèn luyện
kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng nghề nghiệp tại cơ sở. Là một sinh viên
đang thực tập còn nhiều bỡ ngỡ, vì vậy báo cáo thực tập của em còn nhiều hạn chế
về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm, nên không tránh khỏi những thiếu sót, em
kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong Khoa
Công tác xã hội để bài báo cáo của em hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Khoa Công tác
xã hội- trường Đại học Lao động – Xã hội, đặc biệt là cảm ơn cô giáo : T.S Nguyễn
Trung Hải, PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai là những người đã trực tiếp hướng dẫn em
trong quá trình thực tập; cảm ơn các cán bộ tại xã Đông Thọ - TPThái Bình – Thái
Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành bài báo
cáo thực tập tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn
I.

TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Khái quát tình hình chung xã Đông Thọ - TP Thái Bình – Thái Bình:

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 2


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

1. Đặc điểm tình hình xã Đông Thọ - TP Thái Bình – Thái Bình:
Tên đơn vị: Uỷ ban nhân dân xã Đông Thọ - Thành phố Thái Bình – Thái Bình.
Địa điểm trự sở chính: thôn Thống Nhất – Đông Thọ - TP Thái Bình – Thái Bình.


Xã Đông Thọ là một xã thuần nông, nằm ở phía Bắc thành phố Thái Bình. Địa
hình bằng phẳng, các khu dân cư phân bố gọn trong đia giới hành chỉnh khoảng
1.69 km2.
Phía Đông giáp xã Đông Mỹ
Phía Tây giáp Sông Trà Lý
Phía Nam giáp xã Đông Hòa
Phía Bắc giáp xã Đông Dương – Đông Hưng
Tổng diện tícch đất tự nhiên là: 243, 0912 Ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp
là 169, 76 Ha.
Diện tích xâm canh ( trồng lúc) là 41,2 Ha
Diện tích nuối trồng thủy sản là 37, 665 Ha
Diện tích sông dẫn là 8,56 Ha.
Tình đến thời điểm 31/12/2014 số hộ có mặt tại địa phương là 1494 hộ với 4702
nhân khẩu. Số người trong độ tuổi lao động là là 2923 người tương đương với
62,15% dân số.
Tóm tắt cơ cấu tổ chức UBND xã: tổng số cán bộ, công chức thuộc BUND xã
là 13 người: 01 Chủ tịch UBND xã, 01 phó Chủ tịch UBND xã, 1 trưởng CA xã,
01 chỉ huy trưởng quân sự, 02 công chức Văn phòng –Thống kê, 02 công chức Văn
hóa – xã hội, 01 công chức tài chính – kế toán, 02 công chức Địa chính – xây
dựng.
Chất lượng cán bộ dần dần được cải thiện hơn trước: tốt nghiệp đại học có 06
đồng chí, 05 đồng chí tốt nghiệp Cao đẳng, 02 đồng chí tốt nghiệp trung cấp. Số
cán bộ thuộc tổ chức đòan thể gồm 08 người, gồm: 01 Bí thư Đảng ủy, 01 phó chủ
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 3


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

tịch HDDND, 01 chủ tịch MTTQ, 01 bí thư Đoàn thanh niên cộng sản HCM, 01
chủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ, 01 chủ tịch hội nông dân, 01 chủ tịc hội cựu chiến
binh. Xã Đông Thọ có 01 Đảng bộ xã gồm 11chi bộ trực thuộc, 05 đoàn thể, 01
công đoàn cơ sở và 05 tổ chức hội.
a) Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến an sinh xã hội:
• Về điều kiện kinh tế:
Đông Thọ là xã duyên giang, giáp trung tâm Thành phố có chợ, bến bãi, có hệ
thống giao thông được hình thành theo ô bàn cờ kết nối với các địa phương khác
và thành phố.
Hiện trạng cơ cấu kinh tế của xã những năm gần đây có chuyển biến tích cực
giảm nông nghiệp tăng Công nghiệp-XDCB và thương mại dịch vụ. Xã duy trì
được làng nghề truyền thống, lực lượng lao động ở độ tuổi trẻ năng động sáng tạo.
Xu thế tích tụ đất đai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng con vật nuôi theo chủ trương
của Đảng Nhà nước được nhân dân hưởng ứng, lực lượng tham gia chuyển đổi
diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang trồng hoa, cây cảnh, làm trang trại, gia trại
ngày một tăng.
Là một xã thuần nông, xã không có khu các cơ quan doanh nghiệp, các khu
công nghiệp đặt trụ sở tại địa bàn, không có đường quốc lộ chạy qua.
• Điều kiện XH
Đông Thọ là xã có truyền thống cách mạng, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo
của Đảng, xã có đình, chùa và luôn luôn duy trì tốt các lễ hội truyền thống, 6/6
thôn có nhà Văn hóa đạt tiêu chuẩn về cả diện tích và cơ sở vật chất.
Khoảng 99% là dân bản địa đoàn có truyền thồng kết tình làng làng nghĩa xóm
khăng khít. Xã không có ma tuý và tệ nạn XH. Nhân dân trong xã có truyền thông
cách mạng từ lâu đời, tình thần đoàn kết, đồng long đồng sức vươn lên trong cuộc
sống; luôn tíhc cực thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật cảu Đảng và Nhà
nước ban hành. Lực lượng lao động có truyền thống cần cù, năng động sáng tạo,
ham học hỏi, giám nghĩ giám làm và đổi mới vươn lên trong cuộc sống. Tuy nhiên

