Tải bản đầy đủ

Taking stock an update on vietnams recent economic developments

Public Disclosure Authorized
Public Disclosure Authorized
Public Disclosure Authorized
Public Disclosure Authorized

79780

ÀIÏÍM LAÅI
CÊÅP NHÊÅT TÒNH HÒNH
PHAÁ T TRIÏÍ N KINH TÏË
VIÏÅT NAM
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới
Hà Nội, tháng 7, 2013


ĐIỂM LẠI

CẬP NHẬT TÌNH HÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới

Hà Nội, tháng 7, 2013

Báo cáo này do Deepak Mishra và Đinh Tuấn Việt soạn thảo với sự đóng góp của James Anderson,
Reena Badiani, Đoàn Hồng Quang, Sameer Goyal, Phạm Minh Đức, Habib Rab, Gregory Smith và
Triệu Quốc Việt, dưới sự chỉ đạo chung của Victoria Kwakwa và Sudhir Shetty. Vũ Thị Anh Linh hỗ
trợ về công tác biên soạn và xuất bản.


TỪ VIẾT TẮT

TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI CHÍNH THỨC: US$ = VND 21.036
Năm tài khóa của Chính phủ: 1/1 đến 31/12
CDS
CIT
CPI
DNVVN
DNNN
EAP
ECB
EU
FDI
GDP
GI
IIP
IMF
IPO
KH PTKT-XH
M&A
MDG
NHNNVN
NHTG
NPL
ODA
PMI
QE
TCTK
VAT
VAMC
VHLSS
WTO



Hợp đồng Hoán đổi Rủi ro Tín dụng
Thuế Thu nhập Doanh nghiệp
Chỉ số Giá Tiêu dùng
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp Nhà nước
Đông Á và Thái Bình Dương
Ngân hàng Trung ương Châu Âu
Liên minh Châu Âu
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài
Tổng Sản phẩm Quốc nội
Thanh tra Chính phủ
Chỉ số Sản xuất Công nghiệp
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Chào bán Cổ phiếu lần đầu
Kế hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội
Mua lại và Sát nhập
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Thế giới
Nợ xấu
Hỗ trợ Phát triển Chính thức
Chỉ số Quản lý Mua hàng
Nới lỏng Định lượng
Tổng cục Thống kê
Thuế Giá trị Gia tăng
Công ty Quản lý Tài sản của các tô chức Tín dụng Việt Nam
Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình Việt Nam
Tổ chức Thương mại Thế giới


MỤC LỤC

PHẦN I: MÔI TRƯỜNG KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ KHU VỰC

5

A. Tăng trưởng Toàn cầu đang được Củng cố
B.
Đã có những Cải thiện Đáng kể về Điều kiện của Thị trường Tài chính
C.Áp lực Lạm phát Toàn cầu vẫn ở mức nhẹ, có thể khiến các Quốc gia nới lỏng Chính

Sách Tiền tệ
D. Thương mại vẫn còn nhiều Biến động, mặc dù Giá cả Hàng hóa đang Giảm
E.
Triển vọng tăng trưởng trong Trung hạn
F.
Rủi ro đối với Triển vọng Phát triển

5
6
7
9
10
12

PHẦN II: NHỮNG THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂN GẦN ĐÂY

15

A. Các Điều kiện Kinh tế Vĩ mô Tiếp tục có Cải thiện, nhưng Tăng trưởng Kinh tế còn chậm
15
B.
Khu vực Sản xuất: Có hay Không việc chậm Tăng trưởng?
17
C.
Kết quả Hoạt động của Khu vực Ngoại thương tiếp tục gây ấn tượng
21
D. Lạm phát đã ổn định, nhưng vẫn còn đó các lo ngại về lạm phát trong tương lai
27
E.
Hiệu quả của Chính sách Tiền tệ bị hạn chế bởi những Vấn đề của Lĩnh vực Ngân hàng
28
F.
Chính sách và Tình hình Tài khóa
29
G. Triển vọng gần
33

PHẦN III: CẬP NHẬT VỀ CHƯƠNG TRÌNH TÁI CẤU TRÚC
35
A.
B.

Cập nhật về Tiến độ Tái Cấu trúc Khu vực Ngân hàng
Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước

35
39



01

PHẦN I: MÔI TRƯỜNG KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ KHU VỰC

A.

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TOÀN CẦU ĐANG ĐƯỢC CỦNG CỐ

1.
Nền kinh tế toàn cầu có vẻ như đang quá độ sang một giai đoạn tăng trưởng ổn định hơn mặc dù
tốc độ tăng trưởng còn khiêm tốn. Mức tăng trưởng GDP toàn cầu giảm vào giữa năm 2012 nhưng hiện nay
đang trên đà phục hồi và theo dự kiến thì GDP hàng quý sẽ tăng một cách khiêm tốn trong năm 2013 (biểu đồ
trái, hình 1). Ở Mỹ, GDP đã tăng 2,4% trong quý đầu năm 2013, đồng thời hỗ trợ cho xu hướng này là sự phục
hồi của thị trường nhà ở, việc làm tăng, nhu cầu đầu tư mạnh, đặc biệt là các đơn đặt hàng đối với hàng tiêu
dùng lâu bền. Ở Nhật, việc nới lỏng một cách đáng kể chính sách kinh tế vĩ mô đã khiến cho GDP tăng mạnh
trong ngắn hạn, với mức tăng trong quý I năm 2013 quy đổi sang mức tăng bình quân năm là 4,1%. Tuy nhiên
ở Khu vực đồng Euro, tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm do thiếu niềm tin cũng như do quá trình tái cấu trúc khu
vực ngân hàng và tái cấu trúc tài khóa vẫn đang tiếp tục, với GDP giảm 0,8% trong quý đầu năm.
2.
Ở các nước đang phát triển, tăng trưởng vẫn vững chắc nhưng có một số dấu hiệu giảm tốc độ.
Hầu hết các nước đang phát triển đã gần như hoàn toàn phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008 và đang có nhịp độ tăng trưởng đúng với tiềm năng của mình. Tuy nhiên trong vài tháng đầu năm 2013,
tốc độ tăng trưởng ở các nước đang phát triển có vẻ như đã chậm lại, đặc biệt ở Đông Á, với tốc độ tăng trưởng
của Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a giảm và Ma-lai-xi-a và Thái Lan chuyển sang mức tăng trưởng âm. Các khu vực
khác có dấu hiệu tăng trưởng mang tính hỗn hợp. Ở Chi-lê, Ấn Độ, Mê-hi-cô và Nam Phi, tốc độ tăng trưởng đã
giảm nhưng ở Phi-líp-pin, Thổ Nhĩ Kỳ và U-crai-na, tốc độ tăng trưởng đã và đang tăng lên.
3.
Hơn 4 năm sau khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu, sản lượng công nghiệp toàn cầu chỉ
tăng 5,3% so với mức đỉnh điểm của giai đoạn tiền khủng hoảng. Sản lượng công nghiệp ở các nước có
thu nhập cao vẫn giảm 6,5% so với mức của giai đoạn tiền khủng hoảng, trong đó sản lượng của Khu vực đồng
Euro và Nhật Bản thấp hơn rất nhiều, còn sản lượng ở Mỹ thì gần như đã lấy lại được mức của giai đoạn tiền
khủng hoảng. Tăng trưởng công nghiệp ở các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương là
năng động nhất, chủ yếu phản ánh mức tăng trưởng hai con số ở Trung Quốc, với sản lượng công nghiệp tăng
67,9% so với mức đỉnh điểm của giai đoạn tiền khủng hoảng, còn ở các nước khác trong khu vực thì mức tăng
là 12%. Sản lượng công nghiệp ở Nam Á tăng 19,6% và ở Châu Âu và Trung Á thì tăng 2% so với mức đỉnh điểm
của giai đoạn tiền khủng hoảng.

5


Hình 1: Mặc dù tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang ổn định trở lại nhưng
tốc độ phục hồi sản xuất công nghiệp còn chưa đồng đều
Sản xuất công nghiệp từ sau cuộc khủng hoảng
(Chỉ số = 100)

Tăng trưởng GDP hàng quý, quy đổi sang mức tăng
bình quân năm(%)

9
8

170

7

Các nước đang phát triển

6

167.9

Nam Á

150

5
4

Đông Á
(trừ Trung Quốc)

130

119.6

Bình quân thế giới

3
2

100

-0
90

Các nước có thu nhập cao

1
2010Q1

2011Q1

2012Q1

2013Q1

Toàn cầu

112.0

110

1

Trung quốc

105.3
102.0
93.5

Mức đỉnh điểm
2013 (mới nhất)
trước khủng hoảng

Châu Âu và
Trung Á
Các nước có
thu nhập cao

Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013; Các Xu hướng đang Phát triển: Tháng 6 năm 2013.

