Tải bản đầy đủ

Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền pháp luật và thực tiễn ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN TÊN MIỀN
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Như Quỳnh

HÀ NỘI – 2014



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu, công trình nghiên cứu
khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội ngày 23 tháng 05 năm 2014
Tác giả

Nguyễn Thị Định


LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn. Với
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Luật Dân sự trường Đại học
Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Nguyễn Như Quỳnh,
người đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị trong Cơ quan Thanh tra, Bộ
Khoa học và Công nghệ đã tận tình giúp đỡ, cung cấp số liệu và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập thông tin để tôi có thể hoàn thành được
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho
tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em trong lớp Cao học Dân sự
20B đã động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn.
Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em đã luôn ở bên cạnh động viên và
giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn.

Tác giả

Nguyễn Thị Định


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT



1

CTKLM

Cạnh tranh không lành mạnh

2

ICANN

Tổ chức quản lý tên miền và Số hiệu mạng trên thế
giới

3

SHCN

Sở hữu công nghiệp

4

SHTT

Sở hữu trí tuệ

5

TAND

Tòa án nhân dân

6

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

7

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

8

UDRP

Chính sách giải quyết tên miền thống nhất

9

VNNIC

Trung tâm Internet Việt Nam


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu...................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 4
5. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 6
7. Cơ cấu của luận văn........................................................................................ 7
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP LIÊN QUAN ĐẾN
TÊN MIỀN............................................................................................................ 8
1.1. Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ................................................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ................ 8
1.1.1.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh .......................... 8
1.1.1.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh.......................... 10
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp ................................................................................ 12
1.1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ..................................................................................... 12
1.1.2.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực s ở
hữu công nghiệp ..................................................................................... 13
1.2. Khái quát chung về tên miền...................................................................... 15
1.2.1. Khái niệm tên miền............................................................................. 15
1.2.2. Đặc điểm tên miền .............................................................................. 16
1.2.3. Quan hệ giữa tên miền và các đối tượng sở hữu công nghiệp .............. 17
1.3. Khái quát hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp liên quan đến tên miền .......................................................................... 19
1.3.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp liên quan đến tên miền .............................................................. 19


1.3.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp liên quan đến tên miền .............................................................. 21
1.4. Tổng quan pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền ....................................... 21
1.4.1. Tổng quan pháp luật quốc tế về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền ........................... 21
1.4.2. Tổng quan pháp luật Việt Nam về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền ........................... 23
1.4.2.1. Pháp luật cạnh tranh ................................................................ 23
1.4.2.2. Pháp luật sở hữu trí tuệ .......................................................... 24
1.4.2.3. Pháp luật công nghệ thông tin ................................................ 25
CHƯƠNG 2. XÁC ĐỊNH VÀ XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP LIÊN QUAN
ĐẾN TÊN MIỀN ................................................................................................ 27
2.1. Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp liên quan đến tên miền .......................................................................... 27
2.1.1. Quy định của pháp luật về xác định hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền .................. 27
2.1.2. Thực tiễn xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền .................................................. 37
2.2. Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp liên quan đến tên miền .......................................................................... 46
2.2.1. Quy định của pháp luật về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền ........................... 46
2.2.1.1. Biện pháp thương lượng, hòa giải ............................................ 46
2.2.1.2. Biện pháp hành chính .............................................................. 47
2.2.1.3. Biện pháp tư pháp ................................................................... 49
2.2.2. Thực tiễn xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp liên quan đến tên miền ....................................................... 51
2.2.2.1. Biện pháp thương lượng, hòa giải ............................................ 51


2.2.2.2. Biện pháp hành chính .............................................................. 52
2.2.2.3. Biện pháp tư pháp ................................................................... 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ XÁC ĐỊNH VÀ XỬ LÝ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP LIÊN QUAN ĐẾN
TÊN MIỀN.......................................................................................................... 58
3.1. Mục đích và nguyên tắc ............................................................................. 58
3.2. Những đề xuất cụ thể ................................................................................. 59
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác định hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền .......... 59
3.2.1.1. Hoàn thiện chung....................................................................... 59
3.2.1.2. Hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ ............................................ 61
3.2.1.3. Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh ............................................... 66
3.2.1.4. Hoàn thiện pháp luật công nghệ thông tin ................................. 67
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền .................. 68
3.2.2.1. Hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ........................................... 68
3.2.2.2. Hoàn thiện pháp luật công nghệ thông tin ................................. 69
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hành vi đăng ký, chiến giữ quyền sử dụng, sử dụng tên miền trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã, đang
diễn ra ngày một nhiều. Điển hình là tên miền aigvietnam.vn, sony.vn, bkav.vn,
familymart24h.com,

grazia.com.vn,

grazia.vn,

kissyvietnam.com.vn,

vtv-

media.com, amway2u.vn, herbalife-vietnam.com.vn, ebay.com.vn, ibm.com.vn,
visa.com.vn, anz.com.vn, toyotavn.vn, camry.vn, innova.vn, sprite.com.vn,
coke.com.vn,

