Tải bản đầy đủ

TỰ DO hóa THƯƠNG mại TRONG ASEAN

TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG ASEAN
1. Các biện pháp thực hiện tự do hóa thương mại trong ASEAN (AEC)
Trong khuôn khổ ASEAN, trên cơ sở các công cụ pháp lý được hình thành
xuyên suốt tiến trình tự do hóa thuơng mại hàng hóa ở khu vực , các biện pháp
thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN có thể được chia thành
hai nhóm biện pháp lớn, đó là: nhóm các biện pháp dỡ bỏ các rào cản thương
mại và nhóm các biện pháp thuận lợi hóa thương mại hàng hóa. Theo đó, tự do
hóa thương mại hàng hóa được thực hiện thông qua việc cắt giảm, xóa bỏ các
rào cản thuế quan; xóa bỏ các rào cản phi thuế quan; thiết lập quy tắc xuất xứ;
tiến hành các biện pháp thuận lợi hóa thương mại; hợp tác hải quan và hài hòa,
nhất thể hóa hàng rào tiêu chuẩn và kỹ thuật trong thương mại. cụ thể như sau:
1.1. Dỡ bỏ các rào cản thương mại
Dỡ bỏ các rào cản thương mại Thuế quan và các biện pháp phi thuế quan là các
rào cản chính trong thương mại quốc tế. Trong đó, rào cản thuế quan là loại rào cản phổ
biến nhất và mang tính chất truyền thống. Thuế quan được hiểu là loại thuế đánh vào
hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan
khác, được xác định và phân loại trên cơ sở các mức thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập
khẩu và xuất khẩu Định nghĩa thuế quan trong phạm vi Cộng đồng kinh tế ASEAN
(AEC) được quy định chi tiết tại Điều 2, Khoản 1, Điểm c Hiệp định thương mại hàng
hóa ASEAN (2009).
Hiện nay, do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn với tiến trình tự do

hóa thương mại nên có xu hướng dần được cắt giảm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn với lộ trình
xác định. Thuế quan là biện pháp bảo hộ cụ thể và mang tính định lượng rõ ràng nhất, do
đó việc nhượng bộ trong đàm phán nhằm hạn chế thuế quan thường dễ dàng hơn so với
thương lượng xóa bỏ các hình thức bảo hộ thương mại khác. Trong phạm vi Cộng đồng
kinh tế ASEAN ( AEC ) tự do hóa thuế quan được thực hiện trên cơ sở hai văn kiện pháp
lý quan trọng là Hiệp định CEPT và Hiệp định ATIGA.
Rào cản phi thuế quan được định nghĩa là: Các biện pháp ngoài biện pháp thuế
quan cấm hoặc hạn chế xuất nhập khẩu hàng hóa trong một quốc gia thành viên. Điều 2,
khoản 1, điểm k Hiệp định ATIGA. Như vậy, không phải tất cả các biện pháp phi thuế
quan (không phải thuế quan) đều là các rào cản thuế quan cần được xóa bỏ. Rào cản phi
thuế quan chỉ bao gồm một số các biện pháp phi thuế quan gây cản trở thương mại quốc
tế mà không dựa trên cơ sở khoa học, bình đẳng hoặc được đặt ra quá mức cần thiết và vi
phạm nguyên tắc đối với quốc gia. Rào cản phi thuế quan chủ yếu bao gồm hai bộ phận
cơ bản, đó là: rào cản pháp lý (ví dụ: Các biện pháp cấm, hạn ngạch về số lượng hoặc giá
trị được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định; giấy phép xuất nhập
khẩu) hoặc các rào cản kỹ thuật (ví dụ: các tiêu chuẩn kỹ thuật trong thương mại như quy
tắc xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh…). Việc nới lỏng các rào cản phi thuế quan có thể được
thực hiện theo hai cách phổ biến Một là, chuyển từ việc áp dụng các biện pháp phi thuế
quan sang áp dụng thuế quan ở mức bảo hộ tương đương. Hai là, xóa bỏ các biện pháp
phi thuế quan mà không sử dụng thuế quan như công cụ bảo hộ mậu dịch thay thế. .

I.


Trong phạm vi Cộng đồng kinh tế ASEAN, Hiệp định CEPT và ATIGA đều quy định việc
dỡ bỏ chung đối với các hạn chế về số lượng. Các biện pháp phi thuế quan khác khi được
xác định là rào cản thương mại cũng được yêu cầu đưa vào chương trình xóa bỏ của quốc
gia thành viên. Việc xóa bỏ dần các rào cản phi thuế quan mặc dù rất phức tạp và khó
khăn nhưng lại là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của tiến trình tự do hóa thương
mại hàng hóa.
