Tải bản đầy đủ

Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh việt nam

y
o

c u -tr a c k

.c

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THANH THÚY

KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Vân Anh

HÀ NỘI - 2014

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w



w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
k
lic

c u -tr a c k

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới tập thể giảng viên
Khoa Pháp luật kinh tế, các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, Đại học
Luật Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả có thể hoàn thành
luận văn của mình.
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị
Vân Anh - giảng viên trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt
thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè
đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ, ủng hộ để tác giả có thể hoàn thành luận
văn một cách tốt nhất.
Học viên thực hiện
Đỗ Thanh Thúy

.d o

o

.c

m

C

m

w

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
k
lic

c u -tr a c k

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI
LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG

6

1.1.

Khái quát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

6

1.2.

Khái quát pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường

14

1.3.

Quá trình phát triển pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về kiểm
soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT
NAM VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH
THỊ TRƯỜNG

22

2.1. Quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành về kiểm
soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

22

2.2. Đánh giá quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về
kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trị trường

46

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG
VỊ TRÍ THỐNG LĨNH TRỊ TRƯỜNG

52

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

52

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

56

KẾT LUẬN

62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

63

.d o

o

.c

m

C

m

w

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cạnh tranh là bản chất và là cơ chế vận hành chủ yếu có tính chất kinh điển của kinh tế
thị trường, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, giảm chi phí
và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội và sự lựa chọn của người
tiêu dùng. Vị trí thống lĩnh thị trường được hình thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau và
gây ra những tổn thất, hậu quả lớn cho xã hội như kìm hãm sản xuất, hạn chế sản lượng, tăng
giá bán, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, đồng thời còn ngăn cản tự do kinh doanh, cản trở
cạnh tranh…
Để phát huy những lợi ích của cạnh tranh và duy trì môi trường cạnh tranh, đồng thời
kiểm soát và hạn chế các mặt tiêu cực của việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thì vai
trò của Nhà nước rất quan trọng và có tính chất quyết định. Trong thời gian vừa qua, hệ
thống các chính sách triển khai thực thi ở Việt Nam đã góp phần quan trọng tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh, hoạt động kinh doanh thuận lợi và có hiệu quả, năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp ngày càng được cải thiện. Song, hệ thống các chính sách của
Chính phủ vẫn nghiêng nhiều về giảm bớt khó khăn, giảm bớt bất lợi chứ chưa tạo ra những
tác động hỗ trợ pháp lý về môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và kiểm soát hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Mặt khác, Việt Nam đang ở trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng. Điều đó có nghĩa là thị trường ngày càng được mở rộng, các cơ hội và rủi ro
trong kinh doanh nhiều hơn, phải đối mặt với những thách thức và cạnh tranh quyết liệt
hơn… Với tư cách là người quản lý xã hội và điều hành nền kinh tế của đất nước, Chính phủ
cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hiện tại, nghiên cứu, hoạch định các chính sách mới
theo hướng bảo đảm tự do kinh doanh, duy trì cạnh tranh, kiểm soát những hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường nhằm góp phần tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu
quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế.

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

1
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

Xuất phát từ thực trạng trên, cũng như tính cấp thiết và tính thời sự của nó, tác giả lựa
chọn đề tài: “ Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh
tranh Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được hình thành từ khá
sớm trong lịch sử, và dần trở thành nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi
quốc gia. Ở nước ta, từ khi có chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chính sách cạnh tranh về vấn đề này đã bước đầu được nghiên cứu. Có thể kể đến
một số tài liệu như Nguyễn Như Phát (1997), “Xây dựng pháp luật cạnh tranh trong điều
kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Phạm Duy Nghĩa
(2000), “Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam: nhu cầu, khả năng và một vài kiến nghị”, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật; Phạm Duy Nghĩa (2003), “Độc quyền hành chính: Góp phần nhận
diện và tiếp cận từ pháp Luật cạnh tranh”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Đặng Vũ Huân
(2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam,
Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
trên mang nặng tính chất chính sách và định hướng xây dựng khung cơ chế mà chưa có bước
triển khai cụ thể. Cho đến khi Luật cạnh tranh chính thức ra đời năm 2004, đã có nhiều công
trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Luật cạnh tranh: Sứ
mệnh và triển vọng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Xác định thị
trường liên quan theo Luật cạnh tranh 2004”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Phan Thị Vân
Hồng (2005), Độc quyền và pháp luật về kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Kim Phượng (2007), Kiểm soát hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh của Việt nam,
Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nôi; Đào Ngọc Báu (2004), “Vấn đề độc
quyền ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Lê Nết, Nguyễn Anh Tuấn (2006), “Luật
cạnh tranh và những vấn đề về hợp đồng, phân phối, tài trợ trong thương mại”, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Phân tích và luận giải
các quy định của Luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền để hạn chế cạnh tranh”...