B.ĐÃ CÓ NHỮNG CẢI THIỆN ĐÁNG KỂ VỀ ĐIỀU KIỆN CỦA THỊ TRƯỜNG
TÀI CHÍNH
4.
Mặc dù các điều kiện của thị trường tài chính toàn cầu đang tiếp tục được cải thiện nhưng việc
rút dần quy mô của chính sách nới lỏng định lượng ở các nền kinh tế phát triển đang bắt đầu gây lo ngại
cho các nhà đầu tư. Có thể thấy được sự cải thiện về điều kiện tài chính thông qua mức lợi suất thấp hơn đối
với các khoản nợ dài hạn, mức sinh lời cao hơn trên thị trường chứng khoán, và tổng dòng vốn đổ vào các nước
đang phát triển cao ở mức gần kỷ lục. Điều này phản ánh biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ đặc biệt được
đưa ra bởi Ngân hàng Dự trữ Liên bang của Mỹ, Ngân hàng Anh quốc, ECB, và gần đây nhất là Ngân hàng Nhật
Bản, bởi biện pháp này đã làm cho các thị trường vốn trên toàn cầu tràn ngập thanh khoản. Đồng thời, một tín
hiệu nhỏ nhất của việc rút dần quy mô của chương trình kích cầu của Mỹ cũng đã tạo nên sự hoảng loạn ở rất
nhiều thị trường mới nổi vào tháng 6 năm 2013, phản ánh một cách rõ rệt bản chất dễ biến động của các thị
trường vốn trên toàn cầu.
5.
Tổng dòng vốn đổ vào các nước đang phát triển rất mạnh. Trong 5 tháng đầu năm 2013, tổng dòng
vốn (gồm phát hành trái phiếu quốc tế, các khoản cho vay hợp vốn ngân hàng xuyên biên giới và đầu tư vốn
góp) đổ vào các nước đang phát triển đã tăng thêm 63% mỗi năm và đạt 306 tỷ USD - mức cao nhất từ trước tới
nay (biểu đồ trái, hình 2). Dòng vốn trái phiếu quốc tế đổ vào các nước đang phát triển đặc biệt là mạnh, đạt
mức kỷ lục là 158 tỉ USD trong 5 tháng đầu năm, với mức phát hành trái phiếu hàng tháng đạt mức kỷ lục 45
tỉ USD vào tháng tư. Tổng mức cho vay hợp vốn cho các nước đang phát triển đạt 91 tỉ USD trong 5 tháng đầu
năm 2013, tăng 69% so với cách đây một năm. Đồng thời dòng vốn góp cũng đã và đang tăng một cách vững
chắc – thông qua chào bán cổ phiếu lần đầu (IPO) và phát hành cổ phiếu bổ sung – do hoạt động phát hành
cổ phiếu bổ sung mạnh từ Đông Á, Châu Âu và Trung Á, và Mỹ La-tinh cũng như do hoạt động IPO đã phục hồi
từ mức thấp của năm ngoái.
6.
Mặc dù dòng vốn tăng lên nhưng chi phí vốn cũng đang tăng, phản ánh mức rủi ro đã giảm ở
các nước có thu nhập cao. Lãi suất và lợi suất của các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS) của các nước
đang phát triển đã và đang tăng lên (biểu đồ phải, hình 2), mặc dù mức xếp hạng tín dụng của các nước này đã
cải thiện và mặc dù các nhà đầu tư đang rất chuộng trái phiếu của các nước đang phát triển. Trong 5 năm vừa
qua, một phần nguyên nhân dẫn tới mức bù rủi ro ở các nước đang phát triển giảm là do mức rủi ro nợ của các

6


Hình 2: Dòng vốn đổ vào các nước đang phát triển tăng, nhưng chi phí vốn cũng
đang bắt đầu tăng lên

70
60
50

Tổng dòng vốn đổ vào các nước đang phát triển,
tính bằng tỉ USD
Phát hành cổ phần mới
Các khoản vay
Ngân hàng

Phát hành trái phiếu

40
30
20
10
0
M-09 S-09 M-10 S-10 M-11 S-11 M-12 S-12 M-13

8

Lợi suất và chênh lệch lãi suất của trái phiếu
quốc gia với kỳ hạn 10 năm, tính bằng điểm cơ bản

7
Lợi suất dự báo của các nước đang phát triển

6
5
4

Chênh lệch lãi suất

3
2
1

Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm

0
J-11

D-11

J-12

D-12

J-13

Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013; Các Xu hướng Đang Phát triển: Tháng 6 năm 2013.

nước có thu nhập cao tăng lên. Đến nay khi những rủi ro đó đang giảm dần thì các nhà đầu tư lại quay lại đầu
tư nhiều hơn vào các tài sản ở các nước có thu nhập cao, dẫn tới tăng lợi suất và chênh lệch lãi suất ở các nước
đang phát triển và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán ở các nước có thu nhập cao được cải thiện
hơn. Những diễn biến này cũng có thể phản ánh mối quan ngại của các nhà đầu tư về tình trạng lạm phát giá
cả tài sản ở một số nước đang phát triển (như là Bra-xin, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ) và
tình trạng giá cả hàng hóa giảm trong giai đoạn gần đây.

C.ÁP LỰC LẠM PHÁT TOÀN CẦU VẪN Ở MỨC NHẸ, CÓ THỂ KHIẾN CÁC
QUỐC GIA NỚI LỎNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
7.
Ở hầu hết các nước, áp lực lạm phát toàn cầu vẫn còn ở mức tương đối nhẹ. Lạm phát ở các nước
có thu nhập cao vẫn duy trì ở mức thấp và vẫn ở trong vùng mức kiểm soát của các ngân hàng trung ương, có
lẽ là trừ Vương quốc Anh. Áp lực lạm phát ở Trung Quốc có vẻ như đã giảm nhẹ đôi chút nhưng ở In-đô-nê-xi-a
và CHDCND Lào thì có vẻ đang gia tăng sau nhiều năm tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng và thực hiện chính
sách kinh tế vĩ mô mang tính thích ứng, và lạm phát lõi ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao. Ở Trung Đông và Bắc
Phi, giá cả cao vừa phản ánh những nỗ lực làm giảm gánh nặng tài khóa của việc trợ giá thông qua biện pháp
tăng giá một số mặt hàng được điều tiết giá, vừa phản ánh tình trạng ngắt quãng cung ứng do xung đột dân
sự và xung đột có vũ trang. Ở Nam Á cũng như ở Việt Nam, việc tăng giá cả các mặt hàng được điều tiết giá
bằng biện pháp hành chính cũng đã có vai trò nhất định, do điều kiện thị trường thắt chặt mặc dù tốc độ tăng
trưởng tương đối chậm.
8.
Chính sách tiền tệ ở các nước đang phát triển tiếp tục được nới lỏng, bao gồm các nước An-bani, A-déc-bai-dan, Bê-la-rút, Cô-lôm-bi-a, Giooc-gia, Ấn Độ, Kê-ni-a, Mông Cổ, Mê-hi-cô, Xri-lan-ka, Thái Lan,
Thổ Nhĩ Kỳ, U-gan-đa, và Việt Nam. Chỉ có 5 nước đang phát triển (gồm Bra-xin, Cộng hòa Ai Cập, Găm-bi-a,
Gha-na, và Tuy-ni-di) là đã tăng mức lãi suất vào năm 2013; Xéc-bi-a tăng mức lãi suất nhưng sau đó lại giảm.
Mặc dù áp lực lạm phát toàn cầu vẫn còn ở mức nhẹ do độ trễ thời gian trong quá trình truyền tải chính sách
tiền tệ, việc nới lỏng như vậy có thể đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đang diễn ra, dẫn tới áp lực lạm phát bổ
sung ở các nước đang hoạt động ở mức gần đạt công suất tối đa mà không có sự đền đáp tương xứng về sản
lượng tăng thêm.