fanta.com.vn,

olay.com.vn,

heineken.vn,

bitis.vn,

samsungmobile.vn, samsungmobile.com.vn, visa.com.vn, …. Việc đăng ký để
sử dụng hay không sử dụng những tên miền như vậy trong hầu hết các trường
hợp đã dẫn đến sự nhầm lẫn của công chúng về chủ sở hữu tên miền và chủ sở
hữu các đối tượng SHCN liên quan. Điều này sẽ rất nghiêm trọng nếu hành vi cố
ý đăng ký để chiếm giữ và lợi dụng tên miền với mục đích CTKLM, làm ảnh
hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu các đối tượng
SHCN; làm người tiêu dùng nhầm lẫn chủ thể quyền SHCN và chủ sở hữu tên
miền là một để trục lợi. Không chỉ gây thiệt hại cho chủ thể quyền SHCN, cho
người tiêu dùng, hành vi này còn tạo ra một môi trường kinh doanh thiếu lành
mạnh, thiếu trung thực và ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế nói chung.
Trước tình hình đó, nhà làm luật Việt Nam đã không ngừng quan tâm, xây
dựng những quy định của pháp luật liên quan nhằm xử lý răn đe, hạn chế việc
thực hiện hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền trên
thực tế. Bằng chứng là trong suốt thập kỷ qua, Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi
quan trọng khi quy định về hành vi này. Trước kia, Luật cạnh tranh năm 2004
mặc dù đã liệt kê rất nhiều hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nhưng hành vi
CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền không được nói đến. Khi
Luật SHTT 2005 được ban hành, hành vi này đã được đề cập dưới dạng hành vi
đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý, sau đó được
hướng dẫn tại Nghị định 97/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 09 năm 2010 về xử phạt


2
vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN và Thông tư 37/2011/TT-BKHCN
ngày 27 tháng 12 năm 2011 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số
97/2010/NĐ-CP. Tiếp đến năm 2008, với sự ra đời của Luật Công nghệ thông
tin, nội dung xác định và xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan
đến tên miền lại được đề cập đến với tư cách là cơ sở để giải quyết tranh chấp
tên miền và được hướng dẫn tại Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8
năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông
tin điện tử trên internet và Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12
năm 2008 quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”.
Sau khi Nghị định 99/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 08 năm 2013 về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực SHCN và Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng
07 năm 2013 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử
trên Internet được ban hành thay thế cho Nghị định số 97/2010/NĐ-CP và Nghị
định số 97/2008/NĐ-CP, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến
tên miền vẫn được đề cập đến với tư cách là một trong những nội dung quan
trọng giúp cho môi trường cạnh tranh trên internet phát triển lành mạnh. Mặc dù
hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền đã, đang nhận
được sự quan tâm rất lớn từ nhiều phía song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu
thực tiễn trong việc chống lại hành vi này.
Hơn nữa, việc xác định và xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN
liên quan đến tên miền là một vấn đề phức tạp: từ khía cạnh pháp lý - hành vi
này phản ánh mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh, pháp luật SHTT và pháp
luật công nghệ thông tin. Từ thực tế bảo hộ, quyền SHTT đối với một số đối
tượng SHCN cũng như quyền sở hữu tên miền phát sinh nhiều vấn đề, những
vấn đề này đã nhận được nhiều giải pháp pháp lý đồng thời gây nhiều tranh cãi.
Ví dụ, nguyên tắc đăng kí và bảo hộ tên miền: “đăng ký trước cấp phát trước” và
“đăng ký tên miền duy nhất” có thể vi phạm quyền chống CTKLM theo quy
định của pháp luật SHTT trong trường hợp đăng ký tên miền chứa thành phần
trùng với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý… Xuất phát từ thực tế
nói trên, tác giả nghiên cứu đề tài: “CTKLM liên quan đến tên miền – Pháp


3
luật và thực tiễn ở Việt Nam” nhằm đưa ra những giải pháp để khắc phục bất
cập, hạn chế của pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý hành vi CTKLM trong
lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền, góp phần bảo vệ quyền lợi của doanh
nghiệp, người tiêu dùng cũng như bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc
đẩy kinh tế phát triển.
2. Tình hình nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến CTKLM trong lĩnh vực SHCN và vấn đề giải
quyết tranh chấp tên miền nói chung đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học. Có thể kể đến như công trình nghiên cứu của Bùi Thanh Lam “Cạnh
tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ trong pháp luật Việt Nam” đăng trên tạp
chí TAND, TANDTC số 14 năm 2008, hoặc công trình nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Như Quỳnh “Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi
hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của
pháp luật Việt Nam” đăng trên Tạp chí luật học số 5 năm 2009 và công trình
nghiên cứu của Đặng Thị Hồng Tuyến “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” trong
Luận văn thạc sĩ luật học năm 2013. Những công trình nghiên cứu này chủ yếu
tập trung nghiên cứu về hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN nói chung, trong
đó có đề cập đến hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền.
Tuy nhiên, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền cũng
chỉ được biết đến với tư cách là một hành vi CTKLM cụ thể. Các tác giả chưa
tập trung đi sâu nghiên cứu nội dung xác định và xử lý hành vi CTKLM trong
lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền cũng như sự tác động, ảnh hưởng của
hành vi đối với sự phát triển kinh tế hiện nay. Ngoài các công trình nghiên cứu
kể trên, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền còn được
nhiều tác giả nghiên cứu dưới góc độ xử lý tranh chấp tên miền. Điển hình là
công trình nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà và Đào Kim Anh “Chính sách giải
quyết tranh chấp tên miền thống nhất và những vấn đề đặt ra với doanh nghiệp
Việt Nam” trong tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 năm 2013; hoặc công trình
nghiên cứu của Phan Ngọc Tâm “So sánh chính sách giải quyết tranh chấp tên