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

2
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

Đến nay, Luật cạnh tranh được thi hành gần mười năm nên trong quá trình thực thi đã
bộc lộ nhiều bất cập. Vì vậy, với việc nghiên cứu đề tài: Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay, tác giả mong muốn tìm ra
những bất cập, nguyên nhân của bất cập trong các quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm
soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp để
hoàn thiện cơ chế này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lý luận của nền luật học nước ta, luận văn đặt mục
đích nghiên cứu các vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Nêu thực trạng bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam và đánh giá thực trạng pháp luật cạnh
tranh hiện hành trong việc kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Từ đó
đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này. Từ mục
đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến vị trí thống lĩnh thị trường,
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường;
- Đưa ra quan niệm về pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, đặc điểm và vai trò của cơ chế;
- Nêu kinh nghiệm quốc tế trong kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường;
- Đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường;
- Kiến nghị một số định hướng và giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này.
4. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

3
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

Về phương pháp nghiên cứu. Luận văn sử dụng các phương pháp khác nhau như:
phương pháp tổng hợp và phân tích để đánh giá các quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, qua đó đưa ra hướng hoàn thiện; phương pháp so sánh và đối chiếu ( luận văn đưa ra
quy định của một số nước về vấn đề thống lĩnh thị trường, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt nam); kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn ( luận văn có đưa ra những vụ việc cụ
thể, thực tế giải quyết những vụ việc đó, để đánh giá chính xác tác động, hiệu quả của các
chính sách đối với nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn). Các phương pháp được thực
hiện trên nền tảng của phương pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; quan điểm
đường lối về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu và phân tích chính sách cạnh tranh về
kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Tác giả đã dựa vào các nội dung, sử
dụng các tiêu chí và chỉ tiêu thành phần để phân tích các quy định của pháp luật, đồng thời
phân tích và nhận diện các nhân tố tích cực thúc đẩy cạnh tranh và các nhân tố hạn chế cạnh
tranh, đặc biệt là những hạn chế phát sinh từ các quy định và thể chế của Chính phủ.
- Đề tài lấy ví dụ và dẫn chứng cụ thể những vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường đã xảy ra trên thực tế.
- Tình hình, số liệu và thời gian nghiên cứu của đề tài chủ yếu là 4-5 năm gần đây, đặc
biệt là sau Hội nhập kinh tế quốc tế và khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO.
5. Những đóng góp của luận văn
Một là, Luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận về kiểm soát
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, khái niệm về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường; quan niệm chung, đặc điểm và vai trò của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường. Nêu và phân tích kinh nghiệm một số nước để chúng ta tiếp tục
nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về vấn đề này.
Hai là, Luận văn đã trình bày thực trạng, tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường ở Việt Nam. Hơn hết, luận văn chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân hạn chế còn tồn

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

4
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

tại trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường.
Ba là, Luận văn đã đưa ra một số giải pháp cụ thể dựa trên những định hướng được
căn cứ vào các quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước; của các nguyên tắc và quy luật
thị trường; và những đòi hỏi từ thực tiễn để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường ở Việt Nam có hiệu quả.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương:
Chương 1 - Một số vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường
Chương 2 – Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường
Chương 3 – Giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường.

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

5
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG
VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
1.1 . Khái quát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.1.1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (dominant market position)
Do sự tập trung tư bản ở các lĩnh vực và đặc điểm kinh tế - xã hội trên các vùng lãnh
thổ khác nhau nên pháp luật các nước đưa ra khái niệm nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường
cũng không giống nhau. Về quan niệm vị trí thống lĩnh, pháp luật của cộng hoà Pháp đưa ra
hai cách tiếp cận khác nhau (bổ sung cho nhau) là cách tiếp cận mang tính học thuyết và cách
tiếp cận mang tính thực tiễn.
Dưới góc độ lý thuyết, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng
thoát khỏi cạnh tranh, không chịu sự ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị
trường đó. Quan điểm này xuất phát từ suy luận rằng hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp bình thường luôn chịu sự chi phối bởi các quy luật thị trường. Với vị trí thống lĩnh,
doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi sự ràng buộc đó và tự làm luật trên thị trường mà chúng
hoạt động.
Dưới góc độ thực tiễn, pháp luật của Pháp có thể kết luận về sự tồn tại vị trí thống lĩnh
trên một thị trường cụ thể nào đó khi trên thị trường đó xuất hiện hành vi không thể có trong
môi trường cạnh tranh thực sự. Cách tiếp cận này đưa ra sự so sánh giữa thị trường cạnh
tranh giả định và một thị trường cụ thể đang xem xét. Lý luận của quan điểm này là một
doanh nghiệp có hành vi lạm dụng chưa hẳn muốn lạm dụng, nhưng doanh nghiệp thực hiện
hành vi lạm dụng chắc chắn phải có khả năng lạm dụng. [35].
Dù cách diễn đạt có khác nhau, song hai quan niệm trên đều mô tả vị trí thống lĩnh thị
trường là khả năng thực hiện những hành vi chi phối thị trường của những doanh nghiệp cụ
thể. Khả năng đó không thể là kết quả của sự suy luận chủ quan mà phải dựa trên những phân
tích từ một hành vi cụ thể có đối tượng tác động, có thể gây ra những hậu quả hạn chế cạnh
tranh trên thực tế.

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

6
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
to
k
lic

.c

.d o

Ở Việt Nam, Luật cạnh tranh 2004 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các hành vi cạnh
tranh và kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, nhưng không đưa ra một khái niệm cụ thể
thế nào là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, mà đưa ra
các điều kiện để xác định vị trí thống lĩnh thị trường thông qua phương pháp định lượng , tức
là xác định qua thị phần của chúng trên thị trường liên quan ( Điều 11, Luật cạnh tranh ).
Theo Điều 102 Hiệp ước Cộng đồng kinh tế Châu Âu (TFEU), “vị trí thống lĩnh thị
trường” được định nghĩa là :“Thế mạnh kinh tế hình thành do việc thực hiện hành vi ngăn
cản cạnh tranh hiệu quả vốn được duy trì trên thị trường liên quan, thông qua đó, doanh
nghiệp có thể hành xử độc lập đáng kể trước đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là
người tiêu dùng”.
“Vị trí thống lĩnh thị trường” dưới góc độ pháp luật cạnh tranh được hiểu là một
doanh nghiệp trên thị trường liên quan có khả năng tăng giá bán sản phẩm, hạn chế số lượng
sản phẩm đầu ra hoặc thậm chí hạn chế quá trình đổi mới sản phẩm và những điều này có thể
gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan [15,tr54].
1.1.2. Nguyên nhân hình thành vị trí thống lĩnh thị trường
Thị trường là sự tương tác giữa cung và cầu, qua đó xác định giá và lượng hàng hoá
hoặc dịch vụ trao đổi. Tính đa dạng trong hoạt động trao đổi giữa người mua và người bán
hình thành nên các hình thái thị trường khác nhau.