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 4


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

trong dân chúng vẫn vòn một bộ phận dân cư có tư tưởng bảo thủ, ích kỷ gây khó
khăn cho quá trình phát triển và tiến tới hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới.
Hệ thống trường học được quy hoạch đạt chuẩn gần trung tâm xã, chính quyền
xã luôn luôn phát huy được các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao,
nhiều loại hình CLB duy trì nề nếp.
An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững, Đảng, Chính quyền
nhiều năm giữ vững danh hiệu trong sạch vững mạnh. Hệ thống chính trị phát huy
được vai trò trách nhiệm đây là những lợi thế và là tiềm năng lớn cho sự phát triển
của địa phương.
Nhận xét:
Động Thọ vốn là một xã thuần nông, nằm cách trung tâm thành phố 4 km, thuộc
thành phố Thái Bình, vốn là một xã trẻ của thành phố nên rất hay được chính
quyền thành phố quan tâm nên công tác an sinh xã hội cũng được thành phố quan
tâm và hỗ trợ xã rất nhiều.
Nhân dân trong xã có truyền thông cách mạng từ lâu đời, tình thần đoàn kết,
đồng lòng đồng sức vươn lên trong cuộc sống; luôn tích cực thực hiện chủ trương,
chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước; luôn luôn có tinh thần đoàn kết và
lòng thương yêu thương con người với con người. Điều đó ảnh hưởng tích cực đến
các hoạt động an sinh xã hội khi tính đoàn kết cộng đồng cao giúp cho việc phát
động các phongg trào tình nghĩa, đền ơn đáp nghĩa được mọi người hửng ứng tích
cực.
Tuy nhiên mặt bằng chung thì đời sống kinh tế của nhân dân trong xã còn ở
mức trung bình, lại là một xã thuần nông nghiệp, không có đường quốc lộ hay khu
công nghiệp đóng trên địa bàn nên việc huy động các nguồn để thực hiện chính
sách an sinh xã hội không được cao, nguồn tài chính thực hiện chủ yếu là phụ
thuộc vào nguồn ngân sách chủ yếu của
b) Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển xã Đông Thọ - TP Thái Bình –
Thái Bình:
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 5


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trước năm 1947 xã Đông Thọ thuộc khu Cát Hộ. Khu Cát Hộ gồm 06 xã:
Phương Cúc, Phương Đài, Nam Thọ, Cầu Nhân, Thượng Trung, Hiệp Đạt. Đến
tháng 10 năm 1947 Đông Thọ thuộc liên xã Cát Hộ gồm 8 thôn. Sau năm 1947 thì
có quyết định bỏ liên xã mà thành lập nên xã Cát Hộ gồm 3 xã Đông Thọ, Đông
Dương, Đông Hòa ngày nay.
Tháng 05 năm 1955 xã Cát Hộ tách ra làm 2 xã là Đông Dương và Đông Hòa
( Xã Đông Thọ thuộc xã Đông Dương)
Đến ngày 26 tháng 07 năm 1965 xã Đông Dương tiến hành tách thành 2 xã là
Đông Thọ và Đông Dương trực thuộc huyện Đông Hưng.
Ngày 13 tháng 12 năm 2007 theo Nghị định số 181/ 2007/ND – CP của Chính
Phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các Huyện Đông Hưng, Vũ Thư, Kiến
Xương để mở rộng không gian thành phố Thái Bình, xã Đông thọ cũng nắm trong
diện điều chỉnh và từ 01/2008 thì xã Đông Thọ chính thức sát nhập vào thành phố
Thái Bình cho đến hiện nay.
c) Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và hệ thống tổ chức bộ máy:
• Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã được quy định tại Luật số
11/2003/QH11 của Quốc hội : Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân, từ điều 111 đến điều 118 như sau:
Điều 111
Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ chức
thực hiện kế hoạch đó;
2. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân
sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều
chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân
sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban
nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 6