4
miền của một số quốc gia ASEAN và kinh nghiệm cho Việt Nam” trong tạp chí
Khoa học pháp lý, số 2 năm 2012; công trình nghiên cứu của Hồng Thoan “Bảo
vệ tên miền là tăng lợi thế của Việt Nam trong nền kinh tế số” đăng trên website:
http://lethuyhanh.blogspot.com... Nghiên cứu tranh chấp tên miền cho thấy, hành
vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền là nguyên nhân làm
phát sinh tranh chấp tên miền nhưng không phải mọi tranh chấp tên miền đều
phát sinh từ hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền (có
trường hợp tranh chấp tên miền phát sinh do hành vi đăng ký tên miền trùng với
tên của cá nhân, tổ chức) và không phải mọi hành vi CTKLM trong lĩnh vực
SHCN liên quan đến tên miền đều dẫn đến tranh chấp (tranh chấp chỉ phát sinh
khi có mâu thuẫn về quyền lợi). Tóm lại, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN
liên quan đến tên miền không có tranh chấp sẽ không được đề cập trong các
công trình nghiên cứu kể trên. Như vậy, các công trình nghiên cứu trước đây
chưa nghiên cứu và giải quyết triệt để hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN
liên quan đến tên miền. Việc nghiên cứu hành vi này với tư cách là một nội dung
độc lập không những làm rõ được các tiêu chí xác định hành vi CTKLM trong
lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền theo quy định của pháp luật hiện hành
cũng như thực tiễn xác định và xử lý hành vi này mà còn hệ thống hóa một cách
toàn diện pháp luật về hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên
miền.
3. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu các tiêu chí xác định và biện pháp xử lý hành vi
CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền theo quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành, thực tiễn xác định và xử lý hành vi này trên cơ sở của
những tiêu chí và biện pháp đã được nghiên cứu trước đó.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về việc xác định và xử
lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra một số nhiệm
vụ nghiên cứu cơ bản là:


5
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về hành vi CTKLM
trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền; quy định của pháp luật về xác
định, xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền cũng
như thực tiễn xác định và xử lý hành vi này. Để đạt được điều này, tác giả tiến
hành khai thác từ các khía cạnh lý thuyết, pháp lý đến thực tiễn về xác định hành
vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền. Cụ thể: (i) lý thuyết về
hành vi CTLKM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền được làm rõ trên
cơ sở mối quan hệ giữa tên miền và đối tượng SHCN cũng như nguyên nhân
xuất hiện hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền; (ii)
đánh giá mức độ tương thích giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với
nhau, giữa quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật quốc tế
về vấn đề này cũng như tính khả thi của chúng trên thực tế…
Thứ hai, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất
cập của pháp luật hiện hành về xác định và xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực
SHCN liên quan đến tên miền.
5. Phạm vi nghiên cứu
CTKLM liên quan đến tên miền có thể được hiểu ở nhiều khía cạnh khác
nhau, có thể là một chế định pháp luật, một quan hệ pháp luật hoặc là một hành
vi. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn xác định và xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh
vực SHCN liên quan đến tên miền, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu CTKLM
liên quan đến tên miền dưới góc độ là hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN
liên quan đến tên miền. Phạm vi nghiên cứu hành vi CTKLM trong lĩnh vực
SHCN liên quan đến tên miền như sau:
Thứ nhất, luận văn chỉ nghiên cứu hành vi CTKLM trong lĩnh vực
SHCN liên quan đến tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”. Bởi tên miền quốc tế
chịu sự quản lý của Tổ chức quản lý Tên miền và Số hiệu mạng thế giới (Internet
Cooperation for Assigned Names and Number – ICANN), các hành vi liên quan
đến tên miền quốc tế được giải quyết trên cơ sở của “Chính sách giải quyết tranh
chấp tên miền thống nhất” (Uniform Domain-name Dispute Resolution Policy UDRP) của ICANN. Với mục đích hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về


6
vấn đề CTKLM liên quan đến tên miền, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN
liên quan đến tên miền quốc tế sẽ không được đề cập trong luận văn.
Thứ hai, đối với pháp luật quốc tế, tác giả chỉ tập trung vào “Chính sách
giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất”, bởi vì nội dung của chính sách này
được coi là cơ sở, nền tảng để nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới cũng như
trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, Philippines…xây dựng và
vận hành hệ thống chính sách giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia. Việc
nghiên cứu Chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất sẽ góp phần
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Đối với pháp luật Việt Nam, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật cạnh tranh, pháp luật SHTT và pháp luật công nghệ thông tin về hành
vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu trên, Luận văn chủ yếu sử dụng phương
pháp phân tích và phương pháp tổng hợp. Phương pháp tổng hợp được tác giả sử
dụng để tổng hợp các công trình, các bài viết của các tác giả cùng nghiên cứu về
hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền, tổng hợp các quy
định pháp luật liên quan đến hành vi này. Cùng với việc sử dụng phương pháp
tổng hợp, phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích, đánh giá khả năng
áp dụng quy định pháp luật trên thực tiễn trong việc xác định và xử lý đối với
hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền.
Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong Luận văn để chỉ
ra những điểm giống và khác nhau giữa tên miền và đối tượng SHCN (phần
1.2.2), giữa các quy định của các hệ thống pháp luật khác nhau cùng quy định về
hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền… Từ đó, tác giả
chỉ ra một số quy định không tương thích giữa pháp luật cạnh tranh, pháp luật
SHTT và pháp luật công nghệ thông tin.