Vị trí thống lĩnh thị trường có thể

được hình thành thông qua:
- Do sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp để tập trung các nguồn vốn, kỹ thuật, công
nghệ vào một doanh nghiệp, tạo ra nhiều ưu thế hơn khi cạnh tranh, loại bỏ đối thủ, độc
chiếm và kiểm soát toàn bộ thị trường.
- Liên kết và thông đồng “ngầm” giữa các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng
và vùng tiêu thụ sản phẩm, lĩnh vực sản xuất…
- Do còn tồn tại những vật cản về pháp lý, hành chính và kinh tế đối với khả năng gia
nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng.

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

7
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

- Độc quyền tự nhiên do đặc thù của công nghệ sản xuất, hoặc do đặc thù của ngành
hàng, lĩnh vực kinh doanh.
- Vị trí thống lĩnh còn được hình thành do quyết định hành chính của cơ quan nhà
nước đặc biệt là ở Việt Nam. Đây là hình thức thống lĩnh để Nhà nước có thể chi phối những
lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân, hoặc để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu và
bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội…Việc duy trì độc quyền Nhà
nước cũng cần phải chia thành những cấp độ nhất định và trong từng cấp độ ấy cũng phải tạo
ra áp lực cạnh tranh để nâng cao năng lực của bản thân các doanh nghiệp Nhà nước. Tùy
theo lĩnh vực và ngành kinh doanh mà Nhà nước quản lý toàn diện, chặt chẽ (an ninh, quốc
phòng), hay nắm quyền kiểm soát , điều tiết và chi phối ( Ngành kinh tế công cộng, Tài chính
– Ngân hàng…).
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.1.3.1.Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Hiện nay, có hai xu hướng cơ bản trong pháp luật của các nước và các tổ chức quốc tế
khi mô tả về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Xu hướng thứ nhất, pháp luật đưa ra khái niệm và có những quy định cụ thể về từng
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Điển hình cho xu hướng này là các quy định
trong Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hiệp quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm
1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức thương mại và phát triển Liên hiệp quốc. Theo
đó, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh
mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị
trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh
[36, tr 52].
Xu hướng thứ hai, pháp luật không đưa ra khái niệm của hành vi mà chỉ quy định một
cách khái quát các dấu hiệu cấu thành của hành vi, đồng thời có những quy định cụ thể liệt kê
các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Ví dụ điển hình cho xu hướng này
là Pháp luật cạnh tranh của Canada. Khoản 1 Điều 79 Luật cạnh tranh Canada không đưa ra

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

8
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

khái niệm mà quy định về ba dấu hiệu của hành vi này: (1) Một hoặc một nhóm doanh
nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình hoặc một phân đoạn kinh doanh, dù
trên toàn lãnh thổ Canada hay tại bất kỳ khu vực nào đó của nó; (2) Đã hoặc đang thực hiện
hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (3) Hành vi đó đã, đang hoặc
có khả năng làm cản trở hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể. Bên cạnh
các dấu hiệu của hành vi được quy định trong Điều 79, Điều 78 Luật cạnh tranh Canada liệt
kê 9 nhóm hành vi phản cạnh tranh có thể bị cấm.[38]
So sánh hai xu hướng này, có thể thấy rằng sự khác biệt căn bản thể hiện ở hai điểm
chính sau:(1) Khác nhau về kĩ thuật thiết kế quy phạm pháp luật. Nếu như xu hướng thứ nhất
tìm cách khái quát hoá hành vi bằng một khái niệm chung thì xu hướng thứ hai tập trung vào
quy định mô tả từng hành vi cụ thể. Việc liệt kê các dấu hiệu của hành vi đơn giản chỉ là
những nội dung bắt buộc phải chứng minh khi xử lý một vụ việc cụ thể về hành vi hạn chế
cạnh tranh. (2) Hai xu hướng này còn khác biệt nhau ở dấu hiệu chủ quan của hành vi.
Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam theo xu hướng thứ hai. Luật cạnh tranh năm 2004
chỉ đưa ra khái niệm chung về hành vi hạn chế cạnh tranh mà không định nghĩa thế nào là
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Theo đó, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi
của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm thoả thuận
hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh
tế. (Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004).
Điều 13 Luật cạnh tranh 2004 liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
bao gồm:
- Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh
tranh;
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kĩ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

9
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình
đẳng trong cạnh tranh;
- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá dịch vụ
hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối
tượng của hợp đồng;
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
Như vậy, có thể hiểu “Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là những hành vi
do doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện nhằm
củng cố vị trí thống lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản,
kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh hoặc
nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng” [39, tr 104].
1.1.3.2. Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Theo Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh thị trường trên thị trường liên quan. Chế định về hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp đang có vị trí
thống lĩnh thị trường nhưng không chống lại vị trí của chúng trên thị trường. Về mặt học
thuật, cần phải lưu ý rằng hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh trên thị trường
liên quan đã được xác lập. Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xoá bỏ vị
trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh. Một khi doanh nghiệp có quyền
lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì chúng vẫn là chủ thể được pháp luật
bảo vệ.
Thứ hai, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường đã thực hiện những hành vi mà pháp luật
quy định là hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Luật cạnh tranh năm 2004 nghiêm cấm doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thực hiện các hành vi được quy định tại Điều 13. Một hành vi của