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

3. Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà
nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị trấn và
báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
4. Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các
nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng,
đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy
định của pháp luật;
5. Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện.
Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và
bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
Điều 112
Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ
công nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
1. Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án
khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản
xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong
sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây
trồng và vật nuôi;
2. Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ,
bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt;
ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ
rừng tại địa phương;
3. Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy
định của pháp luật;
4. Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền
thống ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát
triển các ngành, nghề mới.
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 7


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Điều 113
Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo
phân cấp;
2. Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân
cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về
xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;
3. Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao
thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp
luật;
4. Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao
thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật.
Điều 114
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao, Uỷ ban
nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương; phối hợp
với trường học huy động trẻ em vào lớp một đúng độ tuổi; tổ chức thực hiện các
lớp bổ túc văn hoá, thực hiện xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi;
2. Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu
giáo, trường mầm non ở địa phương; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp trên quản
lý trường tiểu học, trường trung học cơ sở trên địa bàn;
3. Tổ chức thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia
đình được giao; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh; phòng, chống các dịch bệnh;
4. Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao;
tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn
hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;
5. Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sỹ, những người và gia đình có công với nước theo quy định của pháp luật;
6. Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp đỡ các
gia đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 8


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

tựa; tổ chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng chính sách ở địa
phương theo quy định của pháp luật;
7. Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở
địa phương.
Điều 115
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp
luật ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng
làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;
2. Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng
ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn
luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
3. Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây
dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện
pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm
pháp luật khác ở địa phương;
4. Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của
người nước ngoài ở địa phương.
Điều 116
Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban nhân
dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chính sách
dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa
phương theo quy định của pháp luật.
Điều 117
Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp
luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;
2. Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân
theo thẩm quyền;
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 9


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

3. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi
hành án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Điều 118
Uỷ ban nhân dân phường thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại
các điều 111, 112, 113, 114, 115, 116 và 117 của Luật này và thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường về việc
bảo đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô
thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn
trật tự vệ sinh, sạch đẹp khu phố, lòng đường, lề đường, trật tự công cộng và cảnh
quan đô thị; quản lý dân cư đô thị trên địa bàn;
2. Thanh tra việc sử dụng đất đai của tổ chức, cá nhân trên địa bàn phường
theo quy định của pháp luật;
3. Quản lý và bảo vệ cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn phường theo phân
cấp; ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm đối với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo
quy định của pháp luật;
4. Kiểm tra giấy phép xây dựng của tổ chức, cá nhân trên địa bàn phường;
lập biên bản, đình chỉ những công trình xây dựng, sửa chữa, cải tạo không có giấy
phép, trái với quy định của giấy phép và báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xem xét, quyết định.
• Hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền xã:
Chủ tịch

P. Chủ tịch

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 10


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trưởng
CA
( 1 cán
bộ)

Chỉ huy
trưởng
quân sự
(1 cán
bộ)

Địa
chính

Văn
phòng

Tư pháp
Hộ tịch

Văn hóa
xã hội

( 2 cán
bộ )

( 2 cán bộ
)

( 1 cán
bộ )

( 2 cán
bộ )

Tài chính
– Kế
toán
( 1 cán
bộ)

Nhận xét: bộ máy chính quyền xã Đông Thọ khá đơn giản, không phức tạp, vì
chỉ một xã nhỏ, các công việc không nhiều nên bộ máy chính quyền chỉ gồm: 1
Chủ tịch UBND xã đứng đầu, 1phó Chủ tịch UBND quản lý tất cả các công việc
chung dười quyền chủ tịch. Bên dưới Phó chủ tịch là các cơ quan ban ngành: ban
chỉ huy quan sự xã, ban địa chính, khối văn phòng, ban văn hóa xã hội, ban tài
chính – kế toán, tư pháp hộ tịch, trưởng CA xã.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc kiểm tra tình
hình thực hiện các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên, văn bản
của Ủy ban nhân dân phường, kịp thời phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất hợp
lý trong quá trình triển khai thực hiện các văn bản đó, báo cáo cấp có thẩm quyền
bổ sung, sửa đổi.
Phó Chủ tịch cũng có nhiệm vụ thường xuyên sâu sát địa bàn, kiểm tra việc
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cua các cán bộ ban
ngành trong xã, đồng thời lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân và báo cáo Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường để bổ sung, sửa đổi hoặc đề nghị cấp trên xem xét,
bổ sung, sửa đổi các văn bản theo thẩm quyền.
Bộ máy chính quyền xã khá đơn giản, gọn nhẹ chứ không cồng kênh; tuy
nhiên số lượng cán bộ các ban còn chưa đều, có những ban công việc nhiều mà ít
cán bộ, có những ban công việc ít thì lại nhiều cán bộ hơn. Cần có sự điều chỉnh
một chút lại sao cho bộ máy chính quyền xã làm việc có hiệu quả tốt nhất.
d) Đội ngũ cán bộ, công chức viên chức và lao động:
• Đội ngũ công chức UBND xã Đông Thọ- tp Thái Bình – Thái Bình

