Tải bản đầy đủ

Hanh vi han che canh tranh cua cac hiep hoi nganh nghe

HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC HIỆP HỘI NGÀNH NGHỀ
Trầ n Thăng Long 1
Tóm tắt
Bài viết nghiên cứu khái niệm hiệp hội thương mại/ngành nghề và những vấn đề cạnh tranh liên
quan đến hoạt động của các hiệp hội. Trong đó, bài viết chủ yếu tìm hiểu những tác động tiêu
cực đến cạnh tranh từ những thỏa thuận thực hiện giữa các thành viên trong khuôn khổ hiệp hội
cũng như những hành vi khác dẫn đến hạn chế cạnh tranh. Cuối cùng, bài viết giới thiệu quy
định pháp luật của một số nước và pháp luật Việt Nam trong điều chỉnh hành vi cạnh tranh của
các hiệp hội.
The paper studies the concept of “trade association” and competition issues with regard to the
operation of trade associations in Vietnam. Particularly, the paper discusses negative effects on
competition resulted from agreements which are conducted among association’s members and
other activities that restrict competition. Finally, the paper introduces provisions regulating
competition practices of trade associations in the law of selected countries and Vietnam’s
competition law.
1. Đặt vấn đề
Các hiê ̣p hô ̣i ngành nghề /thương ma ̣i (trade/profession associations, sau đây go ị chung là
hiê ̣p hô ̣i) có vai trò quan tro ̣ng trong nề n kinh tế . Ở góc độ luật cạnh tranh, các hiệp hội đóng góp
tích cực trong việc tuyên truyền , giáo dục các thành viên của hiệp hội về việc tuân thủ đúng đắn
luâ ̣t ca ̣nh tranh trong hoa ̣t đô ̣ng sản xuấ t kinh doanh của miǹ h . Bên ca ̣nh đó , những cuô ̣c gă ̣p gỡ ,
đố i thoa ̣i, trao đổ i giữa các thành viên trong hiê ̣p hô ̣i và đồ ng thời cũng là những đố i thủ ca ̣nh

tranh làm giảm khả năng cạnh tranh , đố i đầ u giữa các thành viên này . Ngoài ra, các hiệp hội còn
đóng vai trò là cầ u nố i giữa cô ̣ng đồ ng doanh nghiê ̣p và chính phủ , điề u này đă ̣c biê ̣t có ý nghiã
đố i với những quố c gia theo đuổ i chiń h sách phát triể n dựa trên cơ sở đ ịnh hướng công nghiệp
như trường hơ ̣p của Hàn Quố c . Mă ̣c dù vâ ̣y, hoạt động các hiệp hội có khả năng dẫn đến vi pha ̣m
luâ ̣t ca ̣nh tranh dưới hiǹ h thức các thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh nhóm
(cartel) mà thành viên
của cartel chính là những thành viên của hiê ̣p hô ̣i . Bản thân các hiệp hội cũng có thể đóng vai trò
tổ chức, điề u phố i và thực hiê ̣n các vi pha ̣m pháp luâ ̣t ca ̣nh tranh mô ̣t cách trực tiế p , hoă ̣c gián
tiế p hỗ trơ ̣ cho những hành vi này.
Ở Viê ̣t Nam trước khi ban hành Luâ ̣t Ca ̣nh tranh 2004 (LCT), các thỏa thuận giữa các
doanh nghiê ̣p thành viên của các tổ ng công ty nhà nước cũng như giữa các thành viên của các
hiê ̣p hô ̣i thương ma ̣i và nghề nghiê ̣p đươ ̣c coi là hơ ̣p phá p do thiế u vắ ng các quy đinh
̣ điề u chỉnh
đố i với những thỏa thuâ ̣n như vâ ̣y . Hiê ̣n nay , những thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh thực hiê ̣n
trong khuôn khổ của mô ̣t hiê ̣p hô ̣i rấ t đáng đươ ̣c quan tâm . Mô ̣t trong những lý do là sự ảnh
hưởng đáng kể đối với hoạt động của hiệp hội bởi các doanh nghiệp nhà nước
, những doanh
nghiê ̣p này thường nhâ ̣n đươ ̣c sự quan tâm và đầ u tư ma ̣nh mẽ từ phiá nhà nước , do đó có sức
mạnh đáng kể trên thị trường cộng với mố i liên hê ̣ truyề n thố ng với các cơ quan quản nhà nước
trong các liñ h vực chuyên ngành . Viê ̣c LCT 2004 xác định đối tượng áp dụng là các “hiệp hội
ngành nghề” (Điề u 2(2)) đã phần nào phản ánh thực tế này và đáp ứng nhu cầu điều chỉnh hành
vi của các hiê ̣p hô ̣i trong đời số ng kinh tế ở Viê ̣t Nam . Sau khi LCT có hiệu lực , những thỏa
thuâ ̣n giữa các doanh nghiê ̣p thành viên hiệp hội đă ̣t dưới sự giám sát của cơ quan quản lý ca ̣nh
1

TS Luâ ̣t, giảng viên Khoa Luật Quốc tế , ĐH Luâ ̣t TP. Hồ Chí Minh.

1


tranh và bi ̣xử lý nếu đươ ̣c xác đinh
̣ là những hành vi ha ̣n chế ca ̣nh tranh. Mă ̣c dù vâ ̣y, mô ̣t số vấ n
đề liên quan như các quyết định nội bộ của hiê ̣p hô ̣i dưới các hiǹ h thức như chỉ thi ̣, đề xuất hoặc
quy tắ c điề u chỉnh hành vi của thành viên… còn chưa đươ ̣c quy đinh
̣ cu ̣ thể , những hạn chế này
đã làm yếu đi khả năng can thiệp bằng luật cạnh tranh đối với hoạt động của hiệp hội ở Việt Nam .
Bài viết tìm hiểu ảnh hưởng của cá c hiê ̣p hô ̣i đố i với ca ̣nh tranh , trên cơ sở đó xem xét
viê ̣c điề u chin̉ h bằ ng pháp luâ ̣t ca ̣nh tranh đố i với hoa ̣t đô ̣ng của các hiê ̣p hô ̣i . Bài viết bao gồm
ba phầ n. Phầ n thứ nhấ t giới thiê ̣u những vấ n đề cơ bản về hiê ̣p hô ̣i ng ành nghề và ảnh hưởng của
chúng đối với cạnh tranh . Phầ n thứ hai tim


̀ hiể u pháp luâ ̣t của mô ̣t số nước điề u chin̉ h đố i với
hiệp hội ngành nghề cũng như thực tiễn xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh do các chủ thể này
thực hiê ̣n. Phầ n cuố i cùng nghiên cứu viê ̣c điề u chỉnh hành vi của các hiê ̣p hô ̣i theo L CT và mô ̣t
số vấn đề đặt ra.
2. Khái niệm hiệp hội ngành nghề
Hiê ̣p hô ̣i thông thường bao gồ m các cá nhân và doanh nghiê ̣p có cùng lơ ̣i ić h thương ma ̣i ,
chuyên môn, tự nguyê ̣n tham gia nhằ m theo đuổ i những lơ ̣i ích thương ma ̣i hay nghề nghiê ̣p
chung.2 Theo Từ điển Luật Black‟s Law Dictionary thì “hiệp hội thương mại (trade association)
là sự liên kết của những tổ chức kinh doanh có cùng mối quan tâm giống nhau và tham gia vào
cùng lĩnh vực, được thành lập nhằm bảo vệ lẫn nhau, trao đổi thông tin và số liệu thống kê, thiết
lập và duy trì những tiêu chuẩn ngành. Một hiệp hội thương mại có thể bao gồm những thành
viên của cùng một ngành công nghiệp hoặc những thành viên có chung lợi ích và mục tiêu.
Những hành động chung của hiệp hội có thể bao gồm việc thu thập dữ liệu ngành, quảng cáo,
tiếp thị, tham gia vào các quan hệ với công chúng và chính quyền”. Trong khi đó, “hiệp hội
chuyên môn (professional association) là một nhóm của những nhà chuyên môn thành lập để
thực hiện cùng nhau các hoạt động chuyên môn, mặc dù không cần thiết dưới hình thức công ty
cổ phần hoặc công ty hợp danh”.3
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “hiệp hội thương mại” (trade
association), còn gọi là hiệp hội ngành nghề công nghiệp, hiệp hội kinh doanh hoặc hiệp hội
ngành nghề, là một tổ chức được thành lập và đóng góp bởi các doanh nghiệp hoạt động trong
một ngành công nghiệp cụ thể. Hiệp hội tham gia vào các hoạt động quan hệ với công chúng như
quảng cáo, giáo dục, tài trợ chính trị, vận động hành lang và xuất bản, tuy nhiên mục tiêu chính
của hiệp hội là sự hợp tác giữa các doanh nghiệo hoặc việc tiêu chuẩn hóa. Các hiệp hội có thể
cung cấp những dịch vụ khác như tổ chức hội thảo, xây dựng mạng lưới hoặc các sự kiện từ
thiện, tổ chức đào tạo hoặc cung cấp tài liệu”. Hiệp hội nghề nghiệp (professional association)
thông thường là “những tổ chức phi lợi nhuận nhằm phát triển một ngành nghề chuyên môn cụ
thể; lợi ích của các cá nhân tham gia trong ngành nghề đó và lợi ích công cộng”.4 Ngoài ra, theo
quan điể m của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “hiê ̣p hô ̣i” nhiǹ chung bao gồ m 3
loại khác nhau: các hiệp hội thương mại (trade associations); hiê ̣p hô ̣i nghề nghiê ̣p (professional
associations) và những tổ chức tự quản (self-regulating organizations). Trong đó , các hiệp hội
thương ma ̣i là hình thức phổ biế n nhấ t, có mặt ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế.5
Khái niệm “hiệp hô ̣i” do đó đươ ̣c hiể u tương đố i rô ̣ng và bao hàm nhiề u hiǹ h thức hơ ̣p tác
và tương tác (interaction) giữa các cá nhân và doanh nghiê ̣p. Về cơ bản “hiê ̣p hô ̣i” bao gồ m tấ t cả
các tổ chức nhằm hướng đến lợi ích chung của các thành viên, không phu ̣ thuô ̣c vào mu ̣c đích ấ y
2