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

10
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi
nó mang đầy đủ các dấu hiệu của một hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường. Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết để kết luận về việc
doanh nghiệp đã thực hiện một trong số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể
quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng. Dưới góc độ lý luận, hành vi lạm dụng vịt rí thống lĩnh
thị trường mang trong mình nó không chỉ những thủ đoạn lợi dụng lợi thế do sức mạnh thị
trường đem lại cho doanh nghiệp, mà còn là nguyên nhân gây ra những hậu quả không tốt
cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường hiện tại hoặc tương lai.
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh
giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan. Mỗi hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở những mức độ với những cách thức khác nhau
nhằm mục đích duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc bóc lột khách hàng.
Trong khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh, Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh đã sử
dụng hậu quả để mô tả về hành vi hạn chế cạnh tranh, theo đó hành vi hạn chế cạnh tranh là
hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Tuy
nhiên, luật không giải thích thế nào là sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh và cũng không
đưa ra những căn cứ để xác định mức độ thiệt hại gây ra. Căn cứ vào quy định trên, có thể
nhận định rằng dấu hiệu về hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ được diễn tả rất khái
quát, mang tính định dạng về mặt lý luận hơn là lượng hoá bằng những căn cứ cụ thể. Vì thế,
khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng buộc phải dựa vào việc phân tích từng hành vi vi phạm
để kết luận về khả năng và mức gây thiệt hại của nó đối với thị trường. Theo đó, từng hành vi
có thể làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh tranh ở những mức độ và với những cách thức
khác nhau.
1.1.4. Khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Hiểu một cách chung nhất, kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
được hiểu là: (i) tổng thể các cơ chế, thiết chế bảo đảm cho chủ thể có quyền kiểm soát hạn
chế cạnh tranh thực hiện chức năng theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện, chấp hành, tuân
thủ các quy chuẩn hành vi đạo đức và pháp luật của các chủ thể bị kiểm soát; (ii) thực hiện

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

11
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

chức năng ngăn ngừa nhằm bảo đảm cho những đối tượng này luôn nằm trong quỹ đạo của
các yêu cầu về pháp luật, các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và bảo đảm để các quy định về
cạnh tranh được thực hiện đúng và có hiểu quả; (iii) pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường quy định việc áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc để loại bỏ
những hoạt động sai trái và vi phạm.
Bản chất của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được thể hiện
thông qua hai góc độ hành vi và góc độ cơ chế. Nhìn từ góc độ hành vi, kiểm soát sự lạm
dụng là sự tác động từ phía cơ quan, chủ thể có thẩm quyền đối với doanh nghiệp bị kiểm
soát. Ở góc độ cơ chế, vấn đề này được thể hiện ở ba khía cạnh là sự phân quyền trong nội bộ
chủ thể có quyền kiểm soát; kiểm soát dựa trên sự giới hạn của chủ thể có thẩm quyền đối
với quyền tự do kinh doanh của khách thể; và kiểm soát dựa trên mối liên hệ giữa chủ thể và
khách thể kiểm soát.
Về chủ thể kiểm soát, theo Luật cạnh tranh Việt nam năm 2004, Cục quản lý cạnh
tranh và Hội đồng cạnh tranh là hai cơ quan quản lý trực tiếp của Nhà nước về cạnh tranh.
Theo kinh nghiệm xây dựng pháp luật về cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới, cơ quan
quản lý Nhà nước về cạnh tranh cần phải chuyên nghiệp và được tổ chức như một thực thể
độc lập tương đối với các cơ quan khác của Bộ máy Nhà nước.
Về nội dung kiểm soát, hệ thống các quy định của pháp luật kiểm soát hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường phải thể hiện được các nội dung cơ bản sau:
- Kiểm soát được các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, chống các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh và cản trở cạnh tranh, loại trừ cạnh tranh.
- Khuyến khích và duy trì các hoạt động cạnh tranh lành mạnh, thực hiện nguyên tắc
thị trường và vận hành theo cơ chế thị trường.
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của cả
cộng đồng.

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

12
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

- Bảo đảm tự do kinh doanh và cạnh tranh, tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường trong
khuôn khổ pháp luật để phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực với mục đích tối đa hóa lợi
nhuận.
- Ban hành các thể chế, chế tài, công cụ và giải pháp chính sách hợp lý và cứng rắn như thuế,
tài chính, kiểm soát giá cả, điều chỉnh và điều tiết vị trí thống lĩnh.
Về cách thức kiểm soát, Nhà nước quy đinh các biện pháp để kiểm soát hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường:
- Biện pháp hành chính và kinh tế. Đây là biện pháp thường xuyên của Nhà nước để kiểm tra,
kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ trên thị trường thông qua các chính sách thuế, giá cả và điều
chỉnh vị trí thống lĩnh ở một số lĩnh vực trong nền kinh tế.
- Ban hành và thực hiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thông lĩnh.
Đây là biện pháp trực tiếp và cứng rắn của Nhà nước để xử lý các quan hệ, hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường gây hậu quả tiêu cực đến thị trường và xã hội.
- Biện pháp điều chỉnh. Để tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh và để cạnh tranh thực sự
là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển thì Nhà nước cần thiết phải đưa ra hệ thống các chính sách
điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh phù hợp với bản chất và quy luật khách quan của thị trường. Đồng
thời, phải có các chế định và giải pháp chính sách cứng rắn để chống hanh vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường.
Thông qua lý luận về vị trí thống lĩnh thị trường, có thể nhận thấy doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh luôn có động cơ để thực hiện các hành vi nhằm gia tăng lợi nhuận siêu ngạch của mình và
để củng cố vị trí thống lĩnh của mình. Vị trí thống lĩnh đem lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh
so với các doanh nghiệp khác và đem lại khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng. Những lợi
thế cạnh tranh có thể là khả năng kiểm soát các yếu tố của thị trường (như nguồn nguyên liệu, giá cả,
số lượng sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dung; khả năng tài chính; thói quen tiêu dùng của
khách hàng…) và các yếu tố tạo ra địa vị không ngang bằng trong cạnh tranh giữa doanh
nghiệp thống lĩnh trên thị trường và các đối thủ của nó ( bao gồm cả đối thủ tiềm năng).
Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có điều kiện tận dụng những ưu thế trên nhằm gây
khó khăn cho đối thủ trong quá trình kinh doanh hoặc ngăn cản việc gia nhập thị trường. Đối
với khách hàng, vị trí thống lĩnh đã khẳng định địa vị quan trọng của doanh nghiệp trong
cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường liên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