7
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương:
- Chương 1. Khái quát hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền.
- Chương 2. Xác định và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp liên quan đến tên miền.
- Chương 3. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác
định và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp liên quan đến tên miền.


8
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
LIÊN QUAN ĐẾN TÊN MIỀN
1.1. Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là điều kiện cần để một chủ thể kinh doanh bất kỳ có thể tồn
tại, phát triển. Đặc biệt, khi chủ thể kinh doanh đó tồn tại và phát triển trong nền
kinh tế thị trường thì hoạt động cạnh tranh lại càng diễn ra khốc liệt hơn. Hiện
nay, khái niệm cạnh tranh đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Có quan
điểm cho rằng: “cạnh tranh là hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và
là đối thủ của nhau, cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu
giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, có thể qua việc lôi kéo được hoặc để
mất đi một lượng khách hành thường xuyên”1. Như vậy, cạnh tranh theo quan
điểm này chỉ được hiểu đơn giản là hành vi “lôi kéo” của doanh nghiệp. Khi đối
thủ cạnh tranh của doanh nghiệp “lôi kéo” được một lượng khách hàng cũng
đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó mất đi một lượng khách hàng. Ngoài cách
hiểu này, cạnh tranh còn được hiểu “là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
dùng hàng hóa để thu lợi siêu ngạch”2, hoặc cạnh tranh là “sự cố gắng giành
phần thắng, phần hơn về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động
nhằm mục đích như nhau”3. Ở đây, cạnh tranh không đơn giản chỉ là sự “lôi
kéo” mà cạnh tranh là sự sống còn của những người, những tổ chức hoạt động
nhằm mục đích như nhau. Có thể thấy rằng, khái niệm này không những chỉ ra
được bản chất của cạnh tranh là sự “ganh đua” để giành phần lợi ích hơn về
mình, để vượt lên trên các đối thủ có cùng một mục đích mà còn khắc phục được
1

Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, trích bởi Bùi Thanh Lam (2008), “Cạnh tranh không lành
mạnh về SHTT trong pháp luật VN”, TANN, TANDTC (số 14), tr. 2-8.
2
Các Mác, trích bởi Đặng Thị Hồng Tuyến (2013), “Hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN – Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr. 27-28;
3
Từ điển tiếng Viêt, Viện Ngôn ngữ học (2010), Nxb: Đà Nẵng, tr. 12.


9
hạn chế của khái niệm trước đó khi cho rằng chủ thể thực hiện hành vi cạnh
tranh chỉ có thể là doanh nghiệp.
Trên thực tế, hành vi cạnh tranh diễn ra rất đa dạng, có thể là hành vi cạnh
tranh lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi CTKLM. Với tư cách
là một bộ phận của cạnh tranh, khái niệm về CTKLM đã, đang được rất nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm. Có quan điểm cho rằng, “CTKLM là những vi cạnh
tranh trái với quy định của pháp luật, đi ngược lại với nguyên tắc của xã hội, tập
quán và truyền thống kinh doanh lành mạnh, xâm phạm lợi ích của nhà nước,
của xã hội, của người tiêu dùng và những người kinh doanh khác”. Và “CTKLM
cũng có thể được hiểu trước hết là sự gây thiệt hại cho doanh nghiệp và người
tiêu dùng…”4. Với quan điểm này, cơ sở để đánh giá hành vi CTKLM bao gồm:
các quy định của pháp luật hiện hành, các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền
thống kinh doanh. Nguyên tắc xã hội ở đây có thể được hiểu là những quy tắc
ứng xử chung của xã hội, được xã hội thừa nhận nhưng chưa được nâng lên
thành luật, còn tập quán và truyền thống kinh doanh được hiểu là những thói
quen kinh doanh được hình thành từ lâu. Những thói quen được hình thành trong
các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cũng khác nhau nên khi đánh giá một
hành vi là hành vi CTKLM theo quan điểm này cũng cần phải căn cứ vào từng
thời kỳ khác nhau.
Dưới góc độ pháp lý, Công ước Paris quy định “bất cứ hành động nào trái
với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành
động CTKLM”5. Như vậy, nguyên tắc tối thiểu để xác định hành vi CTKLM theo
quan điểm này cũng phụ thuộc vào tập quán hay chính là thói quen kinh doanh
lành mạnh của từng quốc gia.
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, hành vi CTKLM được hiểu là “hành
vi cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây
thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
4
5

Bùi Thanh Lam (2008), sđd.
Công ước Paris (khoản 2, Điều 10 bis).