Organisation for Economic and Cooperation Development (OECD), „Trade Associations”, Roundtable Discussion
2007, tr. 7.
3
Bryan A Garner, Black’s Law Dictionary, 8th ed, Thompson West, tr.133.
4
Wikipedia, „Trade Association‟ ; „Professional Association‟
.
5
OECD, tr. 21.

2


có bản chất kinh tế hay không . Với bố i cảnh luâ ̣t ca ̣nh tranh , khái niệm “hiệp hội” cần đáp ứng
đươ ̣c hai yế u tố cơ bản . Thứ nhấ t, hiê ̣p hô ̣i phải có cơ cấu tổ chức mang đặc điểm của một doanh
nghiê ̣p, nghĩa là có sự phân biệt giữa bản thân hiệp hội và các thành viên của nó , đồ ng thời, hiê ̣p
hô ̣i là mô ̣t hiǹ h thức hơ ̣p tác chă ̣t chẽ và ổ n đinh
, hơn là mô ̣t hiǹ h thức liên kế t của các doanh
̣
nghiê ̣p ca ̣nh tranh với nhau (như mô ̣t da ̣ng thỏa thuâ ̣n ). Thứ hai, hiê ̣p hô ̣i có khả năng gây ảnh
hưởng đế n mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng kin h tế , tức là hoa ̣t đô ̣ng của nó có khả năng gây ra ảnh hưởng nhấ t
đinh
̣ đố i với ca ̣nh tranh. Trường hơ ̣p này loa ̣i trừ những tổ chức hoa ̣t đô ̣ng từ thiê ̣n hoă ̣c văn hóa ,
chúng không có khả năng tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên thị trường.6
Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, khái niệm “hiệp hội ngành nghề/thương mại”
chưa được quy định cụ thể. Hiện tại, ở Việt Nam cũng chưa có một khung pháp luật mang tính hệ
thống và hoàn chỉnh về hội. Quyền tự do lập hội được quy định tại Điều 25 Hiến pháp sửa đổi
được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, theo đó “Công dân …có quyền hội họp, lập hội …
theo quy định của pháp luật”. Vấn đề thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý hội vẫn thực hiện
theo Sắc lệnh số 102-SL/004-L năm 1957 ban hành Luật quy định về quyền lập hội (Sắc lệnh số
102) cùng với Nghị định số 88/2003/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt độngvà quản lý hội và các
văn bản hướng dẫn liên quan (Nghị định 88). Trong đó, Sắc lệnh số 102 định nghĩa hội là “một
đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt
mục đích chung; mục đích ấy không phải để chia lợi nhuận”. Sắc lệnh số 102 không nêu rõ khái
niệm hội mà chỉ nhấn mạnh yêu cầu việc “lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi
ích nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân
của nước ta”. Theo quy định tại Điều 2(1) Nghị định 88, khái niệm “hội” được hiểu là “tổ chức
tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung
mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước”.
Như vậy, khái niệm “hội” có thể được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức.
Theo đó, các công dân, tổ chức Việt Nam đủ tiêu chuẩn là hội viên theo quy định tại Điều lệ hội,
tự nguyện xin gia nhập hội, đều có thể trở thành hội viên. Hội là nơi tập hợp của những cá nhân,
tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới hay cùng sở thích, có mục đích tập hợp, đoàn kết, hỗ trợ
nhau hoạt động có hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên. Hoạt động của hội
mang tính thường xuyên, không vụ lợi, góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Trong lĩnh vực thương mại, ngoài Điều 2 LCT chỉ quy định đối tượng áp dụng của luật cạnh
tranh là hiệp hội ngành nghề. Điều 9 của Luật Thương mại 2005 chỉ quy định“hiệp hội thương
mại được thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thương nhân, động viên thương
nhân tham gia phát triển thương mại, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về
thương mại. Hiệp hội thương mại được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về
hội”. Khái niệm “hiệp hội ngành nghề” nói đến ở Điều 2 Luật Cạnh tranh 2004 bao gồm hiệp hội
thương mại và hiệp hội ngành nghề chuyên môn (Điều 3(2)).
3. Ảnh hưởng của hoạt đô ̣ng của hiêp̣ hô ̣i đế n ca ̣nh tranh
Hoạt động của các hiệp hội mô ̣t mă ̣t đem la ̣i những tác đô ̣ng tić h cực đố i với ca ̣nh tranh .
Mặt khác, hoạt động của hiệp hội có thể tạo ra những hiệu ứng tiêu cực . Chính vì lẽ đó mà việc
các doanh nghiệp tham gia vào các hiê ̣p hô ̣i dễ làm nảy sinh những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
bên cạnh những lợi ích mà việc tham gia hiệp hội đem lại. Những vấ n đề này đươ ̣c thể hiê ̣n qua
những phân tić h dưới đây.
6

OCED, tr. 20-21.