7


Hộp 1: Nới lỏng tiền tệ của Nhật Bản và hàm ý cho các nước đang phát triển

Vào tháng 11 năm 2012, Ngân hàng Nhật Bản (BoJ) đã phát đi tín hiệu sẽ thực hiện các biện pháp nới
Vào tháng 11 năm 2012, Ngân hàng Nhật Bản (BoJ) đã phát đi tín hiệu sẽ thực hiện các biện pháp nới
lỏng tiền tệ nhằm chống giảm phát. Ngân hàng Nhật Bản đã công bố các biện pháp nới lỏng định
lượng và nới lỏng định tính vào ngày 4 tháng 4 năm nay. Trong các biện pháp này có biện pháp mua
trái phiếu Chính phủ Nhật Bản hàng tháng với khối lượng trị giá 7,5 tỉ Yên Nhật (tương đương 75 tỉ
USD) nhằm tăng gấp đôi nguồn tiền trong thời gian 2 năm. BoJ cũng sẽ tăng kỳ hạn trung bình của các
trái phiếu mà Ngân hàng này mua từ 3 năm lên đến 7 năm. Quan trọng hơn nữa là, BoJ công bố rằng
sẽ tiếp tục thực hiện biện pháp này “chừng nào vẫn còn cần thiết”. Chương trình nới lỏng định lượng
(QE) của BoJ nhìn chung là tương đồng với chương trình QE3 của Mỹ.
Mặc dù đối tượng hưởng lợi trực tiếp của chương trình là các tài sản trong nước nhưng hiệu ứng lan
tỏa của chương trình này đối với các thị trường vốn quốc tế là không thể tránh khỏi, đặc biệt là vì thị
trường trái phiếu của Nhật tương đối nhỏ - chỉ bằng 22% thị trường trái phiếu và 8% thị trường cổ
phiếu của Mỹ. Phần lớn dòng vốn này có khả năng sẽ đổ vào các nước có thu nhập cao, mặc dù các
nhà đầu tư Nhật Bản đã và đang tích cực đầu tư vào trái phiếu bằng đồng nội tệ và vào các thị trường
cổ phiếu ở một số nước đang phát triển (xem bảng). Theo Hiệp hội Tín thác Đầu tư của Nhật, danh mục
đầu tư của Nhật vào một số loại chứng khoán nợ nội địa đã tăng ở Mê-hi-cô (thêm 34%), Thổ Nhĩ Kỳ
(28%) và Thái Lan (17%) trong hai tháng đầu năm 2013, và mức tăng ít rõ rệt hơn ở Phi-líp-pin (5,9%)
và Nam Phi (4,4%).
Chương trình nới lỏng định lượng của Nhật cũng có thể làm tăng đầu tư trực tiếp thông qua việc làm
giảm chi phí vốn cho các công ty đa quốc gia của Nhật. Việc dòng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ra nước
ngoài tăng trong những năm gần đây đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Thái Lan và Việt Nam,
chiếm tỉ lệ 40% tổng FDI ở Thái Lan và 55% ở Việt Nam vào năm 2012.
Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản theo địa chỉ đầu tư năm 2011 (tính bằng tỉ USD)
FDI
Tổng

935

Đầu tư theo Danh mục (PI)

Tổng dòng vốn
từ Nhật Bản

Tổng

PI: Cổ phần

PI: Nợ

3.279

647

2632

4.214

Các nước phát triển

742

3.203

619

2.585

3.945

Các nước đang phát triển

193

76

28

47

269

CHND Trung Hoa

73,5

10,3

9,8

0,5

84

30

28,1

5,6

22,4

58

Bra-xin
Thái Lan

31

2,3

1,5

0,9

33

In-đô-nê-xi-a

13,9

5,8

3,3

2,6

20

Ấn Độ

13,6

5

3,4

1,6

19

Ma-lai-xi-a

9,9

4,3

1,6

2,7

14

Mê-hi-cô

2,6

11,6

0,5

11,1

14

Phi-líp-pin

9

2,7

0,3

2,5

12

Việt Nam

5,6

0,1

0,1

0

6

Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013; Các Xu hướng Đang Phát triển: Tháng 6 năm 2013.

8


D.THƯƠNG MẠI VẪN CÒN NHIỀU BIẾN ĐỘNG, MẶC DÙ GIÁ CẢ HÀNG
HÓA ĐANG GIẢM
9.
Sau khi thương mại toàn cầu phục hồi theo chu kỳ, tốc độ mở rộng thương mại lại bắt đầu chậm
lại. Sau giai đoạn đình trệ vào Quý 2 năm 2012, thương mại toàn cầu đã bắt đầu quá trình phục hồi theo chu kỳ
vào Quý 3 nhờ tăng nhập khẩu ở các nước đang phát triển, dẫn tới tăng xuất khẩu từ các nước có thu nhập cao
cũng như từ các nước đang phát triển (biểu đồ trái, hình 3). Thương mại Nam-Nam tiếp tục tăng trưởng nhanh
chóng trong giai đoạn này (hộp 2). Tuy nhiên, phản ánh tình trạng mong manh của sự phục hồi kinh tế toàn
cầu, tốc độ mở rộng thương mại đã chậm lại trong những tháng gần đây. Thực ra, trong 3 tháng của năm 2013,
tốc độ mở rộng thương mại toàn cầu đã giảm xuống còn 0,8% - mức thấp hơn so với xu hướng thông thường,
trong khi đó vào tháng 3 thì con số này là 10,9%.
10.
Giá cả hàng hóa đã giảm theo mức công suất mới và theo xu hướng tiêu dùng đang thay đổi.
Mặc dù nền kinh tế toàn cầu đã được củng cố nhưng giá cả của hầu hết các mặt hàng công nghiệp và nông
nghiệp đều đã và đang giảm (biểu đồ phải, hình 3). Mặc dù còn quá sớm để khẳng định chắc chắn nhưng có vẻ
như nguyên nhân dẫn tới tình trạng giá cả giảm sút là do tăng cung cũng như do phía cầu tăng cường sử dụng
các mặt hàng thay thế do giá cả trong vài năm qua ở mức cao. Theo kỳ vọng, giá cả sẽ sẽ tiếp tục giảm trong
trung hạn. Ngân hàng Thế giới dự báo rằng giá một thùng dầu sẽ giảm xuống còn 102 USD vào năm 2013 và
còn 101 USD vào năm 2015, phản ánh một giả định kỹ thuật rằng giá dầu sẽ giảm từ từ trong giai đoạn từ nay
đến năm 2015 xuống một mức phù hợp với chi phí sản xuất một thùng dầu từ cát dầu sử dụng công nghệ hiện
có. Theo dự kiến, giá kim loại năm 2013 sẽ giảm khoảng 3,7% và năm 2014 sẽ giảm 1,4%, tính theo giá trị thực
tế, phản ánh tình trạng tăng cung và giảm dần hàm lượng kim loại trong tăng trưởng ở các nước đang phát
triển (đặc biệt là Trung Quốc). Theo dự báo, giá lương thực cũng sẽ giảm (7,7%; 6,0%, và 5,5% trong giai đoạn
2013-2015), phản ánh sự cải thiện dần điều kiện cung ứng và giảm giá thành sản xuất do giá năng lượng và
phân bón giảm.

Hình 3: Thương mại đã trải qua giai đoạn phục hồi và giảm tốc độ tăng trưởng theo chu kỳ,
còn giá cả hàng hóa thì giảm đều đặn
35
30

Khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu,
tăng trưởng �nh theo %, 3m/3m saar

25

Xuất khẩu của các nước
có thu nhập cao khác

20

240
230

Nhập khẩu của các
nước đang phát triển

Chỉ số giá cả tính bằng tính bằng USD,
tháng 1, năm 2005=100

220
Năng lượng

210

15

Các mặt hàng nông nghiệp

200

10

190

5

180

0

170

-5
-10

160

Xuất khẩu khu vực đồng Euro

-15
Jan '11

Jul '11

Jan '12

Jul '12

Kim loại và khoáng sản

150
Jan '13

Jan '11

Jul '11

Jan '12

Jul '12

Jan '13

Nguồn: Triền vọng kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013; Các Xu hướng đang Phát triền: Tháng 6 năm 2013.

Tăng trưởng trung bình năm 2000-2001, %
25

Tất cả các nước
đang phát triển

Các nước đang phát triển
(trừ Trung Quốc)
Trung bình (trừ Trung Quốc)

Nhập khẩu của các nước thu
nhập cao
Trung bình xuất khẩu sang
các nước thu nhập cao

9


Jan '11

Jul '11

Jan '12

Jul '12

Jan '13

Jan '11

Jul '11

Jan '12

Jul '12

Jan '13

Nguồn: Triền vọng kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013; Các Xu hướng đang Phát triền: Tháng 6 năm 2013.

Hộp 2: Thương mại Nam-Nam tăng trưởng nhanh hơn so với thương mại Nam-Bắc
Box 2: South-South Trade Grows Faster than South-North Trade By A Wide Margin
với một mức chênh lệch lớn

Châu Phi
vùng cận Sahara

Nam Á

Trung Đông
và Bắc Phi

Mỹ La-tinh và
Ca-ri-be

Châu Âu
và Trung Á

Đông Á và
Thái Bình Dương

Hơn một nửa kim ngạch thương
Tăng trưởng trung bình năm 2000-2001, %
mại của các nước đang phát triển
Tất cả các nước
Các nước đang phát triển
Nhập khẩu của các nước thu
25
là với các nước đang phát triển
đang phát triển
(trừ Trung Quốc)
nhập cao
Trung bình xuất khẩu sang
Trung bình (trừ Trung Quốc)
khác, và đã tăng từ mức 37% năm
các nước thu nhập cao
Trung bình tất cả các nước đang phát triển
20
2001. Trung Quốc có vai trò lớn
trong quá trình chuyển đổi này,
15
với 26% tổng lượng hàng hóa xuất
khẩu từ tất cả các nước đang phát
10
triển hiện đang xuất sang Trung
Quốc, tăng từ mức 14% vào năm
2001. Nhưng kể cả khi đã loại trừ
5
kim ngạch thương mại của Trung
Quốc với các nước đang phát triển
0
khác thì tăng trưởng thương mại
giữa các nước đang phát triển
cũng vẫn cao hơn so với tăng
trưởng thương mại giữa các nước
đang phát triển với các nước có
thu nhập cao, với một mức chênh lệch lớn trong thập kỷ vừa qua (xem hình bên cạnh). Giá trị thương
mại giữa các nước đang phát triển tính bằng USD đã tăng bình quân 19,3%/năm trong thập kỷ vừa qua
(nếu loại trừ kim ngạch thương mại với Trung Quốc thì mức tăng này sẽ là 17,5%); trong khi đó tăng
trưởng thương mại giữa các nước đang phát triển với các nước có thu nhập cao là 11%. Một điều thú vị
là, tốc độ mở rộng thương mại nhanh chóng giữa các nước đang phát triển với nhau không chỉ phản ánh
thương mại hàng hóa, trong đó giá trị xuất khẩu các mặt hàng chế tác của các nước đang phát triển tăng
với tốc độ tương đương với tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa.
Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013

E.