10
khác hoặc người tiêu dùng” (khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh). Tương tự như
các khái niệm nêu trên, Luật Cạnh tranh khi đề cập đến hành vi CTKLM cũng
chỉ ra được bản chất của hành vi CTKLM là hành vi cạnh tranh nhưng không
phù hợp với những quy chuẩn do xã hội đặt ra, cạnh tranh đi ngược lại với
truyền thống kinh doanh thông thường và hệ quả là gây thiệt hại hoặc có thể gây
thiệt hại đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng. Tuy nhiên, liên
quan đến chủ thể thực hiện hành vi CTKLM, định nghĩa về hành vi CTKLM
chưa thật sự đúng khi cho rằng, chủ thể thực hiện hành vi CTKLM chỉ có thể là
doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, bất cứ chủ thể kinh doanh nào cũng có thể thực
hiện hành vi CTKLM, không nhất thiết phải là doanh nghiệp. Ví dụ: một số tổ
chức phi kinh tế, các đơn vị truyền thông không phải là doanh nghiệp vẫn có thể
thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp
như tung tin không trung thực về doanh nghiệp, về hàng hóa, dịch vụ…. Việc
giới hạn phạm vi áp dụng của Luật Cạnh tranh đang hạn chế việc xác định và xử
lý hành vi CTKLM trong nhiều trường hợp. Do đó, để phù hợp với thực tiễn,
định nghĩa CTKLM nên quy định một cách ngắn gọn: “là hành vi cạnh tranh
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.
1.1.1.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Từ khái niệm hành vi CTKLM nêu trên, có thể xác định một số đặc điểm
cơ bản của hành vi CTKLM như sau:
Thứ nhất, hành vi CTKLM là hành vi trái với các chuẩn mực thông
thường về đạo đức kinh doanh
Thuật ngữ “chuẩn mực” và “đạo đức” không chỉ được sử dụng trong lĩnh
vực kinh doanh mà còn được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như
văn hóa, y tế, giáo dục…“Chuẩn mực” và “đạo đức” không phải là một khái
niệm tĩnh hay phổ quát mà được thay đổi theo thời gian và biến chuyển theo văn
hóa. Hơn nữa, mỗi một lĩnh vực lại có một cách hiểu về “chuẩn mực” và “đạo
đức” khác nhau nên hiện tại vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra được


11
một định nghĩa cụ thể thế nào là “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh”. Từ cách hiểu về chuẩn mực xã hội nói chung “là quy tắc nhằm xác định
những hành vi được số đông xã hội, nhóm người chấp nhận”, thì chuẩn mực về
đạo đức kinh doanh được hiểu “là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận
rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường”. Một hoạt động
kinh doanh nhất định bị đa số cộng đồng doanh nghiệp phản đối thì hiếm khi
được coi là hành vi cạnh tranh lành mạnh. Do vậy, chuẩn mực về đạo đức kinh
doanh cũng được coi là một trong những căn cứ để đánh về hành vi CTKLM.
Thứ hai, hành vi CTKLM gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho các
chủ thể khác
Thiệt hại mà hành vi CTKLM gây ra không nhất thiết phải là thiệt hại
thực tế đã xác định, có thể là nguy cơ gây thiệt hại, chỉ cần có căn cứ để xác định
rằng hậu quả chắc chắn sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn hành vi. Đặc điểm về hậu
quả của hành vi CTKLM giúp cho chúng ta phân biệt dưới góc độ lý thuyết hành
vi CTKLM và hành vi hạn chế cạnh tranh là những xử sự của doanh nghiệp hoặc
nhóm doanh nghiệp làm thay đổi một cách tiêu cực tình trạng cạnh tranh hoặc
làm giảm tác dụng của cạnh tranh đối với thị trường. Hành vi hạn chế cạnh tranh
có thể gây thiệt hại cho một, một số đối tượng cụ thể song nghiêm trọng hơn là
cản trở, làm suy giảm hoặc sai lệch cạnh tranh. Trong khi đó, hành vi CTKLM
chỉ gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác hoặc cho người tiêu
dùng, xâm hại đến trật tự quản lý cạnh tranh của nhà nước mà không làm cản
trở, làm sai lệch hay làm giảm tình trạng cạnh tranh của thị trường nên cách thức
và mức độ xử lý đối với hai loại hành vi này khác nhau. Dưới góc độ lịch sử phát
triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi CTKLM thay đổi theo thời gian
phụ thuộc vào nhận thức của con người về tính nguy hại và mức độ xâm hại của
hành vi đó đối với lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ. Ở thời kỳ đầu tiên, pháp luật
cạnh tranh chỉ nhằm chống lại các biểu hiện không lành mạnh xâm phạm lợi ích
của đối thủ cạnh tranh theo quan niệm cạnh tranh phải là sự đối đầu giữa các đối
thủ trên thị trường, vì vậy những hành vi xâm hại lợi ích của người tiêu dùng
không nằm trong khái niệm CTKLM. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị


12
trường, những hành vi không lành mạnh được thực hiện với khách hàng (người
tiêu dùng), tưởng chừng như không liên quan đến đối thủ cạnh tranh nhưng thực
tế cũng làm tổn hại và thậm chí phá vỡ trật tự hệ thống cạnh tranh hiện hành. Do
đó, quan niệm về hành vi CTKLM đã làm cho pháp luật chống CTKLM mở rộng
phạm vi sang cả những hành vi xâm hại lợi ích của người tiêu dùng6.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiêp
1.1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp
Hành vi CTKLM có thể diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có
lĩnh vực SHCN. Nhiều chủ thể khi cạnh tranh với các đối thủ khác đã lợi dụng
một số đối tượng SHCN như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý để loại bỏ
đối thủ cạnh tranh hoặc lừa dối người tiêu dùng và thu lợi bất chính…. Những
hành vi như vậy không chỉ gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh mà còn có thể
gây thiệt hại cho người tiêu dùng và nhà nước nên bị coi là hành vi CTKLM. Có
quan điểm cho rằng, “hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN là những hành vi
cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh liên quan đến
việc sử dụng hoặc chuyển giao các đối tượng SHCN, trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc
người tiêu dùng”7. Xét dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh và hành vi CTKLM
nói chung thì điều này là hợp lý đối với hầu hết các hành vi CTKLM. Tuy nhiên,
đối với hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN cụ thể như hành vi đăng ký chiếm
giữ tên miền bất hợp pháp thì việc định nghĩa về hành vi CTKLM trong lĩnh vực
SHCN như trên là không chính xác. Bởi chủ thể thực hiện hành vi CTKLM
trong lĩnh vực SHCN liên quan đến tên miền không nhất thiết phải là doanh
nghiệp (phần 1.1.1.1.), có thể là cá nhân, tổ chức phi kinh tế đăng ký chiếm giữ
quyền sử dụng tên miền để thực hiện hành vi CTKLM. Để khắc phục hạn chế
6

“Đặc điểm của hành vi CTKLM”, website:http://www.dankinhte
Đặng Thị Hồng Tuyến (2013), “Hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr. 10.