1.2. Các biện pháp thuận lợi hóa thương mại hàng hóa
Thuận lợi hóa thương mại hàng hóa bao gồm các biện pháp, chính sách và chương
trình nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, nhất quán và minh bạch và có thể dự doán
được đối với trao đổi thương mại hàng hóa giữa các quốc gia thành viên, bao gồm các
biện pháp liên quan đến thủ tục hải quan; các biện pháp hài hòa, nhất thể hóa hàng rào
tiêu chuẩn và kỹ thuật trong thương mại… Các biện pháp này tuy không tác động rõ nét,
nhanh chóng tới tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa như các biện pháp dỡ bỏ rào
cản thương mại nhưng thuận lợi hóa thương mại hàng hóa vẫn là một trong các nội dung
quan trọng tạo điều kiện cho luồng hàng hóa di chuyển thuận lợi giữa các quốc gia
ASEAN và hoàn thành AFTA, tức là xây dựng thành công thị trường hàng hóa đơn nhất


giữa các quốc gia ASEAN.
2. Tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN từ PTA đến AFTA
và AEC
Ở thập kỷ 70, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (giảm bớt các hàng
rào bảo hộ công nghiệp) mang lại những kết quả khả quan bước đầu, tăng tỷ lệ buôn bán
nội bộ ngành giữa các nước thành viên ASEAN góp phần tăng trưởng kinh tế đã thu hút
sự quan tâm của các quốc gia đối với việc thúc đẩy trao đổi buôn bán ở khu vực. Nhận
thức được lợi ích của tự do hóa thương mại trong hợp tác kinh tế, các nước ASEAN đã
cùng nhau tiến hành các hoạt động tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ
Chương trình ưu đãi thuế quan (PTA). PTA được thành lập năm 1977 theo Hiệp định về
các thỏa thuận ưu đãi thương mại đã đặt nền tảng pháp lý quan trọng cho những chính
sách thương mại tự do thông thoáng và hợp lý sau này, khởi động tiến trình tự do hóa
thương mại hàng hóa của ASEAN thông qua các cam kết cắt giảm thuế quan đối với một
số mặt hàng cơ bản.
Bước vào những năm 90, đứng trước tác động của xu thế thành lập khu vực
thương mại tự do trên thế giới cùng những ảnh hưởng nội tại khu vực ASEAN như hạn
chế về năng lực cạnh tranh, quá trình công nghiệp hóa khiến quy mô sản xuất và sản
phẩm hàng hóa tăng nhanh…là động lực để các quốc gia nâng cấp tiến trình tự do hóa
thương mại nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các nước thành viên. Khu vực
thương mại tự do ASEAN (AFTA) ra đời năm 1992 trên cơ sở Hiệp định thuế quan ưu
đãi có hiệu lực chung (CEPT) được coi như một động thái tích cực của khu vực trước
tình hình trên khi việc thực hiện PTA tỏ ra chậm chạp, kém hiệu quả (ngay cả khi có
những sửa đổi bổ sung vào cuối thập kỷ 80). Một trong các mục tiêu hàng đầu khi khởi
xướng ý tưởng thành lập AFTA chính là thúc đẩy hơn nữa tự do hóa thương mại, tăng
cường trao đổi buôn bán nội khối thông qua các quy định về loại bỏ các rào cản thuế


quan và phi thuế quan theo một lộ trình đã cam kết. AFTA có thể coi là chương trình hợp
tác kinh tế có ý nghĩa nhất, khả thi sớm nhất và toàn diện nhất ở ASEAN trong giai đoạn
này để đáp ứng những yêu cầu phát triển của khu vực và thế giới.