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 11


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

• Đội ngũ cán bộ UBND xã Đông Thọ - tp Thái Bình – Thái Bình

• Nhận xét:
Về cơ cấu:
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 12


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trong tổng số cán bộ, công chức tại xã hiện nay thì có tổng số 20/21 người;
riêng vị trí Chỉ huy trưởng quân sự đang còn thiếu, chưa có người phù hợp để nắm
vị trí. Tong tổng số 20 cán bộ công chức, cán bộ xã hiện nay thì xét về cơ cấu theo
giới tình thì có 3/20 vị trí lãnh đạo là nữa giới, còn lại là nam giới nắm vị trí . Tức
là hiện nay chỉ có 15 % nữ giới tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước tại xã Đông
Thọ; còn lại là là 85 % nam giới . Như vậy ở đây chúng ta thấy có sự mất cân
bằng giới trong việc tham gia quản lý nhà nước. Thường thì nữ giới chỉ tham gia
vào các công việc mang tính đặc thù phù hợp với đặc điểm của nữ giới ( Hội phụ
nữ, Tư pháp, lĩnh vực thương binh xã hội) ; trong khoảng 20 năm trở lại đây thì
những chức vụ cao, có tầm quan trọng và ảnh hưởng tại xã đều là do nam giới nắm
giữ.
Về trình độ chuyên môn:
Trình độ chuyên môn với các cán bộ cấp xã luôn là vấn đề được không chỉ
chính quyền xã mà toàn nhân dân đều quan tâm. Trong những năm gần đây, cán bộ
và công chức trong xã luôn luôn trau dồi kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn để
phù hợp với vị trí đang nắm giữ và phù hợp với xu thế thay đổi của xã hội ngày
càng hiện đại. Tronng tổng số 20 cán bộ, công chức đang làm việc tại xã có 19 cán
bộ, công chức được đào tạo trình độ chuyên môn phù hợp với công việc và vị trị
mà họ đang nắm giữ.
Tuy nhiên, trong 19 cán bộ( 100%), công chức được đào tạo trình độ chuyên
môn thì có 09 người có trình độ đại học( chiếm 47,4%), 08 người có trình độ cao
đẳng(chiếm 42,1 %), 02 người có trình độ trung cấp( chiếm 10%) ; và hầu hết thì
tất cả cán bộ trong xã đều được đào tạo dưới hình thức tại chức. Vì chủ yếu là cán
bộ, công chức nên thời gian học tập nên cán bộ, công chức đã lực chọn được hình
thức đào tạo phù hợp với điều kiện của bản thân ( gia đình, địa điểm ). Tuy nhiên,
chất lượng đào tạo cảu hình thức đào tạo tại chức hiện nay vẫn còn đang là một câu
hỏi đặt ra cần có câu trả lời. Có không ít người học hệ tại chức với mục đích lấy
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 13


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

bằng cấp, chứng chỉ để “chuẩn hóa”, chứ không có năng lực. Ngoài ra để đáp ứng
kịp với xu thế của thời buổi hiện đại, chính quyền xã đã tổ chức các học để bồi đắp
về nghiệp vụ quản lý nhà nước, ngoại ngữ và đặc biệt là tin học để có thể đắp ứng
được yêu cầu phục vụ nhân dân.
Tuy nhiên với tình hình hiện nay tại các xã chung trên cả nước và tại xã Đông
Thọ nói riêng thì có một thực trạng đang tồn tại là các cán bộ cơ sở cấp xã đang
làm việc phần nhiều dựa trên kinh nghiệm làm việc lâu năm. Điều này có những
điểm vừa là yếu tố thuận lợi tuy nhiên với tình hình thay đổi hiện tại của xã hội thì
điều đó không còn phù hợp và cần thay đổi để phù hợp theo hướng phù hợp hơn:
Hiện vẫn còn khó khăn khi một bộ phận cán bộ cơ sở do chưa được đào tạo dẫn
tới hạn chế về năng lực lãnh đạo, điều hành; giải quyết công việc thường dựa vào
kinh nghiệm, chủ quan, tùy tiện, có trường hợp xử lý không đúng pháp luật, vi
phạm chính sách của Đảng, Nhà nước. Tình trạng vừa bao biện, làm thay, vừa
buông lỏng, bỏ sót công việc trong quản lý, điều hành vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, ở
một số nơi, đội ngũ cán bộ có hiện tượng kèn cựa địa vị, cục bộ địa phương, thiếu
dân chủ, mất đoàn kết nội bộ. Thực trạng đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản
lý, điều hành ở cơ sở; làm giảm sút niềm tin của nhân dân.
Nguyên nhân của những hạn chế nói trên là do công tác đào t ạo, b ồi dưỡng cán
bộ tuy đã được đẩy mạnh nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở cơ sở. Việc
bố trí, sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ hay chuẩn bị nhân sự cho các kỳ bầu cử,
đại hội chưa chú trọng đến tiêu chuẩn chức danh. Công tác quản lý cán bộ chưa
chặt chẽ; công tác thanh tra, xử lý chưa kịp thời, nghiêm túc nên không đủ s ức r ăn
đe, ngăn chặn những sai phạm của cán bộ. Điều kiện làm việc của cán bộ cơ s ở
nhiều nơi còn thiếu thốn, dẫn đến tình trạng làm việc tùy tiện, gi ờ gi ấc không b ảo
đảm, hiệu quả công việc chưa cao, chế độ lương thấp nên gây nên tình tr ạng quan
lieue, hách dịch, có thái độ không tốt khi làm việc với nhân dân.
e) Cơ sở vật chất , kỹ thuật
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 14