7


13
này, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN cần được hiểu là bất kỳ hành vi cạnh
tranh nào nhằm mục đích lợi dụng các đối tượng SHCN để thực hiện hoạt động
cạnh tranh trái với quy định của pháp luật, đi ngược lại với nguyên tắc của xã
hội, tập quán và truyền thống kinh doanh lành mạnh, xâm phạm lợi ích của xã
hội, của người tiêu dùng và người kinh doanh khác.
1.1.2.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp
Bên cạnh những đặc điểm chung vốn có của hành vi CTKLM nói chung,
hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN có một số đặc điểm riêng:
Thứ nhất, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN xuất phát từ độc
quyền đối với các đối tượng SHCN
Quy định về sự độc quyền đối với các đối tượng SHCN có thể là nguyên
nhân hình thành hành vi CTKLM. Dưới góc độ của chủ sở hữu – người sáng tạo
ra các đối tượng SHCN, quy định về quyền độc quyền đối với các đối tượng
SHCN nhằm bù đắp cho những nỗ lực sáng tạo của chủ thể nắm giữ quyền
SHCN, khuyến khích họ tích cực sáng tạo… Tuy nhiên, độc quyền có thể gây ra
những tác động tiêu cực cho khả năng tiếp cận hàng hóa của người tiêu dùng,
cho sự lưu chuyển bình thường của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và cho cạnh
tranh lành mạnh. Bởi chủ thể nắm giữ quyền SHCN dễ dàng lạm dụng sự độc
quyền đó để cản trở hoạt động thương mại và gây tổn hại cho người tiêu dùng.
Thứ hai, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN xuất phát từ giá trị
thương mại của quyền SHCN
Với tư cách là một trong những yếu tố cấu thành hàng hoá, dịch vụ, các
đối tượng SHCN cũng mang những giá trị nhất định và được coi là một loại “tài
sản đặc biệt". Nghiên cứu về giá trị thương mại của quyền SHCN cho thấy, trong
danh sách 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới năm 2002 do Tuần báo Buiness
Week (Hoa Kỳ) công bố, nhãn hiệu Coca - Cola được định giá tới 69,6 tỷ USD,
Microsoft 64 tỷ USD, IBM 51,1 tỷ USD, GE 41,3 tỷ USD, Intel 30,8 tỷ USD,
Nokia 29,9 tỷ USD. Còn đối với một số sản phẩm có tên tuổi của Việt Nam, như
nhãn hiệu kem đánh răng P/S được chuyển nhượng với giá 7,5 triệu USD, kem


14
đánh răng Dạ Lan 2,5 triệu USD. Với giá trị kinh tế lớn, các đối tượng SHCN
được sử dụng làm vốn góp trong công ty, làm tài sản thế chấp vay vốn, có thể
cho thuê, chuyển nhượng quyền sở hữu, hoặc dùng để định giá cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán và các giao dịch thương mại khác8. Xuất phát từ giá trị
thương mại to lớn của quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng, chủ thể
kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng SHCN của đối thủ cạnh
tranh để kiếm lời và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Như vậy, hành vi
CTKLM được hình thành tất yếu qua quá trình sử dụng các đối tượng SHCN.
Thứ ba, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN không chỉ tác động vào
các đối tượng SHCN
Theo quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ thì hành vi chỉ dẫn thương
mại gây nhầm lẫn là hành vi CTKLM. Điểm b khoản 1 Điều 11 Thông tư
37/2011/TT-BKHCN cũng hướng dẫn chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 2
Điều 130 của Luật Sở hữu trí tuệ gồm các đối tượng sở hữu công nghiệp (nhãn
hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý) và các đối tượng sau đây: "Nhãn hàng hóa"
(là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in,
đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hoá
hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của
hàng hóa thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa để người tiêu dùng
nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh
quảng bá cho hàng hoá của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc
kiểm tra, kiểm soát); "Khẩu hiệu kinh doanh" (là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên
cạnh tên doanh nghiệp hoặc nhãn hiệu của sản phẩm của doanh nghiệp nhằm
nhấn mạnh mục đích hoặc tiêu chí kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đối tượng
khách hàng mà sản phẩm hướng tới. Ví dụ: Bitis’: “Nâng niu bàn chân Việt”; Cà
phê Trung Nguyên: “Khơi nguồn sáng tạo”…); "Biểu tượng kinh doanh" (là ký
hiệu, chữ viết, hình vẽ, hình khối được thiết kế một cách độc đáo và được coi là
biểu tượng của doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh) và “Kiểu
8

Nguyễn Thanh Tâm, “Tính thương mại của quyền SHCN”, website http://luatminhkhue.vn/sang-che/tinhthuong-mai-cua-quyen-so-huu-cong-nghiep.aspx.