Nét mới nổi bật trong hợp tác kinh tế nói chung, tự do hóa thương mại nói riêng
trong khuôn khổ ASEAN ở những năm tiếp theo được đánh dấu bằng sự ra đời của khái
niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) trong Tuyên bố Bali II năm 2003. AEC được xây
dựng dựa trên những tiền đề lý luận, thực tiễn cũng như pháp lý vững chắc là cơ sở để
các quốc gia ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế cả về chiều rộng lẫn bề sâu, trong đó bao
gồm cả quyết tâm của các quốc gia hướng tới việc nhất thể hóa thị trường và cơ sở sản
xuất của các nền kinh tế thành viên thông qua tự do hóa các yếu tố sản xuất (như hàng
hóa, dịch vụ, đầu tư…). Tính đến thời điểm năm 2003, các nước ASEAN–6 gần như đã
hoàn thành AFTA. Trong khi đó, ASEAN-4 cũng đã xác định được lộ trình giảm thuế
trong khuôn khổ AFTA và đang từng bước được đưa vào thực hiện. Do đó, AEC – cấp độ
liên kết khu vực cao hơn chính là sự phát triển khách quan của hợp tác kinh tế cũng như
tự do hóa thương mại hàng hóa trong khu vực.
3. CÔNG CỤ PHÁP LÝ THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG
HÓA TRONG AEC
3.1. Các văn kiện pháp lý đa phương
Cộng đồng kinh tế ASEAN là liên kết kinh tế của ASEAN, hình thành trên cơ sở
một hệ thống thể chế và thiết chế pháp lý, nhằm xây dựng ASEAN trở thành một thị
trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính cạnh tranh cao, phát triển đồng đều giữa các
nền kinh tế thành viên và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu. Tự do hóa thương
mại hàng hóa là một trong năm yếu tố cốt lõi đề hoàn thành mục tiêu nhất thể hóa thị
trường và cơ sở sản xuất của các nền kinh tế thành viên, do đó hoạt động tự do hóa
TMHH giữa các quốc gia thành viên không thể tách rời các văn kiện có ý nghĩa nền tảng
cho việc xây dựng AEC. Đồng thời, các hoạt động đó cũng được triển khai trên cơ sở các
thiết chế pháp lý cơ bản của AEC có trách nhiệm quản lý, điều hành, tư vấn trong lĩnh
vực tự do hóa thương mại ở khu vực. Cụ thể, các văn kiện pháp lý đa phương có ý nghĩa
xây dựng hàng lang pháp lý cơ bản cho hoạt động tự do hóa TMHH trong khuôn khổ
ASEAN phải kể đến: Hiệp định về các thỏa thuận ưu đãi thương mại (PTA); Hiệp định
khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN 1992; Hiệp định về chương trình ưu đãi
thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA 1992 cùng 13 nghị định thư bổ sung và sửa đổi;
Hiệp định khung về hội nhập các ngành ưu tiên APIS 2004. Đáng quan tâm nhất hiện nay
đó chính là Hiệp định về thương mại hàng hóa ASEAN: ATIGA – văn kiện toàn diện nhất
trong khu vực điều chỉnh các lĩnh vực hợp tác về thương mại hàng hóa. Sự ra đời của các
văn kiện kể trên tạo lên các ràng buộc pháp lý đối với các quốc gia thành viên về phương
thức thực hiện tự do hóa TMHH cũng như các cam kết về lộ trình chung. Bên cạnh đó,
thông qua hoạt động của các thiết chế pháp lý cơ bản trong AEC như Hội nghị cấp cao,
Hội đồng điều phối, Hội đồng AEC cùng Hội đồng khu vực thương mại tự do ASEAN
(Hội đồng AFTA) các hoạt động bổ trợ cho việc đảm bảo thi hành, chấp hành nội dung


trong các văn kiện pháp lý đa phương về tự do hóa TMHH được tăng cường, qua đó tạo
điều kiện để các nội dung pháp lý có mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóa đạt được hiệu quả
trên thực tiễn.