3


Thứ nhấ t , ở khía cạnh tích cực , hoạt động của hiệp hội có vai trò thúc đẩy hiệu quả hoạt
đô ̣ng sản xuấ t kinh doanh của các thành viên , qua đó tăng cường hiê ̣u quả kinh tế nói chung của
thị trường . Các hiê ̣p hô ̣i tạo ra diễn đàn cho các thành viên thảo luâ ̣n và trao đổ i thông tin về
những vấ n đề liên quan đế n lơ ̣i ić h chung của ngành nghề đang hoạt động, trong đó có những vấ n
đề liên quan đến cạnh tranh như giá cả , chi phí sản xuấ t , các biện pháp thúc đẩy cạnh t ranh cũng
như điề u hòa sự ca ̣nh tranh giữa các thành viên trong hiê ̣p hô ̣i . Các hiệp hội có chức năng xây
dựng và thố ng nhấ t những tiêu chuẩ n về sản phẩ m hàng hóa , dịch vụ, tổ ng hơ ̣p và mô hình hóa
kinh nghiê ̣m chung cho cả hiê ̣p hô ̣i . Hoạt động của các hiệp hội còn có thể tạo điều kiện cho
những doanh nghiê ̣p nhỏ hoă ̣c mới tham gia thi ̣trường thông qua viê ̣c hỗ trơ ̣ về kinh nghiê ̣m ,
đinh
̣ hướng và hướng dẫn hoa ̣t đô ̣ng . Bên cạnh đó, các hiệp hội có chức năng xây dựng chiń h
sách, thông qua viê ̣c hoa ̣ch đinh
̣ chiế n lươ ̣c và phương hướng chung cho hoa ̣t đô ̣ng của ngành
nghề , trên cơ sở đó các thành viên trong hiệp hội phối hợp hành động nhằm hướng đến lơ ̣i ích
chung của ngành nghề . Các hiệp hội cũng xây dựng và đảm bảo việc thực thi các quy tắc ứng xử
(code of ethics) cho cá c thành viên trong hiê ̣p hô ̣i , những quy tắc này giúp cho các doanh nghiệp
thành viên có trách nhiệm thực hiện canh tranh lành mạnh và nghĩa vụ tuân thủ đúng đắn pháp
luật cạnh tranh.
Trong nhiề u trường hơ ̣p, hiê ̣p hô ̣i có chức năng và vai trò xây dựng dự thảo chính sách và
các quy tắc quản lý chuyên ngành như thảo luận , các dự án luâ ̣t, quy đinh
̣ liên quan đế n hoa ̣t
đô ̣ng của ngành nghề miǹ h trong quá triǹ h lâ ̣p pháp giúp cho các cơ quan quản lý chuyên ngành
thực thi hiê ̣u quả hơn chức năng quản lý nhà nước của miǹ h .7 Các hiệp hội có vai trò tìm kiếm sự
đồ ng thuâ ̣n giữa các thành viên về những chủ trương chính sách có ảnh hưởng đến ngành như
thuế , xuấ t nhâ ̣p khẩ u , tài chính tiền tệ… Hiệp hội cũng là nơi thảo luận, thố ng nhấ t những vấ n đề
chính sách liên quan giữa hiê ̣p hô ̣i, chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước . Những hoa ̣t đô ̣ng
này cũng có tác dụng giảm thiểu sự cạnh tranh nội bộ , nâng cao sức ma ̣nh ca ̣nh tranh của cả hiê ̣p
hô ̣i. Các hiệp hội có thể sử dụng khả năng vậ n đô ̣ng hành lang (lobby) đố i với chính phủ nhằ m
tìm kiếm sự ủng hộ hoặc tác động đến việc ban hành các luật , chính sách và quy định có lợi cho
ngành nghề mình hoặc duy trì những lợi thế, ưu đãi mà hiệp hội đang được hưởng. Nhìn chung,
pháp luật của các nước không coi hành vi vận động chính phủ của hiệp hội nhằm thay đổi một
văn luâ ̣t nhằ m làm giảm sự ca ̣nh tranh là mô ̣t sự vi pha ̣m .8 Cuố i cùng, các hiệp hội thay mặt cho
các thành viên để bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i của ngành nghề về các vấ n đề pháp lý và chiń h sách liên quan .
Thứ hai, trên cơ sở quyế t đinh
̣ của miǹ h , các hiệp hội có thể đưa ra những yêu cầu các
thành viên thực hiện những hành vi thống nhất trên thị trường như viê ̣c điề u chỉnh giá . Chẳng
hạn, năm 2008, dưới sự bảo trơ ̣ của Hiê ̣p hô ̣i các doanh nghiê ̣p bảo hiể m Viê ̣t Nam , 19 doanh
nghiê ̣p bảo hiể m đã thố ng nhấ t áp du ̣ng lê ̣ phí đố i với bảo hiể m ô tô . Tương tự, cũng trong năm
này, các doanh nghiệp sản xuất thép đã tham gia vào một thỏa thuận ấn định giá dưới sự bảo trợ
của Hiệp hội thép Việt Nam (VSA).9 Cả hai vụ việc này đều đã được Cục Quản lý cạnh tranh
(VCAD)can thiệp, trong đó, VCAD đã có ý kiến và yêu cầu VSA chấm dứt thỏa thuận còn vụ
viê ̣c của các doanh nghiê ̣p bảo hiể m đã được Hô ̣i đồ ng Ca ̣nh tranh xử lý vào tháng 7/201010.

7

OECD, tr. 279-280.
OECD, tr. 8.
9
Xem Cục Quản lý Cạnh tranh “Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế 2010” tr. 129;
VNEconomy, „Luâ ̣t Ca ̣nh tranh khoanh tay nhìn đô ̣c quyề n‟ . ; Karen Ellis et al, Assessing the Economic Impact of Competition:
Findings from Vietnam (2010), 3 .
10
Hội đồng cạnh tranh đã tuyên phạt với mức phạt tương đương 0,025% tổng doanh thu của năm tài chính 2007.
Tổng số tiền phạt trên 1,7 tỷ đồng. Ngoài ra, 19 doanh nghiệp này phải chịu phí xử lý vụ việc cạnh tranh là 100 triệu
8

4


Đáng lưu ý là các thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh có thể đươ ̣c những hiê ̣p hô ̣i này lâ ̣p luâ ̣n
trên cơ sở thực hiê ̣n chiń h sách kinh tế vi ̃ mô như viê ̣c biǹ h ổ n giá , ổn định sản lượng , kiềm chế
lạm phát…Chẳng hạn, Hiê ̣p hô ̣i Ngân hàng Viê ̣t Nam (VNBA) bao gồ m 50 thành viên, trong đó
có 6 ngân hàng thương ma ̣i cổ phầ n nhà và tổ chức tiń du ̣ng nước , 4 ngân hàng trong số này
chiế m 60% tổ ng tài sản và 40% vố n điề u lê ̣ của toàn bô ̣ Hiê ̣p hô ̣i (số liê ̣u 2008).11 Vào năm 2008,
tại các cuộc họp tổ chức tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, các thành viên của VNBA đã thố ng nhấ t
áp dụng ấn định một tỷ lệ lãi suấ t huy đô ̣ng vố n đố i với tiề n gửi bằ ng tiề n Viê ̣t là 11% trên mô ̣t
năm. Lâ ̣p luâ ̣n của VNBA là thỏa thuâ ̣n nói trên là cầ n thiế t nhằ m phu ̣c vu ̣ cho chiń h sách biǹ h ổ n
thị trường. Theo VNBA, vào thời điểm đầu 2008, nhiề u ngân hàng đã đẩ y cao laĩ suấ t cho vay
(23-24% trên 1 năm) và lãi suấ t huy đô ̣ng vố n (17-18% trên 1 năm). Do đó mức laĩ suấ t trầ n ấ n
đinh
̣ 11% trên 1 năm của VNBA là cầ n thiế t nhằ m đưa ra mô ̣t mức laĩ suấ t hơ ̣p lý và giúp ổ n đinh
̣
viê ̣c huy đô ̣ng vố n , gián tiếp đóng góp cho việc ổn định thị trường . Bên ca ̣nh đó , thỏa thuận này,
theo VNBA, là nhằm thực hiện Chỉ thị số 02/CĐ-NHNN về ha ̣n chế các ngân hàng áp dụng lãi
suấ t huy đô ̣ng vố n cao. Trong khi đó, Cục quản lý cạnh tranh khi tiến hành điều tra thỏa thuận nói
trên đã lâ ̣p luâ ̣n rằ ng, thỏa thuận nói trên đã hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng , gây bấ t
lơ ̣i cho những ngân hàng nhỏ và mới thành lâ ̣p .12 Tuy nhiên, vụ điều tra kết thúc sau khi Cu ̣c
quản lý cạnh tranh có cuộc họp với VNBA . Vụ việc đã cho thấy , các hiệp hội có thể sử dụng lập
luâ ̣n dựa vào những chủ trương , chính sách của n hà nước nhằm phục vụ cho các quyết định gây
hạn chế cạnh tranh của mình . Đây cũng là mô ̣t khó khăn cho cơ quan quản lý ca ̣nh tranh Viê ̣t
Nam khi đố i mă ̣t với các hiê ̣p hô ̣i ngành nghề .
Liên quan đế n hoa ̣t đô ̣ng vâ ̣n đô ̣ng hành lang , một mă ̣t, các hiệp hội đại diện cho các
doanh nghiê ̣p của mình trong cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng hành lang luôn cố gắ ng bảo vê ̣ lơ ̣i ích của ngành
nghề mình, do đó có khả năng dẫn đến những chính sách , quy đinh
̣ hỗ trơ ̣ tić h cực , làm đòn bẩ y
cho sự phát triể n của ngành nghề đó , nhấ t là những ngành công nghiê ̣p chiế n lươ ̣c , có khả năng
cạnh tranh cao trên thị trường . Mă ̣t khác, những cuô ̣c vâ ̣n đô ̣ng hàng lang không minh ba ̣ch , nhấ t
là khi không có luật điều chỉnh hoạt động vận động hành lang , sẽ dẫn đế n kế t quả là những chiń h
sách mà chính phủ ban hành có thể tạo ra sự không khách quan , phân biê ̣t đố i xử giữa các doanh
nghiê ̣p trong và ngoài hiê p̣ hô ̣i hoă ̣c giữa các ngành nghề khác nhau . Vấ n đề này có thể phức ta ̣p
hơn trong trường hơ ̣p những hành vi vâ ̣n đô ̣ng hành lang của những hiê ̣p hô ̣i , trong đó các doanh
nghiê ̣p nhà nước đô ̣c quyề n có vai trò chủ đa ̣o . Trong trườ ng hơ ̣p, mố i liên hê ̣ mâ ̣t thiế t giữa các
doanh nghiê ̣p này với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành là mô ̣t yế u tố để quan nga ̣i về
tính khách quan của những chính sách và quy đinh
̣ đươ ̣c ta ̣o ra.
Ở những quốc gia có nền kinh tế chuyể n đổ i như Viê ̣t Nam và Trung Quố c , các hiệp hội
thường đươ ̣c coi là những “cánh tay nố i dài của chính phủ ”, phầ n lớn các thành viên hiê ̣p hô ̣i là
các doanh nghiệp nhà nước lớn và có tiềm lực kinh tế.13 Những hiê ̣p hô ̣i do các doanh nghiê ̣p này
đứng đầ u đóng vai trò như những nhóm lơ ̣i ích và có ảnh hưởng lớn đế n tiế n trình làm luâ ̣t và
quyế t đinh
̣ chiń h sách, thông qua đó có vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c tác đô ̣ng đế n vai trò điề u tiế t
của chính phủ đối với thị trường. Trong những trường hợp đó, các thỏa thuận có thể dẫn đến quan
ngại vì khả năng tạo ra hiệu ứng tiêu cực cho cạnh tranh. Chẳng hạn, Liên đoàn các hiệp hội cho
đồng. Theo Cục Quản lý Cạnh tranh, Bản tin Cạnh tranh và người tiêu dùng, số 19-8/2010, tr. 13
.
11
http://www.mhbs.vn/portal/mhbsfiles/others/56ca2f8d-401e-4e17-bc50-89e5b2ef75dd.pdf
12
http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/tinnhanhchungkhoan.vn/Dong-thuan-ha-lai-suat-ngan-hang-vi-phamLuat-Canh-tranh/5036306.epi
13
Lucas Niedolistek, China‟s State Administration for Industry and Commerce adopts its first cartel decision under
the Anti-Monopoly Law in the concrete production sector, January 2011, e-Competitions, No34955,
.