13
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
to
k
lic

.c

.d o

cầu chủ yếu của thị trường. Vì thế, quyền lựa chọn của khách hàng đã bị hạn chế, nhu cầu
của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng đáp ứng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cơ hội
để bóc lột khách hàng thông qua việc áp dụng những điều kiện giao dịch không công bằng.
Chính vì những hậu quả tiềm tàng như vậy, việc điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường luôn là trọng tâm của chính sách cũng như pháp luật cạnh tranh
các nước. Mục tiêu kiểm soát hành vi lam dụng vị trí thống lĩnh thị trường là bảo vệ cạnh
tranh trên thị trường, tạo ra một khuôn khổ cạnh tranh trong đó mọi doanh nghiệp đều có cơ
hội thành công hay thất bại tuỳ thuộc vào năng lực cạnh tranh. Do đó, ngay cả khi có những
doanh nghiệp phải rời bỏ thị trường do không đủ năng lực cạnh tranh, pháp luật cũng không
thể quy kết hậu quả đó cho các doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường.
1.2. Khái quát pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường
Nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa lợi ích của các chủ thể
trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các quốc gia đều phải xây dựng một khung
pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Theo Giáo
sư Yves Serra, Giám đốc trung tâm nghiên cứu Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng, khoa Luật, Đại học Mortpellier, Luật cạnh tranh được hiểu là “tổng hợp các quy
phạm pháp luật áp dụng với các tác nhân kinh tế trong hoạt động cạnh tranh nhằm bảo đảm
cho cạnh tranh diễn ra một cách hợp lý, tức là không thái quá” [41]. Luật cạnh tranh chính là
các biện pháp mà Nhà nước sử dụng để điều tiết, đảm bảo cho cạnh tranh không diễn ra một
cách “vô chính phủ”.
Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát hành vi thống lĩnh thị trường có tính tiếp cận từ mặt
trái. Đây cũng là đặc trưng của cơ chế điều chỉnh pháp luật cạnh tranh nói chung. Trong khi
các văn bản pháp luật về kinh tế khác tập trung quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụnhững việc được làm và phải làm- của chủ thể tham gia kinh doanh, thì pháp luật cạnh tranh
về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ khoanh vùng các hành vi bị
ngăn cấm trong hoạt động cạnh tranh, chứ không hướng dẫn các đối tượng điều chỉnh cần
làm những gì hoặc phải làm những gì. Về mặt thực tiễn, hoạt động cạnh tranh của các doanh

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

14
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

nghiệp hết sức đa dạng và phong phú, do đó quy định đóng khung các hành vi cạnh tranh
“được phép” sẽ kìm hãm, ngăn cản sự sang tạo trong kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đên sự
phát triển của nền kinh tế. Cách tiếp cận từ mặt trái của cạnh tranh phù hợp với nguyên tắc
chung của tự do trong kinh doanh, theo đó doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có thể tự do “làm
những việc mà pháp luật không cấm”.
Pháp luật một số nước cũng có tính tiếp cận từ mặt trái. Hiện nay, Luật cạnh tranh của
Mỹ sau khi được được bổ sung, hoàn thiện thì nội dung chủ yếu vẫn là cấm thỏa thuận hạn
chế canh tranh, cấm phân biệt đối xử về giá…Chính sách cạnh tranh của Trung Quốc, loại bỏ
các thỏa thuận, thông đồng và các hành vi hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là nghiêm cấm các
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Thứ hai, chế tài áp dụng đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường rất
nghiêm khắc. Một điểm chung của hầu hết các cơ quan cạnh tranh trên thế giới là việc xem
phạt tiền như một hình thức răn đe hơn là biện pháp bồ thường [15, tr 61]. Cụ thể, phạt tiền
không chỉ để trừng phạt hành vi vi phạm mà còn dùng để ngăn chặn việc thực hiện hành vi
phạm pháp giống và tương tự trong tương lai của những đối tượng tiềm tàng có khả năng
thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Mặc dù pháp luật mỗi quốc gia quy định khác nhau về mức phạt tiền đối với doanh
nghiệp vi phạm, tuy nhiên các cơ quan cạnh tranh đều phải xem xét một số yếu tố nhất định
để tính toán mức phạt cuối cùng. Trong đó, hầu hết cơ quan cạnh tranh đều nhận ra rằng tổng
số tiền phạt phụ thuộc vào mức độ vi phạm. Bên cạnh những hình thức phạt truyền thống,
cũng cần lưu ý tới các cách thức khác để có thể ngăn chặn hành vi vi phạm.
1.2.2. Vai trò, mục tiêu của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường
Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng không thể xóa bỏ vị trí thống lĩnh bằng
sức mạnh Nhà nước hay bằng bất kỳ cách thức nào khác. Trái lại, Nhà nước chỉ có thể áp
dụng những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm soát vị trí thống lĩnh. Bằng những thuộc tính
của mình, đặc biệt là tính quy pham và tính cưỡng chế bắt buộc, pháp luật cạnh tranh được
xem là công cụ quan trọng nhất cho việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường. Tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường chỉ được kiểm soát tốt nếu như các