3.2. Các cam kết đơn phương của quốc gia thành viên
Quá trình tự do hóa thương mại có thể được thực hiện thông qua các chương trình
với các cấp độ và phạm vi khác nhau. Bên cạnh các Hiệp định đa biên về thương mại
hàng hóa thể hiện mức độ tiến hành ở cấp độ khu vực và đa phương, hoạt động tự do hóa
thương mại cũng có thể được thực hiện một cách đơn phương thông qua cam kết của các
quốc gia thành viên khi tham gia vào tiến trình tự do hóa TMHH chung của khu vực. Tự
do hóa thương mại đơn phương là việc các nước đơn phương loại bỏ các rào cản nhập
khẩu, xuất khẩu hay trợ cấp…mà không đòi hỏi các đối tác có hành động tương tự đáp
lại. Tự do hóa thương mại đơn phương có thể mang tới những lợi ích đáng kể mà không
cần phải đàm phán với các nước khác. Lợi ích đạt được rất lớn nhưng lợi ích từ gia nhập
thị trường là hạn chế bởi vì các nước khác không mở cửa thị trường của họ. Ngoài ra việc
tăng đáng kể nhập khẩu (mặc dù ngưòi tiêu dùng có thể cho đây là một lợi thế), giảm
nguồn thu thuế và mất đi khả năng thương lượng là những lí do khiến các cam kết đơn
phương ít được các quốc gia thành viên ASEAN sử dụng trong thúc đẩy luồng di chuyển
hàng hóa giữa các quốc gia trong AEC
3.3. Các vòng đàm phán
Một công cụ pháp lý khác nhằm thực hiện việc dỡ bỏ các rào cản thương mại phải
kể đến đó chính là các vòng đàm phán của các nước ASEAN trong lĩnh vực thương mại
tự do. Nếu như đối với tiến trình tự do hòa thương mại dịch vụ của AEC, các vòng đàm
phán mang tới những gói cam kết quan trọng đối với tự do hóa dịch vụ ở khu vực như:
Kết quả của vòng đàm phán thứ 5, ASEAN hoàn thành gói cam kết thứ 7 bao trùm hơn
65 phân ngành dịch vụ và đã ký nghị định thư thực hiện gói cam kết thứ 8. Gói cam kết
dịch vụ lần thứ 8 đưa ra lịch trình tự do hóa đối với 15 phân ngành mới…thì công cụ
pháp lý này không chiếm vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hóa hàng hóa ở
ASEAN. Các cuộc đàm phán nội khối đã diễn ra giữa các quốc gia ASEAN liên quan đến
tự do hóa TMHH chỉ chủ yếu giúp cho việc hình thành AFTA mà không đặt ra các cam
kết mới là bởi đối với các rào cản dịch vụ vốn đa dạng, khó định lượng thì các vòng đàm
phán là cơ hội để các quốc gia chia sẻ quan điểm về tự do hóa dịch vụ và đi tới thống
nhất phương thức dỡ bỏ rào cản thông qua gói cam kết còn đối với các rào cản đối với tự
do hóa TMHH chủ yếu dễ định lượng thì các cam kết đa phương trong các Hiệp định đa
biên là đủ để cắt giảm, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn rào cản đó.
4. PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG
HÓA TRONG AEC
Để những cam kết đơn phương cũng như các thỏa thuận thống nhất trong các văn
kiện pháp lý đa phương về thương mại tự do giữa các quốc gia ASEAN được triển khai
hiệu quả trên thực tế đòi hỏi những cam kết này phải được quy định chặt chẽ về lộ trình
cùng các kênh triển khai xác định. Hay nói cách khác, nếu các công cụ pháp lý là cơ sở
để hình thành các nội dung pháp lý về tự do hóa thương mại hàng hóa trong khu vực thì


phương thức thực hiện hoạt động chỉ ra phương pháp (cách thức) và hình thức tiến hành
hoạt động đó. Và như vậy, phương thức thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa trong
AEC có thể được hiểu là tập hợp các cách thức và hình thức gỡ bỏ các rào cản thương
mại hàng hóa giữa các nước thành viên và thực hiện các hoạt động thuận lợi hóa TMHH.
Những vấn đề này được ghi nhận cụ thể, chi tiết trong các công cụ pháp lý mà trong đó
Hiệp định ATIGA, với tính chất kế thừa và bổ sung toàn diện các vấn đề pháp lý về tự do
hóa TMHH là “xương sống” cho việc xác định.