TRIỂN VỌNG TĂNG TRƯỞNG TRONG TRUNG HẠN

11.
Nền kinh tế toàn cầu hiện đang dần phục hồi trở lại, mặc dù tốc độ phục hồi vẫn còn chưa chắc
chắn và chưa đồng đều. GDP toàn cầu được dự báo là sẽ tăng 2,2% trong năm 2013, thấp hơn năm 2012 một
chút. Theo dự kiến, quá trình phục hồi sẽ tiếp tục được củng cố, với nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng ở mức
3,0% vào năm 2014 và 3,3% vào năm 2015 (biểu đồ trái, hình 4). Tuy nhiên, triển vọng của từng nước và khu
vực sẽ rất khác nhau (biểu đồ phải, hình 4). Dưới đây là phần vắn tắt về triển vọng kinh tế của một số nước
phát triển và đang phát triển.

10


Hình 4: Tăng trưởng toàn cầu sẽ ít biến động hơn, nhưng triển vọng của các khu vực sẽ khác nhau
Tăng trưởng GDP hàng năm, tính bằng %
Các nước đang phát triển
6.2

4.0

Thế giới
3.3
3.0

Các nước thu nhập cao

2.9

1

1.7

0
2010

2011

2.2

2014

2015

2.2
2.0

1.3

1.2

2012

2013

2014

2.3

2015

Châu Phi
vùng cận Sahara

2.8

3
2

5.1

2013

Nam Á

4

4.8

2012

Trung Đông
và Bắc Phi

5

5.7

Mỹ La-tinh và
Ca-ri-be

6

5.6

Châu Âu
và Trung Á

7.6

7

Đông Á và
Thái Bình Dương

8

Tăng trưởng GDP hàng năm, tính bằng %

8
7
6
5
4
3
2
1
0

Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013; Các Xu hướng đang Phát triển: Tháng 6 năm 2013.

12.
Ở Mỹ, sự phục hồi của khu vực tư nhân có vẻ tương đối mạnh như được phản ánh qua sự cải thiện
trong thị trường lao động (tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 7,6%) và qua sự phục hồi của thị trường nhà ở.
Các nhà hoạch định chính sách đã nới rộng mức trần vay nợ cũng như mức trần ủy nhiệm chi để áp dụng cho
một thời gian tương đối dài trong tương lai, từ đó giảm bớt khả năng xảy ra tình trạng phải đối mặt với mức
trần vay nợ và mối đe dọa của tình trạng mất khả năng trả nợ. Về mặt tiêu cực, mức tăng thuế được thống nhất
hồi đầu năm cũng như biện pháp cắt giảm chi tiêu tự động sẽ là yếu tố kìm hãm tăng trưởng trong những quý
tới, bù trừ một phần tăng trưởng có được nhờ quá trình phục hồi của khu vực tư nhân. Nhìn chung, tăng trưởng
GDP trong năm được dự báo là sẽ giảm đôi chút so với năm 2012, xuống còn khoảng 2,0% vào năm 2013 trước
khi tăng lên mức 2,8% vào năm 2014 và 3,0% vào năm 2015.
13.
Nền kinh tế của Khu vực đồng Euro vẫn còn yếu mặc dù các điều kiện tài chính đã cải thiện và
đã có một số dấu hiệu được củng cố. Chi phí cấp vốn ở các quốc gia vùng lõi Khu vực đồng Euro đã giảm và
tín dụng đã bắt đầu tăng trở lại. Xuất khẩu, nhập khẩu và sản xuất công nghiệp đều đã chuyển sang giai đoạn
tăng trưởng dương (mặc dù còn khiêm tốn). Tuy nhiên, chi phí vay nợ ở các nền kinh tế có chênh lệch lãi suất
cao vẫn còn ở mức rất cao; tỉ lệ thất nghiệp ở các nền kinh tế ngoại vi đang ở mức cực kỳ cao; và tăng trưởng
yếu ớt hiện đang làm ảnh hưởng tới những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực tài khóa. GDP của Khu vực đồng
Euro được dự báo là sẽ giảm 0,6% vào năm 2013, với mức tăng trưởng bình quân năm tăng lên 0,9% vào năm
2014 và đạt 1,5% vào năm 2015.
14.
Sức mạnh của nền kinh tế Nhật Bản phản ánh tác động của chương trình nới lỏng định lượng
quy mô lớn, kích cầu tài khóa và cải cách về mặt cơ cấu. Các biện pháp về mặt cơ cấu mà Nhật đã công bố
bao gồm việc ngưng điều tiết lĩnh vực nông nghiệp và điện, nới lỏng các quy định trong chăm sóc y tế, áp
dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng chính sách thuế (áp dụng cho cả FDI); một số cải cách về quản
trị doanh nghiệp; và nới lỏng một phần những giới hạn về đầu tư đối với các quỹ lương hưu. Theo dự báo, tăng
trưởng kinh tế của Nhật sẽ đạt 1,4% trong năm nay và năm 2014 và đạt 1,3% vào năm 2015.
15.
Triển vọng của các nước đang phát triển sẽ rất khác nhau, phản ánh những điều kiện kinh tế và
chính sách trong nước. Nhìn chung, theo dự kiến, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển sẽ tương
đối vững chắc trong những năm tới, với GDP tăng trưởng 5,1% vào năm 2013 và tăng dần dần tới mức 5,6%
vào năm 2014 và 5,7% vào năm 2015. Tuy nhiên, đây là câu chuyện ở cấp độ tổng gộp, và không phản ánh được
sự khác nhau đáng kể giữa các khu vực và các nước đang phát triển riêng lẻ. Ít nhất có thể xác định ra 4 nhóm
nước đang phát triển ở 4 cấp độ:

11






 ột vài nước ở Đông Á, châu Phi vùng cận Sahara và một vài nước ở Mỹ La-tinh đang tăng
M
trưởng nhanh chóng và đã gần đạt hoặc đã tăng trưởng vượt mức tiềm năng, và do đó đang có
rủi ro tăng trưởng quá nóng.

Một vài nước lớn với thu nhập trung bình, như là Bra-xin, Ấn Độ, Nga, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và
Việt Nam đã và đang gặp khó khăn trong việc lấy lại tốc độ tăng trưởng của giai đoạn tiền khủng
hoảng mặc dù đã có những chương trình kích cầu đáng kể.
Một số nước đang phải giải quyết vấn đề tỉ lệ thất nghiệp cao và tình trạng ì trệ của nền kinh tế
do tác động khắc nghiệt của suy thoái kinh tế thời kỳ hậu khủng hoảng (gồm các nước đang
phát triển ở châu Âu) hoặc do bất ổn xã hội hoặc bất ổn về chính trị (Trung Đông và Bắc Phi).
Đa số các nước đang phát triển đang có tăng trưởng tốt, đã hoặc đang khép lại khoảng cách
chênh lệch giữa GDP thực tế và GDP tiềm năng.

F.

RỦI RO ĐỐI VỚI TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN

16.
Mặc dù rủi ro xảy ra một cuộc khủng hoảng lớn ở châu Âu đã lắng xuống nhưng một loạt những
rủi ro mới đang nổi lên:
 V
 iệc rút dần gói nới lỏng định lượng ở Mỹ. Việc rút dần gói nới lỏng định lượng ở Mỹ và các nước
có thu nhập cao khác sẽ có khả năng khiến cho lãi suất ở các nước đang phát triển tăng lên. Mức
lãi suất cao hơn có thể sẽ khiến các nước này phải thực hiện các điều chỉnh khó khăn và có thể
là có khủng hoảng trong nước, đặc biệt ở những nước mà mức nợ của khu vực công và khu vực
tư nhân đang có xu hướng tăng.
 M
 ức giảm giá cả hàng hóa nhanh hơn dự kiến. Trong năm vừa qua, giá năng lượng và kim loại
đã giảm theo những thay đổi về cung ứng và theo mức độ chuyển đổi sang các mặt hàng thay
thế ở phía cầu do giá cả quá cao (giá kim loại và năng lượng giảm 30% và tiếp đến là giảm 14%
kể từ giai đoạn đỉnh điểm hồi đầu năm 2011). Nếu giá cả hàng hóa tiếp tục giảm nhanh hơn
dự kiến theo hướng đạt điểm cân bằng trong dài hạn, các nước đang phát triển xuất khẩu hàng
hóa có thể sẽ bị thâm hụt tài khóa nghiêm trọng và tăng trưởng GDP sẽ yếu đi, mặc dù các nước
đang phát triển nhập khẩu hàng hóa sẽ được lợi.
 T
 ác động của việc nới lỏng một cách triệt để chính sách tài khóa và tiền tệ ở Nhật Bản. Mức
giảm giá thực tế 21% của đồng Yên trong giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 4 có thể ảnh hưởng
không tốt tới xuất khẩu của các nước đang phát triển sang Nhật Bản cũng như ảnh hưởng tới
các thị trường thứ ba, nơi mà hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển cạnh tranh với
hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản. Tuy nhiên, một số nước đang phát triển (đặc biệt là ở Đông Á)
có thể lại được lợi từ sự sụt giá (thực tế) của đồng Yên và được lợi do nhu cầu đối với hàng xuất
khẩu của Nhật Bản tăng cao và do thu hút được dòng FDI lớn hơn do các nước này cung ứng
phụ tùng và linh kiện cho các mạng lưới sản xuất của Nhật Bản. Cuối cùng, với việc làm gia tăng
mức độ nới lỏng của các điều kiện tiền tệ toàn cầu, chính sách này có thể khiến cho các dòng vốn
tăng mạnh và có khả năng sẽ làm tăng thêm áp lực tăng trưởng nóng, đặc biệt là ở Đông Á.