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

15
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

hành vi của doanh nghiệp bị kiềm tỏa bởi hệ thống các quy định của pháp luật ổn định, chặt
chẽ đi kèm những chế tài nghiêm khắc. Thực tế này đã góp phần khẳng định vai trò quan
trọng của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, đó
là:
Thứ nhất, góp phần duy trì tương quan thị trường trong môi trường cạnh tranh lành
mạnh. Giới hạn các quyền và lợi ích của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
nhằm tránh hành vi lạm dụng. Đồng thời, điều hòa lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh trên
thị trường với lợi ích chung của toàn xã hội. Pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường cho phép đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
thị trường, ngăn chặn các tác hại của hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
Thứ hai, khuyến khích doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bằng con đường
cạnh tranh lành mạnh. Thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hậu quả tiêu cực do hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh gây ra. Góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
thị trường.
Thứ ba, thúc đẩy sự phát triển của nguyên tắc tự do kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo
có sự quản lý và điều tiết của nhà nước. Đóng góp cho việc xây dựng khung hành lang pháp
lý chống hạn chế cạnh tranh nói riêng và pháp luật kinh doanh nói riêng.
Thứ tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh lành mạnh
nhưng yếu thế của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (bảo đảm quyền lợi của
các chủ thể kinh doanh khác đối với cùng một loại hàng hóa, dịch vụ ở một khu vực địa lý
nhất định). Bảo đảm quyền lợi và tăng cường sức mạnh tự bảo vệ của người tiêu dùng trước
những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp này.
Pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có
những mục tiêu hướng đến cụ thể. Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về chính sách và pháp
luật cạnh tranh giữa các quốc gia, nhưng các quốc gia đều thống nhất về ba mục tiêu chính
của pháp luật cạnh tranh là: (1) đảm bảo một quá trình cạnh tranh hiệu quả; (2) tăng cường
phúc lợi xã hội, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng; và (3) tối đa hoá hiệu quả sản xuất,

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

16
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

kinh doanh, phân bổ các nguồn lực xã hội. Vì vậy, luật cạnh tranh là công cụ để bảo vệ và
đem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và người tiêu dùng[15,tr49].
Với vai trò là một bộ phận không tách rời của chính sách và pháp luật cạnh tranh,
pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường cũng hướng đến những
mục tiêu chung đã nêu trên. Điểm quan trọng nhất cần lưu ý là mặc dù tình trạng độc quyền
của thị trường có thể dẫn đến tổn thất chung cho xã hội nhưng pháp luật cạnh tranh không
cấm các doanh nghiệp bằng sức mạnh nội tại của mình, thông qua các biện pháp cạnh tranh,
đạt được vị trí thống lĩnh. Pháp luật cạnh tranh hướng tới mục tiêu hiệu quả và lợi ích người
tiêu dùng thông qua việc đảm bảo cạnh tranh trên thị trường chứ không phải bảo vệ đối thủ
cạnh tranh.
Do đó, pháp luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp thống lĩnh
thị trường nhằm hạn chế, ngăn chặn việc thực hiện các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường
để loại bỏ cạnh tranh và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Nói cách khác, việc áp dụng pháp
luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh không nhằm xoá bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp
mà chỉ loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để trục lợi hoặc bóp méo cạnh tranh.
1.3. Quá trình phát triển pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường ở Việt Nam và Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường
1.3.1. Quá trình phát triển pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường ở Việt nam
1.3.1.1. Giai đoạn trước khi có Luật cạnh tranh năm 2004
Trước khi có Luật cạnh tranh năm 2004, ở Việt Nam đã có các quy định điều tiết các
hoạt động cạnh tranh trong các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh trên thị trường nhằm tạo môi trường pháp lý cho hoạt động cạnh tranh, đảm bảo quyền
cạnh tranh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định các nguyên tắc cơ bản để
đảm bảo quyền cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh, như đã khẳng định chế độ kinh tế

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

17
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

được vận hành theo cơ chế thị trường (Điều 15), ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật
của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế (Điều 22), thừa nhận nguyên tắc bảo đảm
quyền tự do kinh doanh (Điều 27).
Tiếp đó, Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định những nguyên tắc cơ bản trong giao
dịch dân sự, tạo tiền đề và cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các quy định pháp luật chống
lạm dụng vị trí thống lĩnh. Bộ luật dân sự năm 1995 đã khẳng định một số nguyên tắc sau:
nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp (Điều 4); nguyên tắc tự do, tự nguyện
thỏa thuận (Điều 7); nguyên tắc bình đẳng (Điều 8); nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng
nhưng không được trái pháp luật (Điều 395); nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của các chủ thể
kinh doanh khi gây thiệt hại cho các chủ thể khác trong quá trình hoạt động kinh doanh của
mình (Điều 609).
Luật Thương mại năm 1997 là văn bản pháp luật đầu tiên ở nước ta quy định về
nguyên tắc tự do cạnh tranh trong hoạt động thương mại “thương nhân được cạnh tranh hợp
pháp trong hoạt động thương mại” (Khoản 1 Điều 8). Tất cả các quy định nêu trên đã thể
hiện chính sách nhất quán của Nhà nước ta trong việc từng bước xây dựng một hệ thống pháp
luật cụ thể trong việc điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong hoạt động cạnh
tranh sau này.
Như vậy, có thể thấy rằng, trước khi Luật cạnh tranh năm 2004 được ban hành, mặc
dù chưa có một văn bản pháp luật riêng điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh nhưng
rải rác trong các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ở nước ta đã có những
quy định điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.
1.3.1.2. Giai đoạn từ khi Luật cạnh tranh được ban hành đến nay
Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
đã xuất hiện với những biểu hiện khá đa dạng và bước đầu được điều chỉnh trong khá nhiều
các văn bản pháp luật khác nhau. Các văn bản pháp luật này đã góp phần tạo khung pháp lý
cần thiết cho cạnh tranh. Xuất pháp từ nhu cầu thực tiễn và thực trạng pháp luật về kiểm soát