15
dáng bao bì hàng hóa” (là thiết kế, trang trí bao bì hàng hóa, gồm hình dạng,
đường nét, hình vẽ, chữ, số, màu sắc, cách trình bày, cách phối hợp màu sắc,
cách bố trí, kết hợp giữa các yếu tố nói trên tạo nên ấn tượng riêng hay nét đặc
trưng của bao bì hàng hóa). Như vậy, hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN
không chỉ tác động vào các đối tượng SHCN mà còn tác động vào một số đối
tượng khác như: nhãn hàng hóa, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và
kiểu dáng bao bì hàng hóa.
1.2. Khái quát chung về tên miền
1.2.1. Khái niệm tên miền
Mỗi trang web đều có địa chỉ IP riêng được biểu diễn bằng một chuỗi số
(Ví dụ, địa chỉ IP của trang web: www.witness.org là 216.92.171.152). Việc nhớ
các địa chỉ IP vốn là các dãy số dài là rất khó khăn, đồng thời chính các địa chỉ
IP cũng thay đổi theo thời gian, nên hệ thống tên miền (Domain name system) ra
đời. Trong hệ thống tên miền, các địa chỉ IP được mã hóa dưới hình thức chữ
viết mà con người có thể nhớ được được gọi là tên miền (Ví dụ, để truy cập vào
trang Witness Web bạn sẽ phải đánh nhập vào dòng địa chỉ là chữ
www.witness.org, thay vì phải gõ chuỗi số 216.92.171.152).
Tên miền hiện nay đang được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,
chẳng hạn: “Tên miền là địa chỉ được sử dụng trên internet cho các website hoặc
e-mail. Đó là chuỗi ký tự thường được giải thích rõ bằng một từ, tên công ty
hoặc tên người”9. Theo WIPO, tên miền hay Domain Name được định nghĩa:
“Domain names are the human-friendly forms of Internet addresses, and are
commonly used to find websites”10, tạm dịch “tên miền là tên thân thiện của địa
chỉ Internet và thường được sử dụng để tìm các website”. Ví dụ, tên miền
“wipo.int” được sử dụng để xác định vị trí các trang web WIPO tại
http://www.wipo.int hoặc các trang web WIPO Trọng tài và hòa giải tại Trung
tâm http://www.wipo.int/amc. Theo Trung tâm Internet Việt Nam – VNNIC, tên
miền (Domain Name) “là sự nhận dạng vị trí của một máy tính trên mạng
9

“What is a domain name”, Websitehttp://getdotted.com/what-is-a-domain-name.php.
“What is a domain name”, Websitehttp://www.wipo.int.

10


16
Internet thông qua tên tương ứng với địa chỉ IP của máy tính đó”11. Việc nhận
dạng này được thực hiện thông qua hệ thống tên miền (Domain Name System –
DNS). Theo Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT thì “tên miền là tên được sử dụng
để định danh các địa chỉ Internet” (khoản 1 Điều 3 Thông tư số 10/2008/TTBTTTT). Các định nghĩa này đều chỉ ra bản chất của tên miền là “địa chỉ”. Như
vậy, tên miền có thể được hiểu một cách đơn giản là một “địa chỉ” của website
kinh doanh hoặc một trang cá nhân trên mạng Internet. Thông thường, để tên
miền dễ nhớ, dễ sử dụng, chủ sở hữu tên miền thường đăng ký tên miền bằng
những cái tên thân thiện thay vì những con số địa chỉ rắc rối.
1.2.2. Đặc điểm tên miền
Thứ nhất, tên miền phải được đăng ký
Đối với một số đối tượng SHCN như nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại,
quyền SHCN được xác lập một cách tự động thông qua quá trình sử dụng khi
đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Đối với tên miền, mọi tên miền quốc gia
Việt Nam “.vn” đều phải được xác lập thông qua quá trình đăng ký và bảo hộ
dưới sự quản lý của Trung tâm Internet Việt Nam. Bởi vì, môi trường internet là
một môi trường ảo, rất khó kiểm soát, nên nếu tên miền không được đăng ký bảo
hộ đúng trình tự, thủ tục thì sẽ rất khó khăn trong quá trình quản lý cũng như sử
dụng. Việc đăng ký bảo hộ tên miền phải đáp ứng được những điều kiện nhất
định như: cung cấp các thông tin liên hệ như số điện thoại, email liên hệ khi
đăng ký; cung cấp các thông tin về tên chủ thể đăng ký; về địa chỉ của người
đăng ký tên miền… và cam kết trong quá trình sử dụng tên miền12.
Thứ hai, tên miền là duy nhất
Tên miền được bảo hộ theo nguyên tắc“đăng ký trước cấp phát trước”
(hay thuật ngữ quốc tế thường gọi là nguyên tắc “first come first server”) và
nguyên tắc “đăng ký tên miền duy nhất”. Đối với một số đối tượng thuộc quyền
SHCN như nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu nổi tiếng), các chủ thể khác nhau có thể
được bảo hộ cho các nhãn hiệu trùng nhau nếu sản phẩm gắn nhãn hiệu đó
11
12

“Tenmienlagi?”, Website: http://vnnic.vn.
Website: www.vnnic.vn/chinhsach/quy-dinh-ve-việc-đăng-ký-cập-nhật-cơ-sở-dữ-liệu-tên-miền-vn.