12


PHỤ LỤC
MÔI TRƯỜNG KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ KHU VỰC
Bảng 1: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu
2011

2012

2013e

2014f

2015f

6,2

2,7

4,0

5,0

5,4

Các nước G-7

5,3

-0,6

-0,1

0,9

1,0

Mỹ

2,4

2,1

2,4

2,5

2,5

Các mặt hàng phi dầu mỏ

20,7

-9,5

-4,7

-1,1

-1,5

Giá dầu mỏ (USD/thùng)

104,0

105,0

102,4

101,0

101,0

0,8

0,5

0,7

1,1

1,4

2,8

2,3

2,2

3,0

3,3

1,7

1,3

1,2

2,0

2,3

Khu vực đồng Euro

1,5

-0,5

-0,6

0,9

1,5

Nhật Bản

-0,5

2,0

1,4

1,4

1,3

Mỹ

1,8

2,2

2,0

2,8

3,0

Các nước đang phát triển

6,0

5,0

5,1

5,6

5,7

Đông Á và Thái Bình Dương

8,3

7,5

7,3

7,6

7,5

Các Điều kiện trên Toàn cầu
Khối lượng Thương mại bình quân của thế
giới (GNFS)
Giá Tiêu dùng

Giá cả hàng hóa (tính bằng USD)

Lãi suất
6 tháng, tính theo USD (%)
Tăng trưởng GDP thực tế
Bình quân của thế giới
Các nước có thu nhập cao

Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013. Ngân hàng Thế giới

Bảng 2: Đông Á và Thái Bình Dương: Dự báo Tăng trưởng GDP

Các nước đang phát triển ở Đông Á

2010

2011

2012

2013/f

2014/f

2015/f

9,6

8,3

7,5

7,3

7,6

7,5

Trung Quốc

10,4

9,3

7,8

7,7

8,0

7,9

In-đô-nê-xi-a

6,2

6,5

6,2

6,2

6,5

6,2

Ma-lai-xi-a

7,2

5,1

5,6

5,1

5,1

5,3

Phi-líp-pin

7,6

3,9

6,6

6,2

6,4

6,4

Thái Lan

7,8

0,1

6,5

5,0

5,0

5,5

Việt Nam

6,4

6,2

5,2

5,3

5,4

5,4

6,9

4,6

6,2

5,7

5,9

6,0

Các nước đang phát triển ở Đông Á và Thái
Bình Dương trừ Trung Quốc

Nguồn: Triển vọng Kinh tế Toàn cầu: Tháng 6 năm 2013. Ngân hàng Thế giới

13


14


02

PHẦN II: NHỮNG THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

A.ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ VẪN TIẾP TỤC ĐƯỢC CẢI THIỆN, NHƯNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÒN CHẬM
17.
Bước vào năm thứ ba ổn định tương đối nền kinh tế, các điều kiện kinh tế vĩ mô của Việt Nam
tiếp tục được cải thiện. Với mức lạm phát vừa phải, tỷ giá hối đoái bình ổn, dự trữ tăng và các rủi ro quốc gia
được giảm thiểu, Việt Nam đang cố gắng kết thúc một chu kỳ bất ổn kinh tế bắt đầu từ năm 2007. Tỷ lệ lạm phát
(so sánh theo cùng kỳ năm trước) đã giảm từ mức đỉnh 23% vào T8/2011 xuống 6,7% trong T6/2013 (biểu đồ
trái, hình 5). Tỷ giá hối đoái chính thức giữ ở mức tương đối ổn định, và trong một động thái phản ứng khi tiền
đồng chịu sức ép gần đây, NHNN VN đã điều chỉnh tỷ giá hối đoái thêm 1% thay vì tiếp tục bảo vệ đồng nội tệ
(biểu đồ trên cùng bên phải, hình 5). Dự trữ ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước tăng hơn hai lần trong vòng hai
năm vừa qua, với số dư dự trữ tương đương 2,8 tháng nhập khẩu tính đến thời điểm cuối Quý I/2013 (biểu đồ
trái, hình 5). Chênh lệch lợi suất trái phiếu Chính phủ và mức hoán đổi rủi ro tín dụng đang xoay quanh mức
thấp nhất kể từ khi bắt đầu khủng hoảng tài chính đến nay (biểu đồ phải, hình 5).
18.
Tuy vậy, nếu không thực thi tái cấu trúc sâu rộng thì ổn định kinh tế không thôi là chưa đủ để
đưa nền kinh tế vượt qua một chu kỳ dài tăng trưởng chậm. Những năm gần đây, Nhà nước đã nỗ lực hoạch
định chính sách để ổn định nền kinh tế với hy vọng rằng khi kinh tế ổn định, tăng trưởng sẽ tự khắc phục hồi.
Song, dù cho kinh tế đã bình ổn trở lại, tăng trưởng vẫn đình trệ. Thực tế trong sáu năm liên tiếp gần đây, tăng
trưởng đều ở dưới mức 7%, và trong 2013 này, dự kiến kinh tế tiếp tục đạt mức tăng trưởng thấp thứ hai kể từ
sau giai đoạn đầu những năm 1990 (biểu đồ cuối, hình 5). Các nỗ lực kích cầu thông qua giãn thuế và chính
sách tiền tệ thích ứng đã phải đối mặt với tình trạng giảm thu ngân sách, tăng thâm hụt tài khóa và phát sinh
mới nhiều nghĩa vụ nợ tiềm ẩn (xem Phần F). Nếu không đẩy nhanh tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh
vực ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ kéo dài thời kỳ tăng trưởng
chậm (xem Phần III).
19.
Các kết quả gần đây về kinh tế vĩ mô sẽ trở nên mong manh nếu Chính phủ không theo đuổi công
cuộc tái cơ cấu một cách sâu rộng hơn, vì một số lý do. Một là, tăng trưởng chậm hơn có thể tạo sức ép tiếp
tục nới lỏng chính sách tài khóa và tiền tệ, với rủi ro thổi bùng áp lực lạm phát và đảo ngược các kết quả gần đây
về ổn định kinh tế vi mô. Hai là, nếu còn tiếp tục chậm trễ việc triển khai tái cơ cấu, thì niềm tin của nhà đầu tư sẽ
bị bào mòn và viễn cảnh kinh tế sẽ còn xấu đi. Đối với các tác động bên ngoài, kinh tế Việt Nam vẫn rất dễ bị tác
động bởi mức độ suy thoái trầm trọng hơn của kinh tế toàn cầu, phản ánh qua kết quả thu ngân sách sụt giảm
và nợ công tăng, những nhân tố khiến cho các chính sách chống suy giảm chu kỳ không còn mấy ý nghĩa.

15


Hình 5: Điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định, song tăng trưởng đang suy giảm
Tỷ lệ lạm phát (năm, %)

25

Tỷ giá hối đoái (VND/USD)
22000

20
15

20000

10
18000
Nghị Quyết 11

Nghị Quyết 11

Dự trữ ngoại hối (tháng nhập khẩu)

3

2.7
2.2
1.9

2

1.6

2.3

M-13

J-13

M-13

N-12

J-12

S-12

M-12

J-12

M-12

S-11

600

2.3

N-11

Chi phí vay trên thị trường vốn quốc tế

700

2.8

J-11

J-11 A-11 J-11 O-11 J-12 A-12 J-12 O-12 J-13 A-13 J-13

M-11

J-11

16000

0

M-11

5

Chênh lệch lãi suất trái phiếu Chính phủ

500

1.8

400

1.6

300
1

200
Nghị Quyết 11

CDS, 5 năm

100

Nghị Quyết 11

Tăng trưởng GDP thực tế (%)

10

9.5
hàng năm

9

trung bình 3 năm
7.8

8
7

6.4

6
5

5.1
Thời kỳ Xô Viết tan rã

4

5.4
Khủng hoảng Kinh tế Toàn cầu

4.8
Khủng hoảng Đông Á

4
4.9
????

3
1990

1992

1994

1996

1998

2000

2002

2004

2006

2008

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục thống kê, Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới

16

2010

2012

M-13

M-13

J-13

N-12

S-12

J-12

M-12

J-12

M-12

S-11

Q1-13

N-11

Q3-12

J-11

Q1-12

M-11

Q3-11

J-11

Q1-11

M-11

0

0


B.