5


thuê và tài chính Hungary (the Federation of the Hungarian Leasing and Financing Association
(HLFA)), là một hiệp hội đại diện cho các tổ chức tài chính và có quan hệ với nhiều cơ quan
chuyên trách giám sát thị trường và quản lý thị trường cho vay tài chính đối với phương tiện đi lại
cá nhân tại Hungary. HLFA bày tỏ quan ngại về khuynh hướng kéo dài các hợp đồng cũng như
sự cần thiết hạn chế các nguồn quỹ, nhấn mạnh nguy cơ rủi ro đối với những khoản vay có mức
độ rủi ro cao đối với các phương tiện đi lại cá nhân. Từ đó, HLFA đề xuất mong muốn có những
quy định pháp luật về vấn đề này. Mặc dù cơ quan quản lý cạnh tranh Hungary đã không ủng hộ
đề xuất này vì cho rằng những quy định như vậy sẽ tạo ra sự hạn chế cạnh tranh đối với doanh
nghiệp trong khi sự cần thiết của nó chưa được minh chứng, đề xuất trên của HLFA đã cho thấy
vai trò và khả năng của hiệp hội trong việc tác động đến cơ quan quản lý nhà nước nhằm tìm
kiếm những ủng hộ về mặt chính sách hoặc pháp luật liên quan đến hoạt động của các doanh
nghiệp thuộc hiệp hội trong lĩnh vực cụ thể.14
Thứ ba, hiê ̣p hô ̣i ta ̣o cơ hô ̣i cho các đố i thủ ca ̣nh tranh và đồ ng thời cũng thành viên của
hiê ̣p hô ̣i gă ̣p gỡ, đố i thoa ̣i thường xuyên nhằ m tìm tiế ng nói chung, dàn xếp những vấn đề giữa họ
với nhau. Tuy nhiên, hoạt động này có thể ta ̣o khuôn khổ cho những hành vi ha ̣n chế ca ̣nh tranh
bấ t hơ ̣p pháp như viê ̣c ta ̣o ra sự cấ u kế t , thỏa hiệp nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh khác . Bên
cạnh đó, những thỏa thuâ ̣n trong khuôn khổ của hiê ̣p hô ̣i có khả năng trở thành những hành vi
hạn chế cạnh tranh như các thỏa thuận về ấn định giá
, phân bổ khách hàng và phân chia thi ̣
trường hoă ̣c thỏa thuâ ̣n trong đấ u thầ u . Vấ n đề này trở nên phức ta ̣p hơn khi mà những hiê ̣p hô ̣i
15
có số lươ ̣ng thành viên đông đảo và nắ m giữ thi phầ
̣ n đáng kể trên thi trươ
̣
̀ ng.
Chẳng hạn, vào tháng 3/2009 tại Trung Quốc, trên cơ sở các cuô ̣c thảo luâ ̣n giữa các
doanh nghiê ̣p thành viên của Hiê ̣p hô ̣i Máy móc và Vâ ̣t liê ̣u xây dựng Lianyungang , mô ̣t bản Quy
tắ c nô ̣i bô ̣ (Self-discipline Rules) của hiê ̣p hô ̣i đã đươ ̣c thông qua . Theo Quy đinh
̣ này , Ủy ban
hỗn hơ ̣p (Concrete Committee) đa ̣i diê ̣n cho các thành viên trong hiê ̣p hô ̣i sẽ giải quyế t về mo ̣i
đơn đă ̣t hàng của cả hiê ̣p hô ̣i, sau đó sẽ quyế t đinh
̣ cho doanh nghiê ̣p nào sẽ đươ ̣c tham gia vào
hơ ̣p đồ ng với bên đố i tác đă ̣t mua . Những quyế t đinh
̣ này đươ ̣c Ủ y ban đưa ra dựa trên viê ̣c đánh
giá những tiêu chí của các doanh nghiệp thành viên về lĩnh vực sản xuất , hê ̣ thố ng trô ̣n bê tông và
các thiết bị bơm chuyên dụng . Đồng thời , trên cơ sở sự đánh giá này , từng doanh nghiê ̣p đươ ̣c
phân bổ đô ̣c quyề n theo phân chia lañ h thổ . Ủy ban cũng có quyền phạt tiền đối với những doanh
nghiê ̣p nào không tuân thủ đúng Quy tắ c nô ̣i bô ̣ nói trên . Vào tháng 1/2011, Cơ quan quản lý
Công nghiê ̣p và T hương ma ̣i của Trung Quốc (China‟s State Administration for Industry and
Commerce (SAIC)) có trụ sở tại tỉnh Jiangsu đã tiế n hành điề u tra và kế t luâ ̣n rằ ng thỏa thuâ ̣n
như vâ ̣y đã làm ha ̣n chế sự tự do lựa cho ̣n của các nhà sản xuấ t trong viê ̣c cung ứng sản phẩ m
cho các công trình xây dựng và quan tro ̣ng hơn đã làm tăng giá bán đố i với sản phâm bê tong hỗn
hơ ̣p ta ̣i điạ phương này . Cơ quan này cũng đã kế t luâ ̣n bản Quy tắ c nô ̣i bô ̣ có mu ̣c đić h phân chia
thị trường, do đó vi pha ̣m Điề u 13(1) và (3) của Luật Chống độc quyền Trung Quốc 2007. Trên
cơ sở đó, Hiê ̣p hô ̣i nói trên đã bi ̣cơ quan này pha ̣t tiề n .16
Thứ tư, trong khuôn khổ hoa ̣t đô ̣ng của mình , các hiệp hội thường xây dựng những qu y
tắ c chung áp du ̣ng cho hiê ̣p hô ̣i Những quy tắ c này bao gồ m những quy tắ c nô ̣i bô ̣ liên quan đế n
tổ chức, kỷ luật nội bộ , những tiêu chuẩ n về ứng xử hoă ̣c những quy tắ c thố ng nhấ t hành đô ̣ng
(by-laws). Điề u đáng nói là những quy tắ c này có thể đươ ̣c coi là mô ̣t da ̣ng thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế
14