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trước năm 2006 trụ sở BUND xã chỉ là một dãy nhà cấp 4 xập xệ, mọi cơ sở
vật chất từ bàn ghế, trang thiết bị đều cũ phục vụ cho công tác đều không đáp ứng
được nhu cầu. Nhưng do được sự quan tâm của UBND thành phố cùng sự hỗ trợ
đồng lòng của nhân dân toàn xã thì đến đầu năm 2006 trụ sở UBND xã hiện tại
được khánh thành dưới sự hân hoan của toàn chính quyền và nhân dân toàn xã.
Trụ sở UBND đưa vào sử dụng với 12 phòng làm việc, 1 phòng họp, nhà văn
hóa xã có 250 chỗ ngồi đạt chuẩn theo quy định. Trong mỗi phòng làm việc đều
được trang bị từ 1 đến 02 máy vi tính đều được nối mạng Internet tốc độ cao; tính
đến hiện nay UBND xã có 16 chiếc máy vi tính( trong đó có 13 chiếc mày bàn và
03 chiếc lap top ). Ngoài ra, xã còn được trang bị 02 máy chiếu, màn chiếu để phục
vụ cho công tác tác tuyên truyền. Cơ sở vật chất mối phòng từ bàn ghế, hệ thống
đèn chiếu sáng, tủ chứa đựng hồ sơ đều được đầu tư đảm bảo sự chắc chắn và thẩm
mỹ phục vụ tốt cho công tác quản lý nhà nước ở cơ sở.
f) Các chính sách, chế độ với cán bộ, nhân viên:
• Chế độ lương:
Chế độ lương với cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo bảng lương sau đây:
STT

1
2
3
4

Chức vụ

Bí thư đảng uỷ
- Phó Bí thư đảng uỷ
- Chủ tịch Hội đồng nhân dân
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản

Hệ số lương
Bậc 1

Bậc 2

2.35
2.15

2.85
2.65

1.95

2.45

1.75

2.25

Hồ Chí Minh
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 15


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với
chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành
chính quy định tại bảng lương số 2. (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với
cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương
nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp
của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Những người
hiện đang đảm nhiệm chức danh công chức cấp xã quy định tại khoản 2 Điều 3
Nghị định này chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì
được hưởng lương bằng 1,18 so với mức lương tối thiểu chung.
Phụ cấp chức vụ lãnh đạo
Cán bộ cấp xã được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo so với mức lương tối
thiểu chung như sau:
• Bí thư đảng uỷ: 0,30
• Phó Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
0,25
• Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: 0,20
• Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ
nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: 0,15
Chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Cán bộ cấp xã, công chức cấp xã theo quy trong thời gian đảm nhiệm chức vụ,
chức danh thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc theo
quy định của pháp luật.
Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã khi nghỉ việc đã hết tuổi lao động, có từ
đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chưa nhận trợ cấp bảo
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 16