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

18
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, việc ban hành Luật cạnh tranh là rất cần thiết
góp phần phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.
Sau khi Luật cạnh tranh năm 2004 ra đời, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam đã ban hành một số văn bản để thực thi Luật, trong đó có văn bản quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật cạnh tranh, có văn bản quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
pháp luật cạnh tranh, có văn bản quy định về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của cơ quan cạnh tranh… Mặt khác, đến năm 2005, Quốc hội nước ta đã thông
qua Bộ luật dân sự mới, Luật thương mại mới, Luật doanh nghiệp mới và Luật đầu tư. Những
văn bản này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường.
1.3.2. Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.3.2.1. Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nhiều đặc điểm chính trị xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế giống với
Việt Nam. Qúa trình hình thành và hoàn thiện chính sách cạnh tranh của Trung Quốc đồng thời
cũng là quá trình đẩy mạnh chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.
Trung Quốc ban hành Luật cạnh tranh vào năm 2007. Về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường, pháp luật Trung quốc cấm các doanh nghiệp đang có được vị trí thống lĩnh thị
trường: sử dụng mọi hành vi hối lộ, đút lót để có được lợi thế khi mua bán hàng hóa; nghiêm
cấm mọi hành vi bán phá giá một cách phi lý để loại trừ cạnh tranh… Trường hợp doanh nghiệp
bán phá giá hoặc hạ giá các hàng hóa tươi sống; hàng ế hoặc sắp hết hạn sử dụng; hàng hóa theo
mùa… sẽ được miễn trừ trách nhiệm .Đối với các trường hợp không thuộc trường hợp miễn trừ,
các chế tài kinh tế, hành chính hoặc hình sự sẽ được áp dụng tùy theo tính chất và mức độ của
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh. Thanh tra Trung ương có trách nhiệm giám sát chính và có
toàn quyền xử lý các trường hợp vi phạm.
Hiện nay và trong thời gian sắp tới, chính sách cạnh tranh của Trung Quốc sẽ coi trọng
hơn và thực hiện kiên quyết hơn việc ngăn cấm, loại bỏ các thỏa thuận, thông đồng và các hành
vi hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường…Đồng thời, dỡ bỏ các rào
cản hành chính đối với cạnh tranh, loại bỏ độc quyền hành chính, nâng cao sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp.
1.3.2.2. Mỹ

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

19
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

Chính sách cạnh tranh của Mỹ được coi là bộ phận cơ bản, đóng vai trò trung tâm của
phát triển kinh tế. Qua đó, có thể lý giải tại sao nước Mỹ rất tích cực trong việc xóa bỏ các kiểm
soát về giá và gia nhập thị trường. Ba tiêu chuẩn trong chính sách cạnh tranh của Mỹ là: tăng
phúc lợi cho người tiêu dùng; bảo vệ quá trình cạnh tranh; tăng hiệu quả kinh tế.
Theo Pháp luật Mỹ, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh như giá, sản lượng được
coi là phạm pháp và phải chịu hình phạt rất nặng về tiền hoặc bỏ tù. Pháp luật cạnh tranh Mỹ
được đánh giá là chặt chẽ và nghiêm khắc, có thể điều chỉnh các vấn đề phát sinh sau khi thực
hiện thay đổi thể chế trên thị trường.
1.3.2.3. Canada
Pháp luật cạnh tranh Canada chủ yếu chỉ cấm đoán các hành vi có mục tiêu trừng phạt,
xoá sổ hay ngăn cản đối thủ cạnh tranh và đưa đến kết quả là cạnh tranh bị ngăn cản trên thị
trường. Pháp luật cạnh tranh của Canada không đưa ra khái niệm mà quy định về ba dấu hiệu của
hành vi lam dụng vị trí thống lĩnh thị trường là: (1)Một hoặc một nhóm doanh nghiệp về cơ bản
hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình hoặc một phân đoạn kinh doanh, dù trên toàn lãnh thổ
Canada hay tại bất kỳ khu vực nào đó của nó; (2) Đã hoặc đang thực hiện hành vi phản cạnh
tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (3) Hành vi đó đã, đang hoặc có khả năng làm cản trở
hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể. Bên cạnh đó, Luật cạnh tranh Canada
liệt kê 9 nhóm hành vi phản cạnh tranh có thể bị cấm. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có vẻ trừu
tượng, khó xác định.
Pháp luật cạnh tranh của Canada định nghĩa về vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp từ quan
niệm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có quyền lực thị trường. Sức mạnh thị
trường là khả năng định giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng
thời gian đáng kể. Với khái niệm trên, Pháp luật cạnh tranh của Canada mô tả vị trí thống lĩnh
của doanh nghiệp một cách cụ thể, được xác định từ khả năng chi phối giá của thị trường bằng
cách áp đặt và duy trì bán sản phẩm cao hơn so với giá cạnh tranh.[34]
1.3.2.4. Pháp
Việc đánh giá các yếu tố được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh của cơ quan thực thi
pháp luật cạnh tranh Pháp có sự khác biệt với các quốc gia khác. Các yếu tố bao gồm: thị phần
của doanh nghiệp; sự mất cân đối giữa các lực lượng trên thị trường, quy mô của các doanh
nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp với các tập đoàn lớn trên thị trường; xu hướng thay đổi thị