OECD, tr. 120.
Alison Jones and Brenda Sufrin, EC Competition Law – Text, Cases and Materials (Oxford University Press, 3rd
ed, 2008) tr. 171.
16
Lucas Niedolistek, „China‟s State Administration for Industry and Commerce Adopts its first cartel decision under
the Anti-Monopoly Law in the concrete production sector‟ January 2011, e-Competitions, No34955,
.
15

6


cạnh tranh nếu như chúng đề cập đến sự thống nhất về giá , các tiêu chuẩn áp dụng thống nhấ t cho
các giao dịch hoă ̣c liên quan đế n phân chia thi ̣trường , khách hàng hoặc các điều kiện khác ràng
buô ̣c các thành viên kèm theo các biê ̣n pháp kỷ luâ ̣t nế u các thành viên không tuân thủ .17
Chẳng hạn, Hiê ̣p hô ̣i Hàng không Indonesia (the Indonesian Airlines Association
(INACA)) bao gồ m 12 hãng hàng không , trong đó hañ g hàng không quố c gia Garuda Indonesia
Airways là thành viên lớn nhấ t . Trước năm 1999, các thành viên của INACA đã áp dụng một cơ
chế thuế hàng không (tariffs) đươ ̣c đưa ra bởi sự nhấ t trí của tấ t cả các thành viên và trên cơ sở sự
tham vấ n của Bô ̣ Giao thông Vâ ̣n tải và sau đó đã trở thành văn bản tham chiế u
(reference) để
các hãng hàng không tự ấn định bi ểu thuế (tariff) cho mình. Do cuô ̣c khủng hoảng kinh tế , các
hãng hàng không đã từ chối áp dụng biểu giá chung nói trên nhằm tự do đưa ra các biểu thuế
riêng và tiế n hành các chiế n lươ ̣c hạn chế cạnh tranh dưới hình thức bán giá hủy diệt (predatory
pricing) tạo ra một cuộc chiến tranh giữa các hãng này về giá . Trước tình hình đó , vào năm 1999,
INACA đã đưa ra mô ̣t thỏa thuâ ̣n về biể u phí mới , theo đó các hañ g hàng không đã đồ ng ý áp
dụng hai loại thuế hàng không bao gồm mức trần và mức sàn , trong đó giá ấ n đinh
̣ cho loa ̣i thuế
sàn là 4,000 rupiah và thuế trầ n là 7,500 rupiah. Ủy ban Giám sát Cạnh tranh Thương mại
Indonesia (the Indonesian Commission for the Supervision of Business Competition (KPPU)) đã
tiế n hành điề u tra và kế t luâ ̣n thỏa thuâ ̣n này đã ta ̣o ra mô ̣t thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh nhóm
(cartel).
Liên quan đế n vấ n đề này , các hiệp hội cũng có khả năng tạo ra sự hạn chế cạnh tranh
bằng việc đưa ra những điều kiện cho việc trở thành thành viên . Những quy tắ c này thường liên
quan đế n viê ̣c kế t na ̣p và khai trừ thành viên khỏi hiê ̣p hô ̣i . Mục đích của những quy định này có
thể nhằ m ngăn chă ̣n hoă ̣c loa ̣i bỏ khỏi hiệp hội những đối thủ cạnh tranh tiềm năng , dẫn đế n viê ̣c
những đố i thủ ca ̣nh tranh này không có cơ hô ̣i đươ ̣c hưởng những ưu thế và lơ ̣i ích của thành viên
hiê ̣p hô ̣i và do đó không có khả năng ca ̣nh tranh mô ̣t cách biǹ h đẳ ng với những thành viên của
hiê ̣p hô ̣i. Hạn chế việc tham gia hiệp hội đối với những doanh nghiệp cạnh tranh mới có tác động
tiêu cực đế n ca ̣nh tranh nế u hiê ̣p hô ̣i có m ột vai trò quan trọng trong ngành nghề hoặc lĩnh vực cụ
thể làm cho doanh nghiệp nói trên gặp bất lợi trong việc đương đầu với các thành viên hiệp hội.18
Chẳng hạn, vào năm 2003, một hiệp hội bất động sản ở Hàn Quốc bao gồm 2000 doanh nghiệp ở
tỉnh Hwamyung-dong, Busan quyết định hạn chế thành viên với lý do cho rằng sự gia tăng số
lượng thành viên có thể làm giảm sút thu nhập của các thành viên hiện tại. Do đó, hiệp hội này đã
quyết định tăng mức phí hội viên từ 300,000 won lên đến 3 triệu và cấm các thành viên của mình
giao dịch với các doanh nghiệp không phải thành viên của hiệp hội. Kết quả là các doanh nghiệp
không có khả năng gia nhập hiệp hội không có cơ hội tham gia vào những giao dịch liên kết về
bất động sản, dẫn đến sự hạn chế đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này.19
Thứ năm, các cá nhân và doanh nghiê ̣p đề u có quyề n tự do tham gia vào hiê ̣p hô ̣i cũng
như các hoa ̣t đô ̣ng trong khuôn khổ hiê ̣p hô ̣i . Đây có thể xem như viê ̣c thực hiê ̣n các quyề n tự do
mà hiến pháp của các quốc gia đều công nhận , đó là quyề n tự do lâ ̣p hô ̣i (freedom of association)
và tự do bày tỏ quan điểm , chính kiến (freedom of expression). Chẳ ng ha ̣n, Điề u 9 của Hiến pháp
Mexico 1917 khẳ ng đinh
̣ quyề n tự do lâ ̣p hô ̣i là mô ̣t trong những quyề n tự do cơ bản của con
người, theo đó quyề n tự do thành lâ ̣p và tham gia các hiê ̣p hô ̣i vì bấ t kỳ mu ̣c đić h hơ ̣p pháp nào là
không thể bi ̣ha ̣n chế . Kế t quả là những hành vi như tham gia , trao đổ i, thảo luận những vấn đề
17

Xem Nuovo Cegam [1984] OJ L99/29.
Xem P. Watson and K. Williams, The Application of the EEC Competition Rules to Trade Associations,
Yearbook of European Law 1998, tr. 121; P. M. Vaughan and B. A. Nigro Jr., „Membership‟ (Chapter IV), trong
American Bar Association, Section of Antitrust Law, Antitrust and Trade Associations: How Trade
Regulation Laws Apply to Trade and Professional Associations, 1996, tr. 55-66.
19
OECD, tr. 143.
18