KHU VỰC SẢN XUẤT: CÓ HAY KHÔNG VIỆC CHẬM TĂNG TRƯỞNG?

20.
Nền kinh tế Việt Nam đang trải qua giai đoạn tăng trưởng chậm dài nhất kể từ khi bắt đầu cuộc
khủng khoảng kinh tế vào những năm 1980. Năm 2012, GDP thực tế tăng 5%, mức tăng thấp nhất kể từ
năm 19981. Tăng trưởng chậm kéo dài sang cả Quý I và QII/2013 với tỷ lệ tăng trưởng Quý I là 4,9% và Quý II là
5% (biểu đồ trái, hình 6). Đây là lần đầu tiên Việt Nam trải qua hai năm liên tiếp có mức tăng trưởng dưới 5%
vào nửa đầu tiên của năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu công bố GDP theo quý. Trên thực tế, Việt Nam khác biệt
với các nước khác ở khả năng phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng kinh tế - dù có là khủng hoảng Đông
Á năm 1999 hay khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2009. Tuy vậy, các cơ quan chức năng cũng đã nhận thấy
ngày càng khó đưa ra các quyết định kịp thời và quyết đoán để giúp nền kinh tế vượt qua trạng thái chậm tăng
trưởng hiện tại.
21.
Việt Nam là nước đang phát triển lớn đầu tiên trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương ngoài Trung
Quốc có tỷ lệ tăng trưởng sau khủng hoảng thấp hơn trước khủng hoảng. Các nước Indonesia, Malaysia,
Philippines và Thái Lan đều phát triển kinh tế sau khủng hoảng (2010-13) nhanh hơn giai đoạn trước đó (2005-08)
như thể hiện trên đồ thị bên phải của hình 6. Tốc độ tăng trưởng trước khủng hoảng của Trung Quốc là đặc biệt
cao. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng hậu khủng hoảng của Việt Nam (5,8%) thấp hơn 1 điểm phần trăm so với
thời kỳ trước khủng hoảng (6,8%). Indonesia và Philippines – hai nước có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với Việt
Nam trong quá khứ - đã trở thành hai quốc gia tăng trưởng nhanh hơn Việt Nam từ năm 2010.

Hình 6: Suy giảm tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:
So sánh với thành tựu trong quá khứ và với các nước trong khu vực
10

Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế (%)
14

Tỷ lệ tăng trưởng (quý)
8

tỷ lệ tăng trưởng (hàng năm)

6

12

11.9
Trung Quốc
Phi-lip-pin
8.8
Ma-lai-xia

10
8

4

6
2

5.9

6.8
5.2

5.4

Indonesia
Việt Nam
Thái lan
6.3 6.1 5.8
5.7

4.3

4.8

4
2
q1-13

q1-12

q1-11

q1-10

q1-09

q1-08

q1-07

q1-06

q1-05

0

0
Trước Khủng hoảng

Sau Khủng hoảng

Nguồn: Tổng cục Thống kê (GDP theo giá 2010): Chỉ số Phát triển Thế giới

22.
Sự chậm tăng trưởng thể hiện ở tất cả các lĩnh vực, mặc dù nông nghiệp và công nghiệp là hai
lĩnh vực dường như bị tác động mạnh nhất. Năm 2012, lĩnh vực dịch vụ tăng thêm 5,9% và đóng góp 2,2
điểm phần trăm cho tăng trưởng tổng thể. Tăng trưởng nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp giảm 2,7% so
với mức tăng 4% năm 2011 do điều kiện thời tiết không thuận lợi, bệnh dịch trong chăn nuôi và giảm giá hầu
hết các sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất cũng bị đình trệ, phản ánh cầu trong nước giảm dần trong khi hàng
tồn kho lại tăng. Nông nghiệp và công nghiệp, vốn thu hút 70% lực lượng lao động, chỉ đóng góp gần 3% cho
tăng trưởng tổng thể, so với 3,8% trong giai đoạn 2005-2011 (biểu đồ trái, hình 7).

1

Việt Nam mới sửa đổi các thông số GDP, lấy 2010 làm năm cơ sở. Theo đó, năm 2012 nền kinh tế tăng trưởng 5,25%.

17


23.
Tất cả các cấu phần về tổng cầu của GDP, trừ xuất khẩu ròng, cũng đều tăng chậm. Tiêu dùng
cá nhân và đầu tư, chiếm trên 90% GDP của Việt Nam, giảm mạnh. Năm 2012, tiêu dùng cá nhân tăng 3,5%
trong khi đầu tư chỉ tăng có 1,9% so với mức tăng 5,3% năm 2009 và 9,8% năm 2010. Xuất khẩu ròng ở mức
dương trong năm 2012 do kết quả xuất khẩu tốt và tăng trưởng nhập khẩu chậm. Kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa tăng 18,2% trong năm 2012, chủ yếu do tăng mạnh của khu vực đầu tư nước ngoài (FDI). Tăng trưởng
tiêu dùng giảm và đầu tư đình trệ dẫn đến kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tăng ở mức khiêm tốn, 6,6% trong
năm 2012 (biểu đồ phải, hình 7).

Hình 7: Tăng trưởng theo đóng góp của các cấu phần Sản lượng và Tổng cầu
Sản xuất/cung cấp đóng góp vào tăng trưởng (%)

Tăng trưởng GDP

3.2
2.8

5

2.2
2.9

2
1

1.5

6
5

2.6

4
3

Tăng trưởng GDP

7

7
6

Nguồn cầu đóng góp vào tăng trưởng (%)
8

8

2.3

Dịch vụ

1.2

0

2.4

1.3

2.0
1.0

2.0
0.6

Công nghiệp & 2
Xây dựng
1
Cơ bản

0

4.3
3.5

4
3

2.5

Xuất khẩu ròng
4.9

0.4
2.1
0.1

0.3

4.1
3.4

0.4

Chi tiêu của Chính phủ

0.4

0.3

2.3

2.0

1.6

-0.4

-0.5

-0.2

0.1

2009

2010

2011

2012e

1.9

Đầu tư

Chi tiêu tư nhân

-1

-1
2005

2010

2011

2012

Q1 -13

2005

Nguồn: Tổng cục Thống kê (GDP theo giá 2010); Chỉ số Phát triển Thế giới

Hộp 3: Động thái của Chính phủ khi Tăng trưởng đình trệ
Box 3: Government’s Response to the Growth Slowdown

Tháng 1/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02 công bố một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp,
cá nhân tháo gỡ khó khăn về kinh tế. Các giải pháp này bao gồm (i) gia hạn nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp (TNDN): gia hạn 6 tháng đối với số thuế TNDN phải nộp trong Quý I/2013 và 3 tháng đối với số
thuế TNDN phải nộp trong Quý II và Quý III/2013; (ii) gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT): 6 tháng
đối với số thuế GTGT phải nộp trong QI/2013. Các giải pháp khuyến khích về thuế này áp dụng cho (i)
doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs); (ii) doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực; (iii)
doanh nghiệp bán, cho thuê, cho thuê tài chính nhà ở; và (iv) doanh nghiệp sản xuất sắt, thép, xi măng,
vật liệu xây dựng. Theo ước tính của Chính phủ, tổng số thuế gia hạn lên tới khoảng 9.100 tỷ đồng
trong 4 tháng đầu năm 2013. Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng đã giao Bộ Tài chính trình Quốc hội hạ thuế
suất thuế TNDN xuống còn 20% đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và 10% đối với doanh nghiệp tham
gia đầu tư, bán hoặc cho thuê nhà ở xã hội (cho hộ thu nhập thấp), bắt đầu từ 01/07/2013. Các giải
pháp này đã được Quốc hội thông qua.
Mặc dù các giải pháp này đã được triển khai, khu vực doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Trong 4 tháng đầu năm 2013, gần 16.600 doanh nghiệp đã đóng cửa hoặc tạm ngưng hoạt động, tăng
16,9% so với năm ngoái. Đồng thời, gần 23.800 doanh nghiệp mới được thành lập, giảm 1,2% so với
cùng kỳ năm ngoái. Chi phí lãi vay cao, môi trường kinh doanh không thuận lợi và hàng tồn kho cao
thường được nêu là các lý do chính dẫn đến đóng cửa hoặc phá sản nhiều doanh nghiệp.

Nguồn: BKHĐT, BTC, các nguồn từ báo chí

18


24.
Một trong những dấu hiệu đáng lo ngại là sự suy giảm đều đặn và toàn diện tỷ trọng đầu tư. Dự
tính tổng đầu tư trong Quý I/2013 chiếm 29,6% GDP, thấp hơn gần 13 điểm phần trăm so với mức đỉnh năm
2007 (biểu đồ trái, hình 8). Trong khi mức tăng đầu tư lên đến 40% hoặc cao hơn như vậy (của năm 2007) không
đảm bảo tính bền vững và cũng không được mong đợi - chủ yếu do tình trạng ngân hàng cho vay quá mức đối
với các doanh nghiệp Nhà nước không hiệu quả - thì việc giảm gần 10 điểm phần trăm trong thời gian 3 năm
dường như quá nhanh và bất ngờ. Một số khoản đầu tư khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm sút do tác động
của chính sách kích cầu giai đoạn 2009-2010, theo đó các khoản mục chi chỉ mang tính tạm thời. Tuy nhiên, tỷ
lệ đầu tư khu vực ngoài Nhà nước (nội địa) giảm sút là rất đáng lo ngại, do khu vực này bị ảnh hưởng nghiêm
trọng bởi giảm cầu nội địa, tăng lãi suất và chậm tăng trưởng tín dụng trong suốt hai năm qua.