Đối với hoạt động cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan, các quốc gia ASEAN thống
nhất trong ATIGA thực hiện theo cơ chế phân chia các loại hàng hóa thành 08 danh mục
cắt giảm thuế quan khác nhau (thay vì 4 danh mục như trong Hiệp định CEPT) với các lộ
trình cắt giảm, xóa bỏ thuế quan chi tiết, linh hoạt hơn ATIGA quy định rõ số dòng thuế
được lùi thời hạn xóa bỏ thuế quan đến năm 2018 với nhóm bốn nước Campuchia, Lào,
Myanmar, Việt Nam (CLMV), đồng thời, cho phép tạm ngừng hoặc điều chỉnh cam kết
thực hiện nghĩa vụ cắt giảm, xóa bỏ thuế quan giữa các nước trong khối ASEAN. so với
Hiệp định CEPT (Điều 19) nhằm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn thuế quan (mức thuế 0%) đối
với tất cả các sản phẩm Trừ các sản phẩm thuộc diện loại trừ hoàn toàn theo Danh mục H
(Điều 19, Khoản 2, Điểm h Hiệp định ATIGA) trong quan hệ nội khối vào năm 2010 đối
với ASEAN 6 và vào năm 2015, linh hoạt tới năm 2018 với CLMV. Trên cơ sở tuân thủ
lộ trình chung được vạch sẵn, mỗi quốc gia thành viên sẽ xây dựng lộ trình cắt giảm thuế
quan chi tiết của mình phù hợp. Các quốc gia thành viên cũng có quyền lựa chọn kênh cắt
giảm thuế nhanh hoặc kênh cắt giảm thông thường. Xét một cách tổng quát, hình thức
tiến hành hoạt động tự do hóa TMHH trong AEC được quy định tương đối linh hoạt và
mở, thể hiện ưu đãi đối với quốc gia kém phát triển hơn trong khu vực như: kéo dài thời
gian thực hiện lộ trình, được hỗ trợ nhiều hơn về kỹ thuật, giảm bớt một số nghĩa vụ…Ví
dụ: các quốc gia CLMV được thực hiện CEPT chậm hơn so với lộ trình chung theo
nguyên tắc –X. Cơ chế mềm dẻo nhưng rất cụ thể và rõ ràng đã tạo nên hiệu quả đáng kể
trong việc thực hiện tự do hóa TMHH của ASEAN khi chương trình CEPT đã được rút
ngắn xuống 10 năm so với ban đầu cùng rất nhiều những thành quả khác không chỉ trong
khối ASEAN 6 mà còn đối với cả nhóm nước CLMV.
Ngoài ra, cách thức thực hiện cắt giảm/xóa bỏ thuế quan của AEC cũng tương đối
đơn giản, hàng hóa căn cứ theo mức thuế suất hiện tại sẽ được cắt giảm dần từng bước
giữa nhóm các danh mục hàng hóa khác nhau để đạt mức thuế xuất xác định (0– 5% đối
với CEPT và ATIGA là 0%). VD: Các loại hàng hóa trong TEL sẽ bắt đầu cắt giảm chậm
hơn so với IL 3 năm và kể từ một thời điểm xác định, 20% các mặt hàng từ TEL sẽ được
chuyển dần xuống IL mỗi năm và đến hết thời hạn chuyển (5 năm) thì IL bao trùm TEL
và TEL không còn tồn tại nữa (Theo CEPT). Đối với các rào cản phi thuế quan, phương
thức thực hiện hoạt động này cũng được CEPT, ATIGA quy định tương đối uyển chuyển
với các bước tiến hành cụ thể, ưu tiên các quốc gia CLMV được kéo dài lộ trình xóa bỏ
các rào cản phi thuế quan trong danh sách đã được xác định (thông qua việc Hội đồng
AFTA chấp thuận bảng tự kê khai xóa bỏ của quốc gia thành viên hoặc Ủy ban điều phối
thực hiện ATIGA rà soát và xác định). Về thuận lợi hóa thượng mại hàng hóa: ASEAN đã


tách biệt hẳn thuận lợi hóa TMHH độc lập với xóa bỏ rào cản thương mại nhằm nhấn
mạnh cũng như khẳng định tầm quan trọng của phương thức này trong tự do hóa TMHH.
ASEAN dành một chương riêng biệt trong ATIGA quy định về cách thức thuận lợi hóa
thương mại với những nguyên tắc rõ ràng, cụ thể tại chương 5 của Hiệp định. Ngoài ra
ATIGA còn đòi hỏi mỗi quốc gia Thành viên phải thành lập một Ủy ban điều phối thuận
lợi hóa thương mại hoặc điểm hỏi đáp ở cấp quốc gia, cho thấy nỗ lực của ASEAN trong
việc thực hiện phương thức này.