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

hiểm xã hội một lần, có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì được đóng
tiếp theo quy định tại Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 của
Chính phủ đến khi đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng lương hưu
hàng tháng.
Chế độ đào tạo, bồi dưỡng
Cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp tiêu
chuẩn chức danh hiện đang đảm nhiệm và theo quy hoạch cán bộ, công chức.
Cán bộ, công chức cấp xã khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng chế
độ như sau:
• Được cấp tài liệu học tập;
• Được hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung;
• Được hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập.
Nhận xét:
Các chế độ chính sách dành cho cán công chứ tại địa bàn xã được thực hiện
một cách nghiêm chỉnh theo đúng quy định của Đảng và Nhà nước. Chế độ lương,
phụ cấp so với mức sinh sống tại địa phương hiện nay cũng tạm đủ để chi tiêu cho
sinh hoạt hang ngày.
Chế độ Bảo hiểm xã hội cũng là một trong nhưng điểm thu hút các cán bộ công
chức để họ có chế độ hưu trí khi về già. Chế độ lương chưa cao cũng là một
nguyên nhân khiến cho thái độ làm việc với dân, tận tình với công việc của cán bộ
công chức xã chưa tốt gây nhiều ảnh hưởng xấu tới cách nhìn nhận của nhân dân
về bộ máy chính quyền xã. Đặc thù với các cán bộ cấp xã thì việc kiêm nhiệm chức
quyền cũng giống như một nghề tay trái, chủ yếu họ tham gia vào các hoạt động
kinh tế để đủ trang trải các chi phí sinh hoạt cho gia đình. Tuy nhiên, với mức
lương theo quy định hiện tại thì cán bộ công chức thường phải kiêm nhiệm thêm

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 17


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

chức vụ, làm thêm các nghề phụ tại gia đình khiến cho hiệu quả và năng suất công
việc không cao.
Hàng năm, chính quyền xã cũng có chế độ thưởng riêng cho con cái của cán bộ
công chức xã khi có thành tích tốt trong học tập thông qua các hoạt động của ban
Khuyến học xã: tặng giấy khen, tặng hiện vật để động viên các cháu tiêp tục phát
huy tinh thần ham học và phấn đấu nhiều hơn nữa trong học tập, đẩy mạnh phong
trào học tập trên địa bàn toàn xã. Nhằm muc đích khuyến khích động viên cán bộ,
công chức xã hang hái hơn trong công việc, hàng năm chính quyền xã tổ chức các
dịp đi thăm quan vào dịp đầu xuân, nghỉ mát vào dịp hè được đông đảo cán bộ
đồng tình ủng hộ và phấn khởi.
g) Các cơ quan, đối tác tài trợ của đơn vị thực tập:
Xã Đông Thọ vốn là một xã thuần nông, không nằm trên đường quốc lộ, không
có khu công nghiệp nằm trên địa bàn xã nên các cơ quan đối tác, tài trợ của đơn vị
hầu như không có. Chính vì nguyên nhân này mà việc huy động nguồn kinh phí xã
hội hóa trong việc thực hiện các hoạt động nói chung và các hoạt động an sinh xã
hội nói riêng tại địa phương chủ yếu là dựa vào nguồn kinh phí của Nhà nước. Các
nguồn kinh phí còn lại là do dân chúng đóng góp và quyên góp từ long hảo tâm của
những người con xa quê.
Như vậy, chính quyền xã cần đẩy mạnh hơn nữa việc tìm kiếm các nguồn lực có
thể hỗ trợ đơn vị mình trong quá trình hoạt động của chính quyền; đặc biệt với cac
nguồn nội lực tại địa bàn xã: các cơ sở, các hộ gia đình sản xuất miến dong, bún
trên địa bàn tiềm lực kinh tế khá lớn. Cộng them đó, Đông Thọ là xã đang trên đà
phát triển, có rất nhiều tiềm năng để phát triển, vì vậy chính quyền xã cần đẩy
mạnh hơn nữa việc tìm kiếm các nguồn lực đầu tư vào xã, để bộ mặt địa phương
thay đổi rõ nét về kinh tế - văn hóa – xã hội.
2. Thuận lợi và khó khăn:
• Thuận lợi:
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 18