Hình 8: Tăng trưởng kinh tế theo đóng góp của Sản lượng và các cấu phần tổng cầu

14%

42.7
40

38.2
10.4
11.8

30
16.4
20
10

Thực hiện FDI

Đầu tư theo quyền sở hữu (% GDP)

50

13.4

15.9

12.9

39.2
10.0

38.5
9.9
8.2

13.3

15.9

13.9

14.7

11.5

12%
33.3

12.8

12.3

30.5
7.1

Tổng
29.6
7.8 Nước ngoài

FDI bằng tỷ
USD (phải)

FDI/GDP (trái)

10% 10%
8.0
8%

12%

11.0
10%

11.5

10.9 Tư nhân
trong nước
10.9 Nhà nước

0

10.5

12
10

10%

8
8%

6%
11.9

11.0

10.0

14

7%

6

4%

4

2%

2

0%

0

2007 2008 2009 2010 2011 2012 q1-13

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Nguồn: Tổng cục Thống kê (GDP theo giá 2010); Chỉ số Phát triển Thế giới

25.
Mặc dù giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn cao, tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền
kinh tế ngày càng giảm. Trong 5 năm qua, giá trị FDI thực hiện (hoặc giải ngân) dao động ở mức 10,5 đến 11,5
tỷ đô la (biểu đồ phải, hình 8). Có thể xem đây là dấu hiệu cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn tiếp
tục đầu tư tại Việt Nam, rằng họ không bị cản trở bởi các vấn đề về bất ổn kinh tế vĩ mô hay chậm triển khai tái
cơ cấu nền kinh tế. Tuy nhiên, tỷ trọng FDI thực hiện trong cấu phần của GDP đã giảm đều đặn trong 6 năm
qua, từ mức đỉnh 12% GDP năm 2008 xuống 7% năm 2012. Dù tỷ lệ FDI/GDP giảm và một số vấn đề về kinh tế
vĩ mô còn tiếp tục diễn ra, Việt Nam vẫn được xem là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của các nhà đầu
tư nước ngoài tại khu vực Đông Á (hộp 4), chủ yếu là do chi phí nhân công rẻ, cơ cấu dân số thuận lợi, vị trí địa
lí thuận lợi và ổn định chính trị.

19


4: Việt
Nam vẫn Destination
là điểm đếnfor
thu
hút các
nhà đầu tư nước ngoài
Box 4: VietnamHộp
Remains
An Attractive
Foreign
Investors
Hai khảo sát gần đây cho thấy nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục quan tâm đến thị trường Việt Nam.
Theo kết quả Khảo sát Triển vọng Kinh
doanh ASEAN 2012/13 do Amcham
Singapore và Phòng Thương mại công
nghiệp Mỹ thực hiện, Việt Nam vẫn giữ
vững vị trí điểm đến ưa chuộng nhất
để mở rộng kinh doanh, vượt xa các
nước khác trong khu vực Đông Nam
Á. Thái Lan đứng thứ hai, tiếp theo là
Singapore và Philippines (xem hình
bên).
Tương tự, Khảo sát Doanh nghiệp
Quốc gia của Hiệp hội doanh nghiệp
Singapore (SBF) cho thấy Việt Nam
là điểm đến đầu tư nước ngoài hấp
dẫn thứ hai của các doanh nghiệp
Singapore sau Myanmar (xem hình
bên). Các điểm đến đầu tư truyền
thống là Trung Quốc và Ấn Độ dường
như không còn được ưa chuộng như
trước. Indonesia và Thái Lan vẫn bám
đuổi sát sao Việt Nam cạnh tranh vị
trí thị trường nước ngoài thu hút các
thành viên của SBF

Mở rộng kinh doanh ở ASEAN

57%

11%

Việt Vam

Thái Lan

8%

7%

6%

6%

Singapore

Phi-líp-pin

Indonesia

Myanmar

2%

2%

1%

Cam-pu-chia Ma-lai-xia

Lào

10 điểm đến đầu tư nước ngoài hấp dẫn nhất
24%

Myanmar
21%
21%

Việt Nam
17%
18%

Indonesia
Thái Lan
Mỹ

8%

14%
12%
15%

2012
2011

12%

Trung Quốc

11%

Cam-pu-chia

11%

Ấn Độ

18%

11%
12%

Malaysia
9%

Phi-líp-pin
0%

5%

10%

15%

20%

25%

30%

Nguồn: Khảo sát Triển vọng Kinh doanh ASEAN 2012/13; Khảo sát Doanh nghiệp quốc gia SBF 2012/13.

26.
Khó khăn mà khu vực công nghiệp gặp phải dường như chủ yếu bắt nguồn từ khối doanh nghiệp
nội địa phục vụ cho thị trường nội địa. Có thể thấy rõ tình trạng đình trệ sản xuất qua tốc độ tăng khiêm tốn
của Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 1 - tháng 5, 5,2% so với mức 6,2% năm ngoái. Tương tự, Chỉ số nhà
quản trị mua hàng (PMI) cho khu vực sản xuất cũng đã cho thấy bức tranh xác thực hơn với PMI giữ ở mức dưới
ngưỡng trung bình 50 điểm (hàm nghĩa giảm sút) cho cả năm 2012 và 2013. Trong tháng 6/2013, PMI đã giảm
xuống 46,4 điểm, mức thấp nhất kể từ tháng 7/2012 (biểu đồ trái, hình 9). Chỉ số PMI thấp nhất quán với sự sụt
giảm tiêu dùng hộ gia đình, khi mà mức tăng tổng doanh số bán lẻ hàng hóa dịch vụ trong 5 tháng đầu năm
2013 chỉ đạt 4,8% tính theo giá trị thực tế so với mức 6,6% cùng kỳ năm 2012 (biểu đồ phải, hình 9). Mặt khác,
xuất khẩu vẫn tăng ở mức độ khá cao, cho thấy ảnh hưởng của các khó khăn trong sản xuất dường như chỉ thu
hẹp ở phạm vi đến các doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa.

20


Hình 9: Chỉ số PMI và Tăng trưởng doanh số bán lẻ đều cho thấy sự suy giảm tổng cầu nội địa
Bán lẻ và Dịch vụ (%)

Chỉ số Quản lý Mua hàng (PMI)

54

36

52
Mở rộng

50

32

Tăng trưởng thực tế (%)

28

Tăng trưởng danh nghĩa (%)

24
20

48

16
46

12
8

44

Co hẹp

4
0

42
M-11

S-11

J-12

M-12

S-12

J-13

M-13

M-08

M-09

M-10

M-11

M-12

M-13

Nguồn: Tổng cục Thống kê (GDP dựa trên chỉ số giá 2010); Chỉ số Phát triển thế giới và HSBC

C. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA KHU VỰC NGOẠI THƯƠNG TIẾP TỤC GÂY
ẤN TƯỢNG


Xuất khẩu

27.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng và nằm ngoài tác động của các khó khăn trong
nội địa. Kim ngạch tăng 16% trong 4 tháng đầu năm 2013 sau mức tăng 18,2% năm 2012 và 34,2% năm 2011.
Trong khi doanh thu xuất khẩu hàng nông sản và nguyên liệu giảm do giá giảm, kim ngạch xuất khẩu các
ngành hàng thu hút nhiều lao động truyền thống như dệt may, da giày và đồ gỗ tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng
nhanh. Ngành hàng bổ sung vào cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đáng chú ý là sản phẩm công nghệ cao và giá trị
lớn (như điện thoại và linh kiện điện thoại di động, máy tính, thiết bị và phụ kiện điện tử, linh kiện ô tô), ngành
hàng xuất khẩu phát triển nhanh và lớn nhất năm 2012. Như xem tại Bảng 3 dưới đây, trong năm 2012, giá trị
xuất khẩu hàng điện thoại và linh kiện điện thoại lên tới 12,7 tỷ đô la so với 3,7 tỷ kim ngạch xuất khẩu gạo, 6,1
tỷ hải sản và 7,3 tỷ giày da. Trong năm 2013, dự kiến xuất khẩu điện thoại và linh kiện điện thoại sẽ vượt mốc
18 tỷ đô la, vượt qua dệt may trở thành mặt hàng xuất khẩu giá trị cao nhất của Việt Nam. 2

2


Theo
thông tin từ Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, với việc mở rộng hoạt động nhanh chóng của Samsung tại Việt Nam, đến năm 2015, kim ngạch
xuất khẩu điện thoại di động dự kiến sẽ vượt qua con số 30 tỷ đô la. Tiếp theo thành công của Samsung, LG Electronics đang xây dựng nhà máy điện
thoại di động tại Việt Nam. Với sự tham gia của LG, một số đơn vị phụ thuộc đã bắt đầu được xây dựng lại tại Việt Nam, làm tăng triển vọng là Việt Nam
có thể nổi lên như một nước xuất khẩu điện thoại di động lớn nhất thế giới.