17
không thuộc cùng một lĩnh vực kinh doanh; tương tự như vậy, các chủ thể khác
nhau cũng có thể được bảo hộ cho các tên thương mại trùng nhau nếu các chủ
thể đó không cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Tuy nhiên, theo nguyên
tắc trên, tên miền chỉ được bảo hộ nếu đảm bảo tính “duy nhất” của tên miền đó.
Điều đó có nghĩa là tên miền không được phép trùng với tên miền đã được đăng
ký trong mọi trường hợp.
Thứ ba, tên miền không bị giới hạn bởi phạm vi lãnh thổ quốc gia
Internet là một hệ thống các mạng được liên kết bởi một loạt các công
nghệ mạng điện tử không dây và quang học trong phạm vi toàn cầu. Internet
giúp cho hàng triệu doanh nghiệp lớn nhỏ trên toàn thế giới kết nối với nhau…,
cung cấp một loạt các nguồn thông tin và dịch vụ khác nhau. Với tư cách là một
bộ phận gắn liền với internet, mọi tên miền, dù là tên miền quốc gia hay tên
miền quốc tế cũng đều được sử dụng trong phạm vi toàn cầu và không bị giới
hạn bởi phạm vi lãnh thổ quốc gia. Bởi vì tên miền không bị giới hạn bởi phạm
vi lãnh thổ quốc gia nên thực tế có nhiều chủ thể cho rằng, chỉ cần đăng ký tên
miền quốc gia hoặc tên miền quốc tế là đủ và không cần thiết phải phân định tên
miền. Thiết nghĩ, mỗi một tên miền đóng một vai trò nhất định (ví dụ, thông qua
tên miền quốc gia, người truy cập có thể định hướng và xác định được hoạt động
sản xuất, kinh doanh đó đang được thực hiện tại quốc gia nào. Tên miền quốc tế
không làm được điều này nhưng không vì thế mà phủ nhận vai trò của tên miền
quốc tế. Với việc bảo hộ tên miền quốc tế thì người truy cập ở các quốc gia khác
nhau sẽ dễ nhớ, dễ tìm hơn so với tên miền quốc gia) nên hoạt động phân định
tên miền là thật sự cần thiết. Phân định tên miền không những tạo khả năng phân
biệt giữa các tên miền thuộc các quốc gia khác nhau và các tên miền quốc tế mà
còn là cơ sở quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp. Nhìn chung, doanh
nghiệp muốn phát triển kinh doanh qua tên miền thì cần thiết phải đăng ký bảo
hộ cả tên miền quốc gia và tên miền quốc tế.
1.2.3. Quan hệ giữa tên miền và các đối tượng sở hữu công nghiệp
Tên miền vốn không phải là đối tượng SHCN, việc đăng ký, cấp phát và
bảo hộ tên miền cũng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật SHTT, nhưng tên


18
miền và một số đối tượng SHCN như nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa
lý có một mối quan hệ gắn bó mật thiết, tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau:
Thứ nhất, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý có thể là bộ
phận cấu thành của tên miền
Một tên miền có thể do nhiều thành phần cách nhau bởi dấu chấm “.” cấu
tạo nên nhưng phải có ít nhất một phần có khả năng phân biệt. Theo nguyên tắc
đăng ký tên miền “duy nhất”, thành phần phân biệt của tên miền chỉ được sử
dụng để chỉ ra sự khác nhau giữa các tên miền, không dùng phân biệt với nhãn
hiệu, tên thương mại hay chỉ dẫn địa lý. Do đó, nhãn hiệu, tên thương mại hoặc
chỉ dẫn địa lý có thể là bộ phận cấu thành của tên miền.
Tên miền chứa thành phần trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thương
mại hoặc chỉ dẫn địa lý có thể khiến cho người truy cập tên miền nhầm lẫn rằng
chủ sở hữu tên miền và chủ sở hữu của các đối tượng SHCN này là một. Không
chỉ có người tiêu dùng nhầm lẫn tên miền với các đối tượng SHCN nói trên, chủ
sở hữu các đối tượng SHCN cũng cho rằng các đối tượng SHCN khi được bảo
hộ trên thực tế thì cũng sẽ được bảo hộ dưới dạng tên miền. Ví dụ về trường hợp
của Công ty IBM: sau khi tiếp nhận đơn xin cấp phát tên miền “ibm.com.vn” của
ông Lý Gia Khang, VNNIC đã gọi điện thông báo cho đại diện của IBM để
thông báo và khuyến cáo IBM đăng ký tên miền này nhưng IBM đã không tiến
hành đăng ký tên miền “ibm.com.vn” vì cho rằng nhãn hiệu IBM đã được bảo
hộ, “không ai có quyền đăng ký tên miền ibm.com.vn ngoài IBM”13.
Thứ hai, đối tượng SHCN có thể giúp tên miền dễ nhớ, dễ nhận biết
Chủ sở hữu tên miền có thể lựa chọn nhiều cách thức khác nhau để tên
miền dễ nhớ, dễ nhận diện như sử dụng tên miền ngắn hoặc tên miền gắn liền
với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý đã được nhiều người biết đến.
Lợi dụng thói quen của người dụng internet (truy cập vào website thông qua tên
miền tương ứng với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý), rất nhiều
người đã đăng ký, sử dụng tên miền có dấu hiệu trùng hoặc tượng tự gây nhầm
13

Vụ việc về nhãn hiệu “IBM” liên quan đến tên miền “ibm.com.vn”, Website: http://www.vnnic.vn//tranhchấp-liên-quan-đến-tên-miền-ibm.com.vn..


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×