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Đông Thọ là xã duyên giang, giáp trung tâm Thành phố có chợ, bến bãi, có hệ
thống giao thông được hình thành theo ô bàn cờ kết nối với các địa phương khác
và thành phố. Khí hậu, thổ nhưỡng, đất đai phù hợp cho việc phát triên nông
nghiệp và chăn nuôi.
Trước năm 2007, Đông Thọ là một xã trực thuộc huyện Đông Hưng, các chính
sách và sự quan tâm của chính quyền huyện đến xã không nhiều. Sau năm 2007,
địa giới hành chính được thay đổi, xã Đông Thọ trực thuộc thành phố Thái Bình
được chính quyền đoàn thể quan tâm rất nhiều về cơ chế, chính sách, nguồn lực về
xã rất nhiều. Qua gần 10 năm, bộ mặt xã thay đổi hoàn toàn về kinh tê – văn hóa –
xã hội.
Điều kiện xã hội:
Nhân dân trong xã có truyền thông cách mạng từ lâu đời, tinh thần đoàn kết,
đồng long đồng sức vươn lên trong cuộc sống; luôn tích cực thực hiện chủ trương,
chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ban hành. Lực lượng lao động có
truyền thống cần cù, năng động sáng tạo, ham học hỏi, giám nghĩ giám làm và đổi
mới vươn lên trong cuộc sống. Điều này là một nguồn động lực rất lớn cho công
cuộc xây dựng và phát triển nông thôn mới trong thời gian sắp tới.
Đội ngũ cán bộ, công chức viên chức và lao động:
Đội ngũ cán bộ, công chức xã ngày càng được nâng cao về số lượng cũng như
chất lượng. Nhìn chung chất lượng CBCC xã hiện nay đã không ngừng được nâng
lên và tiến tới chuẩn hóa. Trình độ của đội ngũ công chức đã cao hơn rất nhiều so
với những năm trước đây. Tuy nhiên, tiêu chuẩn quy định đối với CBCC xã như
vậy so với điều kiện thực tế của xã hội còn quá thấp, chưa đáp ứng tốt được yêu
cầu của tình hình mới. Do đó, vấn đề nâng cao trình độ đối với đội ngũ CBCC xã
là cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Nhìn chung, đội ngũ CBCC xã hầu hết đều có uy tín và được nhân dân tin
tưởng, ủng hộ. Về phẩm chất đạo đức đội ngũ CBCC cấp xã đều có phẩm chất đạo

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 19


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

đức tốt, có lối sống lành mạnh, ý thức kỷ luật tốt và tinh thần trách nhiệm trong
công việc
• Khó khăn:
Đội ngũ cán bộ, công chức viên chức và lao động:
Tuy nhiên, năng lực, uy tín, kỹ năng điều hành của CBCC cấp xã còn chưa đáp
ứng được yêu cầu của công việc, còn có tình trạng ban hành các quyết định hành
chính thiếu tính khả thi, gây ảnh hưởng đến niềm tin của dân chúng. Một số cán bộ
xã hiện nay vẫn còn biểu hiện phiền hà, sách nhiễu, gây khó khăn cho cho quần
chúng nhân dân đã gây ra sự bất bình và thiếu tôn trọng từ phía người dân đối với
chính quyền địa phương.
Hiện nay có một tình trạng chung vấn đang diễn ra là các cán bộ xã vẫn đang
làm việc theo kinh nghiệm thực tế đã có, việc học tập và đào tạo; mặc dù có kinh
nghiệm làm việc và đã theo học các khóa học tập huấn nhưng vẫn chưa thể đáp
ứng đủ yêu cầu của xã hội hiện nay.
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý giáp ranh với các xã có tình hình an ninh không ổn định ( xã Đông
Hòa), lại là một xã trẻ mới về thành phố giới trẻ dễ bị ảnh hưởng bởi các văn hóa
không tốt. Hiện nay tình trạng trộm cắp văt, đánh nhau đã xảy ra nhưng mới chỉ ở
mức độ thấp, tình trạng bạo lực học đường tại các trường học trên địa bàn xã có
dấu hiệu tăng. Đây cũng là một trong những dấu hiệu đáng để tâm với chính quyền
về tình hình ổn định an ninh trật tự do điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý mang tới.
AN SINH XÃ HỘI
I.
Thực trạng kết quả hoạt động trong lĩnh vực trợ giúp đặc biệt:
1. Quy mô, cơ cấu
Trong thời gian vừa qua, nhiệm vụ thực hiện chính sách xã hội, đặc biệt là với đối
tượng có công với cách mạng là một trách nhiệm, một nghĩa vụ cao cả mà dân
trong xã và cả chính quyền đều quan tâm và đồng long chung sức thể hiện trách
nhiệm lớn trong công tác đền ơn đáp nghĩa của xã.
Tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn xã có tổng số 304 đối tượng đang thuộc
diện hưởng trợ cấp ưu đãi xã hội, bao gồm :
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 20