21


Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch Xuất khẩu
Tỷ US$

% thay đổi về giá trị

Tỷ lệ (%)

2011

2012

4M-13

114,6

100,0

34,2

18,2

16,0

8,2

7,2

44,2

13,6

2,1

106,3

92,8

33,4

18,6

17,0

Gạo

3,7

3,2

12,6

0,4

-5,2

Nông sản khác

9,9

8,6

39,9

9,2

-11,3

Thủy hải sản

6,1

5,3

21,9

-0,3

-3,5

Quần áo

15,1

13,2

25,3

7,5

18,0

Giày dép

7,3

6,3

27,9

10,9

14,2

Sản phẩm gỗ

4,7

4,1

13,7

17,9

13,1

Điện tử và máy tính

7,8

6,8

30,1

68,1

44,5

Điện thoại di động và phụ kiện

12,7

11,1

98,4

98,8

97,0

Phương tiện đi lại và phụ tùng

4,6

4,0

49,2

32,2

18,5

34,6

30,2

34,0

8,7

3,1

Khu vực kinh tế trong nước

42,3

36,9

26,5

1,2

3,8

Khu vực có vốn đầu tư NN
(bao gồm dầu thô)

72,3

63,1

40,8

31,1

23,7

Tổng kim ngạch xuất khẩu (giá f.o.b)
Dầu thô
Ngoài dầu thô

Nông nghiệp

Hàng công nghiệp giá trị thấp

Hàng công nghệ cao

Sản phẩm khác

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Hình 10: Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã thay đổi đáng kể trong mười năm gần đây
2002

2012
Dầu thô
20%

Khác
26%

Dầu thô
7%

Gạo
3%

Khác
32%

Nông nghiệp
9%

Gạo
4%
Điện tử và
máy tính
3%
Nông nghiệp
20%

Da giày
11%
May mặc
16%

Nguồn: Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới

22

May mặc
13%
Sản phẩm
nhựa
3%
Máy móc và
phụ tùng
Xe cộ
4%
các loại và Điện thoại và
Phụ kiện
phụ tùng
11%
4%

Da giày
7%
Điện tử và
máy tính
7%


28.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có sự dịch chuyển âm thầm nhưng đáng kể trong một
thập kỷ qua. Xuất khẩu dầu thô và nông nghiệp, bao gồm xuất khẩu gạo, chiếm 44% tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam năm 2002, đã tụt xuống còn 19% trong năm 2012. Cùng kỳ, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa giá trị
thấp (dệt may và giày da) cũng giảm từ 27% xuống còn 20%. Các mặt hàng xuất khẩu giá trị lớn, vốn chỉ chiếm tỷ
trọng nhỏ tổng kim ngạch trong năm 2002, hiện đã chiếm đến hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu (hình 10).
29.
Trong khi cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có sự dịch chuyển, các thị trường xuất khẩu không có
nhiều thay đổi trong một thập kỷ qua. Năm 2002, ba thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam là châu Âu,
Mỹ và Nhật Bản, chiếm 49% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2012, con số này là 46% (hình 11). Trong cơ cấu xuất
khẩu, một tỷ trọng nhỏ xuất khẩu sang các nước phát triển đã giảm và chuyển sang các nước láng giềng là
Trung Quốc và ASEAN. Do hợp tác thương mại Nam - Nam đang tăng, bằng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng của hợp
tác thương mại Bắc - Nam (hộp 2), Việt Nam cần tiếp tục đa dạng hóa các điểm đến xuất khẩu và khai thác các
thị trường mới như châu Phi, Nam Á và châu Mỹ La tinh.
Hình 11: Các thị trường xuất khẩu của Việt Nam ít có thay đổi trong mười năm qua
2002
Phần còn lại của TG
18%

2012

Trung Quốc
9%

Phần còn lại của TG
18%

Trung Quốc
11%

Nhật Bản
15%

Đông Á
(trừ Nhật Bản)

Nhật Bản
11%
Đông Á
(trừ Nhật Bản)

10%

10%
Mỹ
14%

ASEAN
14%
Liên minh Châu Âu
20%

Mỹ
17%
ASEAN
15%
Liên minh Châu Âu
18%

Nguồn: Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới



Nhập khẩu

30.
Kim ngạch nhập khẩu tăng chậm trong năm 2012, song đang phục hồi trở lại trong năm 2013.
Sự sụt giảm tổng cầu đầu tư vốn và hàng hóa trung gian, cũng như mức tiêu dùng cá nhân khiến cho kim
ngạch xuất khẩu chỉ tăng ở mức khiêm tốn 6,6% trong năm 2012. Nhập khẩu từ khu vực nội địa giảm 7% trong
năm, phản ánh sự cắt giảm đáng kể đầu tư công và giảm sút doanh thu bán lẻ nội địa, trong khi nhập khẩu
của các doanh nghiệp FDI lại tăng 22,7% - đóng góp tới 52,7% tổng kim ngạch. Nhập khẩu có dấu hiệu phục
hồi trong mấy tháng gần đây, đạt mức tăng 17% vào tháng 4/2013 so với cùng kỳ năm ngoái. Sự phục hồi kim
ngạch nhập khẩu, đặc biệt là mức tăng đáng kể tại khu vực nội địa, cho thấy khả năng cải thiện nhu cầu đầu
tư và tiêu dùng trong thời gian tới. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu thô và hàng hóa trung gian cũng
đã tăng nhanh trong năm 2013 so với 2012, khẳng định một chu kỳ mới về đầu tư và sản xuất có thể lại xuất
hiện - bù lại một phần cho một số quan ngại về cầu đầu tư đã đề cập trước đây. Nhập khẩu ô tô giảm 2,8% trong
tháng 4/2013 so với mức giảm mạnh 32,2% trong năm 2012.

23


Bảng 4: Nhập khẩu hàng hóa
Doanh thu nhập khẩu 2012
Tổng giá trị nhập khẩu (giá c.i.f )
Tư liệu Sản xuất
Máy móc và Thiết bị
Hàng hóa Trung gian
Vật liệu may mặc và da giày
Máy tính và hàng điện tử
Điện thoại và phụ kiện
Nguyên vật liệu
Thép
Chất dẻo
Vải
Hóa chất
Sợi dệt
Bông
Phân bón
Thuốc trừ sâu
Sản phẩm
Xăng dầu
Hóa chất
Dược phẩm
Giấy
Ôtô các loại
Khu vực kinh tế trong nước
Khu vực có vốn đầu tư NN

Tỷ US$
113,8
9,0
16,0

Tỷ lệ (%)
100,0
7,9
14,1

2011
25,8
61,6
13,0

Tăng trưởng %
2012
6,6
-9,3
3,2

4M-13
17,0
-22,9
10,0

3,2
13,1
5,0

2,8
11,5
4,4

12,5
53,1
82,0

7,1
67,0
85,3

13,4
61,0
92,6

6,0
4,8
7,0
2,8
1,4
0,9
1,7
0,7

5,2
4,2
6,2
2,4
1,2
0,8
1,5
0,6

4,5
26,1
25,5
27,2
30,4
56,1
46,1
16,6

-7,2
0,9
4,6
2,3
-8,4
-16,7
-4,8
8,1

12,6
14,5
16,1
-5,0
3,9
37,0
13,2
22,1

9,0
2,4
1,8
1,2
2,1
53,8
59,9

7,9
2,2
1,6
1,0
1,8
47,3
52,7

61,6
16,6
19,3
15,4
6,8
21,0
32,1

-9,3
2,1
20,7
9,0
-32,2
-7,0
22,7

-22,9
9,1
8,7
12,7
-2,8
6,6
27,0

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Hình 12: Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam

2002
2002

khác
27%

Textile
material
22%
Hàng công
nghệ cao
Plastics
3%

4%

Vật tư

Chemicals
may mặc
6%
16%

Xe máy
6% Motor
Hi-tech
Dụng cụ và
intermediat
vehicles
e
8% thiết bị

5%

19%

Xe máy

Motor
2%
vehicles
3%

khác
29%
Hi-tech

intermediat
e
23%

10%

Nông nghiệp
3%
Kim loạiPetro
Nhựa
Hóa chất
Metal 3%
8% products
14%
5%
11%
Agricultural

Dụng cụ và
thiết bị
14%
Machinery

&
equipment
20%Dầu khí

Machinery
&
equipment
Dầu26%
khí

Nguồn: Tổng Cục Hải quan, Tổng Cục Thống kê, Ngân hàng thế giới

24

2012
2012

8%

Nông nghiệp
Petro
3%
products
11%

Textile
material
Hàng công
16% cao
nghệ
16%

Plastics
6%

Vật tư

may mặc
Chemicals
6%11%

Kim loại
8%
Hóa chất
Agricultural
5%
Nhựamaterials
Metal 4% 4%

11%


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×