Theo đánh giá chủ quan, phương thức tách biệt này là khá mềm dẻo phù hợp và
có khả năng đem lại hiệu quả cao. Như vậy, với đặc trưng là số lượng thành viên tương
đối ít so với các liên kết kinh tế khác trên thế giới và trình độ phát triển có sự chênh lệch
giữa các quốc gia thành viên, phương thức thực hiện tự do hóa TMHH của AEC không
chỉ mang tính chất chung chung, tổng quát ở cấp độ khu vực mà là sự hướng dẫn cụ thể
với mục tiêu rõ ràng và thời hạn cần thiết ở từng quốc gia phù hợp với trình độ phát triển
kinh tế của nước đó. Điều này đã giúp cho các quốc gia kém phát triển lựa chọn được
hướng đi đúng cho mình, tạo điều kiện phát triển kinh tế và tiến tới dần xóa bỏ khoảng
cách phát triển. Ngoài ra, lợi thế về sự ra đời muộn của AEC cũng cho phép AEC kế thừa
những ưu điểm về phương thức tự do hóa thương mại của các tổ chức, các liên kết kinh tế
có quy mô lớn và thời gian hoạt động dài như WTO, EU…Đó cũng là lí do giải thích cho
nhiều điểm tương đồng giữa AEC với WTO hay EU
II.
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI THỊ
TRƯỜNG DỊCH VỤ ASEAN
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của sản xuất, hoạt động thương
mại của ASEAN thể hiện ở các nhu cầu giao thương, loại hình sản phẩm, dịch vụ, nguyên
tắc, chuẩn mực giao dịch... cũng có sự phát triển ngày càng cao, minh bạch, toàn diện,
hướng đến sự phát triển bền vững.
Tác động của tự do hóa thương mại đối với thị trường dịch vụ của ASEAN
được minh chứng cụ thể là sự chuyển đổi lên mức độ rộng hơn, cao hơn trong các thỏa
thuận thương mại tự do, mà hiện nay được gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Một là, thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư, cạnh tranh, nâng cao
tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (IPR), môi trường và tiêu chuẩn lao động. Các
FTA thế hệ mới được triển khai sẽ thúc đẩy mạnh hơn tiến trình tự do hóa. Trên thực tế,
bản thân các quốc gia không tự cắt giảm thuế, xóa bỏ các rào cản, mà chỉ có thông qua
đàm phán, thiết lập các FTA mới, mở ra các cơ hội để thúc đẩy tự do hóa, góp phần vào
quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia thành viên FTA.
Khi phân tích về tác động của FTA đối với thương mại và kinh tế, các chuyên gia
chỉ ra hai dạng tác động: tác động tĩnh và tác động động. Tác động tĩnh là tác động diễn
ra với bất cứ thành viên nào khi tham gia ký FTA, còn tác động động là tác động có thể
xảy ra hoặc không xảy ra trong mỗi FTA cũng như đối với mỗi thành viên FTA.


Tác động tĩnh của FTA có thể là tác động tạo thương mại hoặc tác động làm
chuyển hướng thương mại. Khi ký các FTA, các thành viên được hưởng ưu đãi, trong đó
có việc cắt giảm hoặc xóa bỏ các hàng rào thuế quan. Với việc này, xuất hiện tình trạng
có hàng hóa thông qua nhập khẩu sẽ rẻ hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước do có
chi phí cao hơn.
Điều này thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu nội khối và cũng vì vậy thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu thương mại của các nước thành viên FTA.
Đối với các FTA thế hệ mới, mức cắt giảm thuế rất sâu trên nhiều hàng hóa và dịch vụ
nên tác động tạo thương mại càng mạnh, cũng có nghĩa cơ hội đặt ra nhiều đi liền với
thách thức trong quá trình cơ cấu lại, nâng cao sức cạnh tranh.
Cùng với tác động tạo thương mại, việc ký các FTA sẽ tác động làm chuyển
hướng thương mại. Trong quan hệ giữa các nước khi chưa tham gia FTA, hàng hóa luân
chuyển giữa các quốc gia thường theo hướng: đối với các hàng hóa có chất lượng tương
ứng mà chí phí sản xuất thấp sẽ có cơ hội xuất khẩu sang nước khác.
Về tác động động của việc ký kết, triển khai các FTA cũng được các quốc gia
thành viên kỳ vọng. Tác động này đến từ việc mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và
đầu tư. Do được hưởng các ưu đãi và xóa bỏ các rào cản thuế nên, về nguyên tắc, các
thành viên FTA được hưởng lợi từ sự gia tăng quy mô thị trường, cũng có nghĩa nhu cầu
và tính đa dạng thị trường tăng lên, mở ra các cơ hội với nhà sản xuất.