7


liên quan trong hiê ̣p hô ̣i cũng như sự thố ng nhấ t , phố i hơ ̣p hành đô ̣ng của các thành viên có thể
biê ̣n minh là không vi pha ̣m luâ ̣t ca ̣nh tranh dưới hiǹ h thức các thỏa thuâ ̣n , cấ u kế t d ẫn đến ha ̣n
chế ca ̣nh tranh. Điều đó đòi hỏi cơ quan quản lý cạnh tranh phải có cơ chế và biện pháp giám sát
và đánh giá tính chất hạn chế cạnh tranh của những hành vi này.
4. Điều chỉnh hành vi của hiêp̣ hô ̣i trong pháp luâ ̣t ca ̣nh tranh của một số nước và Viêṭ
Nam
Luâ ̣t ca ̣nh tranh /chố ng đô ̣c quyề n áp du ̣ng cho tấ t cả những cá nhân và pháp nhân tham
gia vào các hoa ̣t đô ̣ng kinh tế , thương ma ̣i. Do đó, các quy định của luật cạnh tranh nhìn chung áp
dụng không chỉ đối với các chủ thể quan hệ kinh doanh
, thương ma ̣i , bao gồ m các loại hình
doanh nghiê ̣p mà còn đối với tổ chức của các loa ̣i hiǹ h doanh nghiê ̣p này là các hiê ̣p hô ̣i thương
mại, hiê ̣p hô ̣i nghề nghiê ̣p . Trên cơ sở nhâ ̣n thức về vai trò và khả năng của các hiê ̣p hô ̣i trong
viê ̣c hình thành và duy trì các thỏ a thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh, pháp luật cạnh tranh của nhiều nước
có quy định về phạm vi áp dụng đối với các hiệp hội , trong đó xác đinh
̣ quyế t đinh
̣ của các hiê ̣p
hô ̣i đươ ̣c xem là mô ̣t da ̣ng thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh.
Nhìn chung, luâ ̣t ca ̣nh tranh các nước nêu rõ viê ̣c áp du ̣ng đố i với các quyế t đinh
̣ của hiê ̣p
hô ̣i. Chẳ ng ha ̣n như Điề u 101 Hiê ̣p ước về hoa ̣t đô ̣ng của Liên minh Châu Âu
(Treaty on the
Functioning of the European Union – TFEU) quy đinh
̣ các quyế t đinh
̣ của hiê ̣p h ội doanh nghiệp
(decisions by associations of undertakings) sẽ bị cấm nếu như chúng làm phương hại đến thương
mại giữa các quốc gia thành viên và có mục đích hoặc tác động ngăn chặn , hạn chế hoặc làm méo
mó sự cạnh tranh trên thị trường liên minh. Theo quan điể m của Liên minh Châu Âu , các hành vi
của hiệp hội có thể dẫn đến khả năng tạo ra những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng
(hardcore cartels). Về cơ bản , bấ t kỳ hành vi nào của hiê ̣p h ội cũng đều có thể dẫn đến sự hạn
chế ca ̣nh tranh:
Thứ nhấ t , viê ̣c xây dựng và thông qua các quy chế nô ̣i bô ̣ (by-laws) của một hiệp hội có
thể đươ ̣c coi như viê ̣c ta ̣o ra những “thỏa thuâ ̣n”, “hơ ̣p đồ ng” hay là sự “phố i hơ ̣p” giữa các thành
viên của hiê ̣p hô ̣i có khả năng chịu sự điều chỉnh của luật cạnh tranh dưới hình thức thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang (horizontal restraint).20
Thứ hai, các quyết định, đề xuất hoặc những hành vi tương tự của hiê ̣p hô ̣i có thể dẫn đến
sự ha ̣n chế ca ̣nh tranh giữa các thành viên của hiê ̣p hô ̣i với nhau . Theo các phán quyế t của Tòa án
Công lý Châu Âu (ECJ),21 các quyết định của hiê ̣p hô ̣i không nhấ t thiế t phải chiń h thức hoă ̣c có
tính ràng buộc hoặc chúng phải được tuân thủ tuyệt đ ối mới được coi là vi phạm luật cạnh tranh ,
miễn là những quyế t đinh
̣ đó có tác đô ̣ng mô ̣t cách đáng kể đế n ca ̣nh tranh . Các quyết định hoặc
đề xuất cũng không cầ n phải có sự chấ p thuâ ̣n mô ̣t cách rõ ràng của các thành viên , thâ ̣m chí mô ̣t
sự hô hào hưởng ứng cũng có thể coi là vi pha ̣m luâ ̣t ca ̣nh tranh , miễn là nó thể hiê ̣n ý đinh
̣ rằ ng
thành viên này sẽ tuân chủ chúng.22
Ngoài ra, trách nhiệm của các hiệp hội trong trường hợp vi phạm luật cạnh tranh cũng có
sự phân biê ̣t với trách nhiê ̣m riêng rẽ của các thành viên hiê ̣p hô ̣i . Các hiệp hội phải gánh chịu
trách nhiệm trong trường hợp có sự đ ề nghị , dàn xếp , hoă ̣c thực thi mô ̣t hành vi ha ̣n chế ca ̣nh
tranh, tuy nhiên, các hiệp hội không chịu trách nhiệm này nếu như hành vi do các thành viên thực
hiê ̣n mô ̣t cách riêng rẽ mà hiê ̣p hô ̣i không biế t đươ ̣c về hành vi đó , chẳng hạn như trường hợp các
thành viên lợi dụng những cuộc họp của hiệp hội để thực hiện hành vi như ấn định giá hoặc phân
20

Xem Quyế t đinh
̣ của Hô ̣i đồ ng Châu Âu trong vu ̣ National Sulphuric Acid Association, OJ 1980 L260/24; Visa
International-Multilateral Interchange Fee, OJ 2002 L318/17
21
Chẳ ng ha ̣n, Case C-96/82, IAZ international Belgium NV v. Commission, [1983] ECR 3369.
22
Xem Quyế t đinh
̣ của Hô ̣i đồ ng Châu Âu trong vu ̣ Fedetab, OJ 1978 L224/29; về phúc thẩ m vu ̣ Van Landewyck
SARL and Others v. Commission, [1980] ECR 3125; Xem them OECD, tr. 30.

8


chia thi ̣trường , khách hàng mà không có sự tham gia của hiệp hội . Điề u này đươ ̣c làm rõ trong
vụ Lysine Cartel và Citric Cartel . Trong hai vu ̣ này , các thành viên hiệp hội đã lợi dụng các cuộc
họp của hiệp hội để tiến hành ấn định giá và phân chia hạn ngạch (quota) trên toàn cầ u.23
Bên ca ̣nh những hành vi của hiê ̣p hô ̣i c ó thể dẫn đế n bi ̣coi là ha ̣n chế ca ̣nh tranh theo
chiề u ngang, mô ̣t số hành vi của hiê ̣p hô ̣i có thể tạo ra thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều
dọc trong trường hơ ̣p hiê ̣p hô ̣i bao gồ m các thành viên tham gia trong nhiề u lĩnh vực khác nhau
như sản xuấ t , bán lẻ , phân phố i và bán sỉ , hoă ̣c liên quan đế n la ̣m du ̣ng vi ̣trí thố ng liñ h thi ̣
trường, khi hiê ̣p hô ̣i từ chố i mở rô ̣ng các lợi ích của thành viên hiệp hội cho những đố i thủ ca ̣nh
tranh khác trong cùng ngành công nghiê ̣p. Hiê ̣n ta ̣i, các cơ quan cạnh tranh Châu Âu thường quan
tâm đế n những hành vi cấ u thành thỏa thuâ ̣n ha ̣n chế ca ̣nh tranh của hiê ̣p hô ̣i liên quan đế n viê ̣c
trực tiế p hoă ̣c gián tiế p ấ n đinh
̣ giá ; phân chia thị trường và khách hàng ; thông thầ u .24 Những
hành vi khác của hiệp hội cũng dẫn đến sự quan tâm về khả năng tạo ra sự hạn chế cạnh tranh
,
chẳ ng ha ̣n như viê ̣c đă ̣t ra các quy đinh
̣ để trở thành thành viên hoă ̣c ha ̣n chế sự th am gia vào hiê ̣p
hô ̣i nhằ m loa ̣i trừ viê ̣c hưởng những lơ ̣i ích của thành viên hiê ̣p hô ̣i đố i với những đố i thủ ca ̣nh
tranh tiề m tàng ho ặc những đối thủ cạnh tranh non trẻ; việc thu thập và trao đổi thông tin quan
trọng về thị trường được thực hiện một cách không minh bạch và công khai dẫn đến cơ hội cho
những hành vi thông đồng, cấu kết giữa các thành viên; việc đặt ra các tiêu chuẩn và chương
trình chứng nhận có thể được sử dụng nhằm loại bỏ những nhà sản xuất hoặc sản phẩm, dịch vụ
cạnh tranh; cản trở quá trình thương mại hóa đối với các sản phẩm công nghệ chi phí thấp và hiện
đại…25
Điều chỉnh hành vi của hiệp hội bằng luật cạnh tranh cũng được quan tâm ở nhiều nước.
Chẳng hạn, Nhâ ̣t Bản có các điề u khoản cu ̣ thể điề u chin̉ h hoa ̣t đô ṇ g của các hiê ̣p hô ̣i. Chương III
Luâ ̣t về cấ m đô ̣c quyề n tư nhân và đảm bảo thương ma ̣i công bằ ng (the Japanese Act Concerning
Prohibition of Private Monopolisation and Maintenance of Fair Trade) 1947 sửa đổ i năm 2005 có
các điều khoản số 8, 8-2 và 8-3 quy đinh
̣ về các hiê ̣p hô ̣i thương ma ̣i (trade associations). Theo
Điều 8-(2), “hiệp hội thương mại” là bất kỳ sự liên kết hoặc liên minh của hai hoặc nhiều doanh
nghiệp có mục tiêu chính là thúc đẩy các lợi ích chung. Theo đó, Điề u 8 quy đinh
̣ nghiêm cấ m
các hiệp hội thương mại: tham gia vào những hoa ̣t đô ̣ng làm ha ̣n chế đáng kể ca ̣nh tranh trong bấ t
kỳ lĩnh vực thương mại nào ; tham gia vào mô ̣t thỏa thuâ ̣n hoă ̣c hơ ̣p đồ ng quố c tế mà trong đó có
nô ̣i dung đươ ̣ c coi là dẫn đế n ha ̣n chế thương ma ̣i hoă ̣c bao gồ m các hành vi ca ̣nh tranh không
lành mạnh; hạn chế đối với những doanh nghiệp hiê ̣n ta ̣i hoă ̣c trong tương lai ở bấ t kỳ liñ h vực
kinh doanh nào; hạn chế một cách vô lý chức năng và hoạt động của các doanh nghiệp thành viên
hoă ̣c khuyế n khić h các doanh nghiê ̣p thành viên thực hiê ̣n các hành vi ca ̣nh tranh không lành
mạnh.26 Thêm vào đó , Ủy ban Thương mại Công bằng Nhật Bản còn ấn hành các hướng dẫn liên
quan đế n hoa ̣t đô ̣ng của các hiê ̣p hô ̣i thương ma ̣i . Luâ ̣t Chố ng đô ̣c quyề n Nhâ ̣t Bản cấ m mô ̣t số
hành vi cụ thể của hiệp hội ngay cả khi những hành vi đó không cấu thành yếu tố “làm hạn chế
đáng kể sự ca ̣nh tranh (substantial restraint of competition). Ngoài ra , Luâ ̣t còn đưa ra những
điề u kiê ̣n để xem mô ̣t hiê ̣p hô ̣i là “hiê ̣p hô ̣i thương ma ̣i” với mu ̣c đích của luâ ̣t chố ng độc quyề n .
Ở Canada, theo quan điể m của Cu ̣c Ca ̣nh tranh (the Competition Bureau) thì do bản chất
của các hiệp hội , đă ̣c biê ̣t là những hiê ̣p hô ̣i có sự tham gia của những doanh nghiê ̣p ca ̣nh tranh
23