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

20
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

phần trên thị trường…Ở Pháp, cơ quan cạnh tranh cho rằng trong các tiêu chí được sử dụng,
không có tiêu chí nào có vai trò quyết định [35]. Việc đánh giá tổng hợp các tiêu chí nêu trên cho
thấy doanh nghiệp có khả năng thực hiện những hành vi không thể có trong môi trường cạnh
tranh thực sự thì kết luận có vị trí thống lĩnh và ngược lại.
Từ kinh nghiệm về xây dựng và điều hành chính sách kiểm soát vị trí thống lĩnh thị
trường của một số quốc gia, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Một là, xây dựng đồng bộ và có hiệu lực hệ thống các quy định về hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường với ba tiêu chí chủ yếu là tăng phúc lợi cho người tiêu dùng, bảo vệ quá
trình cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế.
Hai là, không thể có cạnh tranh khi không loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường. Không có sự cạnh tranh khi khu vực kinh tế tư nhân bị chèn ép, kìm hãm và kém phát
triển.
Ba là, không thể có cạnh tranh đạt hiệu quả đối với doanh nghiệp nhà nước khi mà doanh
nghiệp nhà nước nhận được nhiều ưu đãi từ phía Nhà nước.
Bốn là, điều kiện quan trọng nhất trong chính sách cạnh tranh và kiểm soát vị trí thống
lĩnh của bất kỹ một quốc gia nào là mở cửa thị trường, thực hiện đa dạng hóa và đa phương hóa,
đồng thời phải tuân thủ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, gắn chính sách cạnh tranh với
chính sách tự do hóa kinh doanh.
Năm là, bộ máy quản lý Nhà nước về cạnh tranh phải chuyên nghiệp và độc lập
tương đối với bộ máy quản lý của Nhà nước. Có đầy đủ nguồn lực tài chính và cán bộ để
quản lý, điều hành, phân tích, đánh giá và xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Ở chương một, tác giả đã khái quát và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm
soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh Việt
Nam về cơ bản có một số điểm mạnh, tương đồng với pháp luật cạnh tranh của một số nước.
Bên cạnh đó, tác giả trình bày những kinh nghiệm của nước ngoài, mặc dù mỗi quốc gia có
cách làm và điều hành khác nhau, có những đặc điềm khác nhau, nhưng đều là những bài học
kinh nghiệm có giá trị và hữu ích cho các nhà quản lý hoàn thiện và hoạch định chính sách
của Việt Nam. Khi vận dụng những bài học hữu ích về chính sách cạnh tranh, kiểm soát hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, đòi hỏi Việt nam phải chủ động, sáng tạo và linh hoạt
để phù hợp với hoàn cảnh thực tế của hoạt động cạnh tranh trong nước.

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

21
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

N
y
.c

to
k
lic
.d o

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ KIỂM
SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
2.1. Quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành về kiểm soát hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường
2.1.1. Những quy định về xác định thị trường liên quan
Xác định thị trường liên quan được xem là một bước quan trọng, mang tính quyết định
đối với một vụ việc hạn chế cạnh tranh. Xác định thị trường liên quan giúp đánh giá được sức
mạnh thị trường mà doanh nghiệp có được, các đối thủ cạnh tranh và tác động của hành vi do
doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thực hiện. Trên thế giới, một doanh nghiệp được xem
là có vị trí thống lĩnh khi có sức mạnh thị trường đáng kể ( theo Điều 102 Hiệp ước về chức
năng của Liên minh Châu Âu).
Thông thường, cơ quan cạnh tranh xác định thị trường liên quan căn cứ trên cả
phương diện sản phẩm và phương diện địa lý. Mục đích của việc xác định thị trường trên cả
hai phương diện này là nhằm xác định các đối thủ cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp thống
lĩnh cũng như khả năng các đối thủ này có thể ngăn cản doanh nghiệp thống lĩnh có những
hành động đơn phương tăng giá hoặc áp đặt giá trên mức giá cạnh tranh. Mặt khác, việc xác
định thị trường liên quan sẽ hỗ trợ việc tính toán thị phần (không tính đến các yếu tố khác),
qua đó xác định được sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có liên quan đối với hành vi
hạn chế cạnh tranh.
Liên quan đến việc xác định thị trường liên quan, có hai phương pháp xác định chính:
xem xét khả năng thay thế về cầu và khả năng thay thế về cung. Trong hầu hết các trường
hợp, thị trường thường được xác định dựa trên quan điểm của khách hàng, tức là xét từ góc
độ khả năng thay thế về cầu. Trên quan điểm kinh tế học, khả năng thay thế về cầu tạo nên
sức mạnh thường xuyên, có hiệu quả và ngay tức thì cho các nhà cung cấp một loại sản phẩm
cụ thể. Nếu như khách hàng có thể dễ dàng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế sẵn có
hoặc chuyển sang một nhà cung cấp ở một khu vực địa lý khác, thì một doanh nghiệp, hoặc
một nhóm doanh nghiệp không bị coi là có tác động đáng kể lên những điều kiện bán hàng
thông thường như giá bán hàng hoá, dịch vụ. Về cơ bản, việc xác định thị trường bao gồm

m

o

o

c u -tr a c k

C
w

w

w

.d o

m

C

lic

k

to

22
w

w

w

w

bu

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×