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

STT
1
2
3
4
5

Đối tượng
Thân nhân liệt sỹ
Thương binh
Bệnh binh
Bà mẹ VNAH
Người hoạt đông

Số lượng
24
45
26
09
05

Ghi chú

CM – HĐKC bị
6

địch bắt tù đày
Quân nhân tham gia 01
KC có dưới 20 năm

7
Số
có công

công tác
Người hoạt động 48
KC và con đẻ bị
chất độc hóa học

nhân

người
và thân
của

họ

hiện nay mà địa phương đang quản lý:
Liệt sỹ: 111
Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng được truy tặng: 09
Thương binh và người hưởng chính sách như thương bình: 45
Bệnh binh: 26
Người hoạt động CM – HDDKC bị địch bắt từ đày : 17 hiện còn sống là 05
Người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học: 48
Thân nhân liệt sỹ :24
Tuất thương binh, bệnh binh : 02
Thờ cúng liệt sỹ: 82
Người phục vụ thương binh, bệnh binh, người nhiễm chất độc hóa học nặng: 05
Quân nhân tham gia hoạt động kháng chiến có dưới 20 năm công tác: 01
2. Quy trình xét duyệt tiếp nhận và quản lý hồ sơ đối tượng người có công:
Cơ sở pháp lý cho quy trình xét duyệt người kháng chiến và con đẻ của họ bị
nhiễm chất độc hóa học:
Theo thông tư số Số: 05/2013/TT-BLĐTBXH,ngày 15 tháng 05 năm 2013 của
Bộ Lao động – thương binh xã hội quy định quy trình xét duyệt đối tượng người

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 21


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học được thực hiện theo quy
trình như sau:
Bước 1: Người đề nghị giải quyết chế độ do ảnh hưởng chất độc hoá học trực tiếp
và con đẻ của họ lập hồ sơ chuyển đến UBND xã, phường nơi cư trú .
Bước 2: Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được bản
khai, có trách nhiệm xác nhận các yếu tố trong bản khai, lập danh sách đề nghị xác
nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học hoặc con đẻ của
người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học kèm giấy tờ quy định tại
Điểm a Khoản này gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.
Bước 3: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày kể từ
ngày nhận đủ các giấy tờ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra, lập danh sách người đủ
điều kiện kèm giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản này gửi Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội;
Bước 4: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày
nhận đủ hồ sơ hợp lệ, có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, giới thiệu (kèm bản sao hồ
sơ) ra Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh.
Trường hợp vô sinh và trường hợp không có vợ (chồng) hoặc có vợ (chồng) nhưng
không có con hoặc đã có con trước khi tham gia kháng chiến, sau khi trở về không
sinh thêm con, nay đã hết tuổi lao động mà không mắc bệnh theo danh mục bệnh
tật do Bộ Y tế quy định thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chuyển hồ sơ đến
Sở Y tế để cấp giấy chứng nhận bệnh tật do nhiễm chất độc hóa học.Trường hợp
sinh con dị dạng, dị tật mà không mắc bệnh theo danh mục bệnh tật do Bộ Y tế quy
định, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giới thiệu con dị dạng, dị tật ra Hội
đồng giám định y khoa cấp tỉnh;
Bước 5: Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh khám giám định, lập biên bản giám
định bệnh, tật; dị dạng, dị tật chuyển Sở Y tế kèm hồ sơ để cấp giấy chứng nhận

Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 22


BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

bệnh tật do nhiễm chất độc hóa học; dị dạng, dị tật do ảnh hưởng của chất độc hóa
học;
Bước 6: Sở Y tế trong thời gian 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, có trách nhiệm
cấp giấy chứng nhận bệnh tật do nhiễm chất độc hóa học; giấy chứng nhận dị dạng,
dị tật do ảnh hưởng của chất độc hóa học và chuyển Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội kèm hồ sơ;
Bước 7: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 10 ngày kể từ ngày
tiếp nhận đủ hồ sơ do Sở Y tế chuyển đến, có trách nhiệm ra quyết định trợ cấp,
phụ cấp đối với những trường hợp đủ điều kiện.
Nhận xét: quy trình xét duyệt đối tượng người hoạt động kháng chiên và con
đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học được nhà nước quy định rất rõ rang về thời
gian, yêu cầu về hồ sơ thủ tục. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện để xét duyệt
đối tượng người kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học còn gặp
phải nhiều vướng mắc gây khó khăn cho đối tượng được hưởng và cả cán bộ thực
hiện quy trình xét duyệt:
Hiện nay là vẫn còn một bộ phận không nhỏ nạn nhân mang trong mình di
chứng chiến tranh, với những căn bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, sinh hoạt
và di truyền sang thế hệ con, cháu nhưng vẫn chưa được xác nhận và hưởng chế độ
ưu đãi dành cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Còn
những trường hợp không bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học nhưng do quen biết và
biết cơ chế chạy hồ sơ nên vẫn nghiễm nhiên được hưởng chế độ ưu đãi cho người
bị nhiễm chất độc hóa học. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và long
tin của người dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hơn nữa, việc quy định hồ sơ xét duyệt đối tượng hưởng chế độ đối với người
nhiễm chất độc hóa học rất chi tiết cụ thể, nhưng chính điều đó lại gây khó khăn
cho người thuộc đối tượng khi do hồ sơ, giấy tờ bị thất lạc. Thực tế có những lý
lịch trên chỉ ghi phiên hiệu đơn vị mà không ghi rõ địa điểm đơn vị đóng quân,
Nguyễn Đặng Tố Chinh – D7CT2

Page 23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×