Xem P. E. Areeda, Conspiratorial Opportunity, Unexplained meetings, Furtive Behaviour, and Cover-Ups, in
Antitrust Law – An Analysis of Antitrust Principles and Their Applications, Vol 7, đoa ̣n 1417.
24
OECD, tr. 31-33.
25
Xem R. S. Taffet, „Antitrust and Product Standardization and Certification Activities‟, trong American Bar
Association, Section of Antitrust Law, Antitrust and Trade Associations: How Trade Regulation Laws Apply to
Trade and Professional Associations, 1996, tr. 89.
26
http://www.apeccp.org.tw/doc/Japan/Competition/jpcom1-2009.pdf

9


trên thi ̣trường tạo ra nhiều nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh , các hiệp hội có thể tự
mình hoặc tạo cơ sở cho viê ̣c thực hiê ̣n những hành vi ha ̣n chế ca ̣nh tranh . Theo Luâ ̣t ca ̣nh tranh
Canada 1985, các hiệp hội phải tuân thủ đầ y đủ tấ t cả những quy đinh
luâ ̣t này , mă ̣c dù
̣ của
không có điề u khoản cu ̣ thể nào quy đinh
̣ giải quyế t các v ấn đề liên quan đến hiệp hội . Tuy nhiên
luật có quy định mô ̣t số điề u khoản có liên hê ̣ đế n hoa ̣t đô ̣ng của các hiê ̣p hô ̣i
, bao gồ m điề u
chỉnh đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (chủ yếu là hành vi cấu kết và thông đồn g); ấn
đinh
̣ hoă ̣c duy trì giá ; những hành vi ha ̣n chế thương ma ̣i , lơ ̣i du ̣ng vi ̣trí thố ng liñ h hoă ̣c hành vi
gian dố i. Những hành vi của các hiê ̣p hô ̣i bị cấm bao gồ m: các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh nghiêm tro ̣ng (hardcore cartel) bao gồ m các da ̣ng thỏa thuâ ̣n về ấ n đinh
̣ giá ; thông thầ u, ấn
đinh
̣ quota, chia sẻ hoă ̣c phân chia thi ̣trường khách hàng , lãnh thổ, lĩnh vực kinh doanh ; chia sẻ
thông tin liên quan đế n yế u tố ca ̣nh tranh như về giá , chi phí , sản lượng hoặc doanh số… ; thu
thâ ̣p thông tin về giá cả , thông số thi ̣trường, năng lực và chỉ số đầu ra; các cuộc họp và lịch trình
sinh hoa ̣t thực hiê ̣n mô ̣t cách không chiń h thức và thiế u minh ba ̣ch ; các quy định li ên quan đế n
thành viên hiệp hội như điều kiện trở thành thành viên ; kế t na ̣p và tru ̣c xuấ t thành viên dẫn đế n
hạn chế khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp ; phân biê ̣t đố i xử về lê ̣ phí dẫn đế n viê ̣c thay
đổ i về giá của các thành viên hiệp hội ; hành vi quảng cáo có khả năng làm phương hại đến cạnh
tranh lành ma ̣nh…hoặc các quy tắc nội bộ của hiệp hội dẫn đến sự hạn chế về số lươ ̣ng nhà cung
cấ p, hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp hoă ̣c làm giảm sự ca ̣nh tranh lành mạnh giữa
các doanh nghiệp.
Tại Hàn Quốc , trong những năm 1960s và 1980s, các hiệp hội kinh doanh (business
associations) đươ ̣c thành lâ ̣p với số lươ ̣ng lớn dưới sự bảo trơ ̣ của chính sách định hướng phát
triể n công nghiê ̣p của chính phủ Hàn Quốc, đóng vai trò quan tro ̣ng là cầ u nố i giữa cô ̣ng đồ ng
doanh nghiê ̣p và chính phủ . Các hành vi hạn chế cạnh tranh được điều chỉnh bởi Luật điều chỉnh
sự đô ̣c quyề n và Thương ma ̣i công bằ ng Hàn Quố c (Korea's Monopoly Regulation and Fair Trade
Act 1980, bổ sung gần nhất ngày 31/12/2004 (MRFTA). Luâ ̣t này điề u chỉnh mô ̣t cách toàn diê ̣n
các hành vi hạn chế cạnh tranh của hiệp hội . Điề u 16(1)1 của MRFTA cấm các hiệp hội thực hiện
các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đế n ấ n đinh
̣ giá , điề u kiê ̣n giao dich
̣ , sản
lươ ̣ng, phân chia khu vực hoă ̣c đố i tác thương ma ̣i . Điề u 26(1)3 cấ m các hành vi của hiê ̣p hô ị ha ̣n
chế mô ̣t cách bấ t hơ ̣p lý các vấ n đề kinh doanh hoă ̣c hành vi của các thành viên hiê ̣p hô ̣i lảm suy
giảm cạnh tranh giữa các thành viên với nhau . Điề u 26(1)2 cấ m sự ha ̣n chế về số lươ ̣ng thành
viên tham gia vào hiê ̣p hô ̣i nhằ m ha ̣n chế hoạt động của những doanh nghiệp này trên thị trường.
Ở Hungary, Điều 11 Luật Cạnh tranh 1996, tương tự như Điều 101 Hiệp ước TFEU, áp
dụng cho các quyết định của hiệp hội doanh nghiệp dưới hình thức các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh. Trong trường hợp hiệp hội không tự mình tham gia vào các hoạt động kinh tế hoặc tài
chính, hành vi của hiệp hội cũng có thể bị điều chỉnh bởi luật cạnh tranh nếu các thành viên là
doanh nghiệp và quyết định của hiệp hội đưa ra được xác định là tạo ra sự hạn chế cạnh tranh.
Trong trường hợp này, quyết định hạn chế cạnh tranh nếu như nó nhằm mục đích hoặc có khả
năng thực tế làm hạn chế hoặc loại bỏ cạnh tranh giữa các đối thủ, sự tự do lựa chọn của người
tiêu dùng hoặc trở thành yếu tố quyết định giá cả sẽ bị cấm mà không cần phải một quyết định là
chính thức (formal). Thậm chí việc thể hiện ý chí hoặc mục tiêu một cách không chính thức,
miễn là thể hiện ý định hạn chế cạnh tranh thông qua sự phối hợp hoạt động của các thành viên
vẫn có thể bị xem là một vi phạm luật cạnh tranh mà không cần quan tâm đến kết quả thực tế của
những hành vi đó.27
LCt Việt Nam xác định phạm vi áp dụng đối với hành vi của hiệp hội ngành nghề (Điều
2). Vấn đề này tiếp tục được khẳng định tại Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi
27

OECD, tr. 119.