Tất nhiên, đi liền với mở rộng thị trường là sự gia tăng cạnh tranh trong sản xuất
và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Cạnh tranh được coi là động lực phát triển và đó cũng là
tác động lớn nhất của FTA. Tham gia FTA đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong
các quốc gia thành viên không còn nhận được sự bảo hộ từ các công cụ chính sách
thương mại của nhà nước. Họ sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn từ các sản
phẩm của các nước thành viên FTA.
Tác động đáng lưu ý nữa của FTA là thúc đẩy sự lưu chuyển của các dòng vốn
đầu tư. Do các cam kết bảo đảm lợi ích cao, và cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư
trong FTA thế hệ mới và nhiều dịch vụ hỗ trợ đi kèm cùng các thị trường đầu tư mới xuất
hiện, nên dòng vốn đầu tư lưu chuyển mạnh hơn. Điều này mở ra cơ hội với các nền kinh
tế thành viên FTA, song cũng làm cho cạnh tranh đầu tư ngày càng quyết liệt.
Điều đáng chú ý, các tác động trên với các quốc gia thành viên còn tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể mỗi quốc gia. Song những tác động đó sẽ làm cho quá trình tự do hóa
thương mại được tăng cường. Bởi lẽ, dù việc ký các FTA có dẫn đến thực tế tồn tại sự
phân biệt giữa các quốc gia thành viên và không phải thành viên, thì hiển nhiên là quá
trình tự do hóa thương mại đang được đẩy mạnh trong các khối FTA, và chính việc ký kết
nhiều các FTA tạo hiệu ứng kích thích cho tiến trình đàm phán tự do hóa thương mại đa
phương.
Hai là, đi liền với thúc đẩy mạnh mẽ hội nhập và liên kết kinh tế, các FTA thế hệ
mới còn có tác động quan trọng góp phần nâng cao chuẩn mực tự do hóa thương mại.


Tác động chung của các FTA như trên đã phân tích là thúc đẩy thương mại, trong bối
cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu qua kênh đa phương đang gặp khó khăn. Các FTA
thế hệ mới với các yêu cầu cao hơn và rộng hơn đối với thương mại hàng hóa, dịch vụ...
đã nâng cao và chặt chẽ hơn trong tiêu chuẩn tham gia hội nhập.
Chúng ta biết rằng, với tác động của quá trình toàn cầu hóa, một thị trường lao
động mang tính toàn cầu đã và đang hình thành. Trong quá trình hoạt động, các doanh
nghiệp, các quốc gia phải tính đến thị trường lao động toàn cầu, mà ở đó có chuẩn mực,
các tiêu chuẩn chung về sử dụng lao động.
Bên cạnh đó, quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm
trọng, buộc các quốc gia, cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển phải cùng
nỗ lực đối phó, thích ứng và giảm thiểu tác động, nói cách khác trong quá trình tổ chức
sản xuất phải tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững đã được Liên
hợp quốc thông qua.
Tuy nhiên, trong các FTA trước đây, những tiêu chuẩn này ít được quan tâm, thậm
chí không được đề cập. Trong các FTA thế hệ mới, các nội dung này được quan tâm, trở
thành các chuẩn mực thương mại mới buộc các quốc gia phải đàm phán, chấp thuận khi
trở thành thành viên của các FTA thế hệ mới.
Ngày nay, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi
trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm trong thương
mại quốc tế, nên trước hết họ phải được bảo đảm các quyền, lợi ích và các điều kiện lao
động cơ bản. Đây là cách tiếp cận của các FTA thế hệ mới và đang trở thành một xu thế
trong những năm gần đây trên thế giới.
Việc đưa nội dung về lao động vào các FTA còn nhằm bảo đảm môi trường cạnh
tranh công bằng giữa các bên trong quan hệ thương mại. Nếu một nước duy trì tiêu chuẩn
lao động thấp, tiền lương và các điều kiện lao động không được xác lập trên cơ sở thương
lượng, thì được cho là sẽ có chi phí sản xuất thấp hơn so với nước thực hiện những tiêu
chuẩn lao động cao, dẫn tới cạnh tranh không bình đẳng.
Hơn nữa, việc nêu ra yêu cầu về phát triển bền vững, buộc các quốc gia phải nâng
cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất không chỉ nhìn ở lợi nhuận là sự gia tăng
về giá trị, mà còn ở sự bảo vệ và tái tạo môi trường sống. Và để làm được các điều đó,
buộc các quốc gia phải thể chế hóa để bảo đảm thực hiện các tiêu chuẩn lao động và môi
trường. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các quốc gia đi sau trong tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×