10


hành một số điều của luật cạnh tranh (Nghị định 116). Tuy nhiên, cả hai văn bản này đều không
có thêm những quy định cụ thể liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh của hiệp hội. Điều này
cho thấy không có sự tách bạch cụ thể nào giữa hành vi của hiệp hội với hành vi của các chủ thể
khác là tổ chức, cá nhân kinh doanh (doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công
ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh
nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam). Chính vì vậy có thể hiểu các quy định về hành vi hạn
chế cạnh tranh, chủ yếu liên quan đến các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định tại Điều 8,
có thể áp dụng tương tự cho hành vi của các hiệp hội.
- Những hành vi này của hiệp hội cũng đồng thời phải gánh chịu những biện pháp chế tài
của luật cạnh tranh (Điều 117 LCT).
Cách quy định hiện nay của LCT cho thấy một số vấn đề đáng quan tâm sau đây:
Thứ nhất, LCT và Nghị định 116 không có quy định cụ thể về thế nào là “thỏa thuận” do
đó dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng khái niệm “thỏa thuận” cho trường hợp của hiệp hội.
Những vấn đề cần phải quan tâm khi xác định có hay không một thỏa thuận như vậy là hình thức
của thỏa thuận, hình thức thể hiện sự đồng thuận của các thành viên đối với thỏa thuận và hiệu
lực pháp lý của các thỏa thuận. Trên thực tế, các thỏa thuận có thể bao gồm thỏa thuận do tất cả
các thành viên hiệp hội đưa ra về một vấn đề nào đó và cũng có thể bao gồm những thỏa thuận
đạt được giữa các thành viên hiệp hội trong khuôn khổ các cuộc họp của hiệp hội cũng như dưới
sự bảo trợ của hiệp hội. Các thỏa thuận đó không nhất thiết phải tồn tại dưới hình thức văn bản
mà có thể là không chính thức, thông qua việc bày tỏ sự tán thành, chủ động thực hiện…
Thứ hai, quy định tại hai văn bản nêu trên đều chỉ giới hạn ở phạm vi thỏa thuận, do đó
không làm rõ được khả năng hạn chế cạnh tranh của các quyết định mà hiệp hội đưa ra như đã
phân tích ở trên. Trong trường hợp này, việc áp dụng LCT là khó khăn trong trường hợp hiệp hội
bao gồm nhiều doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Những quyết định như vậy là là một
dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nếu mục đích của chúng là nhằm định hướng hoặc chỉ đạo
các thành viên hiệp hội ấn định giá cả, phân chia thị trường/khách hàng, chỉ định hoặc thông
thầu…, tạo ra khả năng hạn chế cạnh tranh. Ngoài ra, chúng còn có thể được coi là một dạng
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường theo quy định tại Điều 13 LCT.
Thứ ba, hiện nay hoạt động vận động hành lang chưa được luật hóa, dẫn đến khó khăn
trong việc xác định tính hợp pháp của hoạt động vận động do các hiệp hội tiến hành đối với quá
trình xây dựng và thông qua chính sách và pháp luật của nhà nước cũng như cơ sở pháp lý để xử
lý đối với những hành vi lợi dụng việc vận động hành lang để trục lợi cho hiệp hội hoặc tạo ra
những tác động làm bóp méo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Hiện nay, vai trò của hiệp hội
trong việc xây dựng, thảo luận các dự án luật và chính sách là rất quan trọng, vì các hiệp hội hoạt
động trong những lĩnh vực chuyên môn, đại diện cho lợi ích của các doanh nghiệp thành viên.
Trong trường hợp đó, hoạt động đóng góp xây dựng dự thảo có tác động đến chính sách và pháp
luật trong tương lai và về lâu dài.
Thứ tư, hiện chưa có các tiêu chuẩn và cơ chế cụ thể giúp đánh giá tác động của hành vi
do hiệp hội thực hiện đối với cạnh tranh. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi lẽ các hành vi của
hiệp hội ngoài khả năng đem lại hiệu ứng tiêu cực còn có thể có tác dụng tạo ra hiệu ứng tích cực
đối với cạnh tranh. Vấn đề này cũng làm cho các cơ quan cạnh tranh phải xử lý nhiều khối lượng
công việc hơn để đưa ra đánh giá chính xác hiệu ứng của các hành vi của hiệp hội đối với cạnh
tranh.
Thứ năm, cơ quan quản lý cạnh tranh hiện nay hiện còn gặp nhiều hạn chế về nhân lực và
khả năng chuyên môn cộng với việc phải đảm nhiệm những công việc khác ngoài lĩnh vực cạnh
tranh như chống bán phá giá, phòng vệ thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bên
11


cạnh đó, sự phụ thuộc về tổ chức và nhân sự với Bộ Công thương đã làm hạn chế tính độc lập và
sức mạnh của cơ quan này trong việc điều tra, xác định và xử lý đối với những hành vi hạn chế
cạnh tranh của hiệp hội, nhất là khi ở Việt Nam, các hiệp hội thường được lãnh đạo bởi các
doanh nghiệp nhà nước lớn mạnh có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc bảo trợ từ phía cơ quan
quản lý chuyên ngành.
Đây là những vấn đề đáng quan tâm và cần được nghiên cứu, bổ sung không chỉ đối với
Luật Cạnh tranh 2004 mà còn đối với các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Kết luận
Nhìn chung, hoạt động của hiệp hội bao hàm cả yếu tố tích cực lẫn tiêu cực. Mô ̣t trong
những vai trò chiń h của các hiê ̣p hô ̣i là nhằ m mu ̣c vu ̣ cho những mu ̣c tiêu hơ ̣p pháp ,28 những hoạt
động của hiệp hội như viê ̣c chuẩ n bi ̣ các nghiên cứu, thuyế t phu ̣c chiń h phủ nhằ m thu hút sự quan
tâm đố i với lơ ̣i ích riêng của ngành mình ; xây dựng và phát triể n các hướng dẫn nhằ m tiêu chuẩ n
hóa sản phẩm; cung cấ p các thông tin thi ̣trường cầ n thiế t nhằ m giú p các doanh nghiê ̣p trong hiê ̣p
hô ̣i có những quyế t đinh
̣ đầ u tư đúng đắ n ; phổ biế n các thông tin liên quan đế n thực tiễn hoa ̣t
đô ̣ng của hiê ̣p hô ̣i… có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, do
tính chất là tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp đồng thời là những đối thủ cạnh tranh trên thị
trường, hoạt động của hiệp hội có thể tạo ra những tác động tiêu cực đối với cạnh tranh. Chính vì
vậy, hoạt động của hiệp hội cần phải được giám sát và điều chỉnh ở góc độ pháp luật cạnh tranh.
Để làm được điều đó, pháp luật cạnh tranh nói riêng và pháp luật nói chung cần có định nghĩa cụ
thể về hiệp hội, luật hóa các vấn đề về tổ chức và hoạt động cũng như có những quy định chặt
chẽ về hành vi liên quan đến cạnh tranh của hiệp hội cùng với cơ quan quản lý cạnh tranh mạnh
và có thực quyền. Bên cạnh đó, Luật cạnh tranh hiện hành cần bổ sung các quy định để điều
chỉnh hành vi của Hiệp hội như: tổ chức, lôi kéo doanh nghiệp thuộc hiệp hội mình tham gia và
giám sát việc thực hiện các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp này, ban hành các nghị quyết, quyết
định nội bộ liên quan đến giá cả và sản lượng… Ngoài ra cần bổ sung chế tài xử lý đối với các vi
phạm của hiệp hội liên quan đến các quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm cảnh báo,
răn đe cũng như khuyến khích các hiệp hội tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cạnh tranh.
Đây chính là một trong những nội dung quan trọng nhằm hướng đến việc tạo lập và duy trì môi
trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh ở Việt Nam hiện nay.

28

OECD, A Framework for the Design and Implementation of Competition Law and Policy (WB and OECD, 2004)
35.

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×