Tải bản đầy đủ

BÀI TIỂU LUẬN MÔN: HUYỀN THOẠI VÀ VĂN HỌC CỔ MẪU NƯỚC TRONG THƠ BÙI GIÁNG

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: HUYỀN THOẠI VÀ VĂN HỌC

CỔ MẪU NƯỚC TRONG THƠ BÙI GIÁNG

GVGD: PGS. CHU XUÂN DIÊN
HVTH: NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
LỚP : LÝ LUẬN VĂN HỌC (2016 -2018)

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 06 năm 2017

2


I.

Mở đầu:


Vào thế kỉ thứ XX, trên thi đàn văn học Việt Nam đã xuất hiện một tên
tuổi thơ, đời thơ vô cùng kì lạ mà tạo hóa ban cho khu vườn văn học của
chúng ta. Người mà tôi muốn nhắc tới đây là nhà thơ Bùi Giáng- nhà thơ của
hậu bán thế kỉ, thơ ca của ông được coi là trường thơ điên loạn cùng với Hàn
Mặc Tử lúc bấy giờ, thơ ông cũng có ít nhiều ảnh hưởng của nhà thơ Hàn
Mặc Tử (trong Mưa nguồn, Bùi Giáng có viết lời Hàn Mặc Tử), ông là nhà
thơ tiêu biểu cho thơ ca điên loạn về thần xác trong nửa thế kỉ cuối. Bất chấp
tiếng lành, tiếng dữ của thế gian để tạo cho nhân thế ngày nay những tuyệt tác
độc đáo. Thơ Bùi giáng là một cõi thơ vô thức, đầy lý trí, triết lý về cuộc đời
và con người, thơ ông như là linh hồn sống, nội dung thơ vô cùng phong phú,
hồn thơ dung dị, tinh thâm, là một con người đặc biêt, dị thường với cõi thơ
bát ngát, ngao du đây đó nhưng không kém phần phóng túng, là “ hiện tượng
văn học đặc biệt”, “thiên tài tự hủy” hiếm có trong thi ca Việt nam hiện đại.
Nói về nhà thơ Bùi Giáng, các nhà nghiên cứu đã tốn không ít giấy bút để đào
sâu, tìm tòi những điều còn tiềm ẩn bên trong những tuyệt tác của ông. Có rất
nhiều đầu sách xuất bản các tập thơ, nhiều bài báo, luận văn tập trung tìm
hiểu cõi thơ cũng như các khía cạnh nghệ thuạt nổi bật mà Bùi Giáng đã sử
dụng một cách điêu luyện. Ngoài ra, còn một vấn đề chúng ta cần phải quan
tâm đó là yếu tố cổ mẫu trong thơ của ông, những thành công sáng tác của
ông khi nhắc đến là không thể bỏ đi yếu tố cổ mẫu. PGS.TS Nguyễn Thị
Thanh Xuân trong Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam đã viết như sau:
“Với Bùi Giáng, ngũ quan của cái tôi nguyên sơ đã xui ông đến với một thiên
nhiên thuần túy. Thơ ông là ánh lửa run xòe ra từ cái chạm của hai mảnh vỏ


cây khô (…)”. Hầu như những sáng tác của ông đều quay trở về nguồn cội,
với thiên nhiên đất nước nước, đậm bản sắc dân tộc nhưng không kém phần
mới mẻ, từ đây, việc linh hoạt vận dụng được các yếu tố cổ mẫu một cách
nhuần nhuyễn và điêu luyện cũng đã một phần tạo nên một thiên tài thơ Bùi
Giáng.

II. Nội dung
1. Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp văn học của tác giả
Bùi Giáng sinh ngày 17. 12.1926 tại làng Vĩnh Trinh, xã Thanh Châu
( nay là xã Duy Châu) thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam và mất ngày
01.10.1998 tại Tp. Hồ Chí Minh. Các bút danh khác: Vân Mồng, Trung Niên
Thi Sĩ, Đười Ươi Thi Sĩ, Bùi Bàng Giúi, Bùi Báng Giùi, Búi Giàng,...Theo
nhiều tư liệu để lại, ông là con một gia đình địa chủ giàu có , Cha là Bùi
Thuyên,mẹ là Huỳnh Thị Kiền. Ông là con của người vợ thứ hai của Bùi


Thuyên, mẹ ông là cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng- em ruột cụ Hoàng Diệuphó bảng khoa năm 1853, Thượng thư Bộ Binh, Tổng đốc Hà Ninh. Mẹ ông
có bảy người con, ông đứng thứ hai, nhưng ở vị trí thứ năm trong đại gia đình
Bùi Thuyên, ông còn được gọi biệt danh là Sáu Giáng. Bùi Giáng lấy vợ lúc
19 tuổi, đây là người vợ theo chỉ hôn của cha mẹ ông, vợ ông tên là Phạm Thị
Ninh, con một gia đình khá giả ở gần chùa Cầu, Hội An. Khi cưới được ba
năm, vợ ông qua đời vì bệnh lâu ngày vào năm 1948, con ông cũng mất theo
vì sinh non. Theo Bùi Văn Vịnh – em ruột Bùi Giáng kể lại, ông lúc nhỏ học
tại Quảng Nam, lớn lên ông ra Huế học và đổ bậc thành chung năm 1945.
Vào năm 1950, ông thi đỗ Tú tài II văn chương và một tháng sau đó, ông ra
liên khu IV- Hà Tĩnh nhập học tiếp. Sau ngày khai giảng, ông đã quay ngay
về Quảng Nam và không học nữa vì nghe bài đọc khai giảng của thầy hiệu
trưởng, tại đây, ông bắt đầu chăn dê tại làng Trung Phước. Hai năm sau, ông
vào Sài Gòn ghi danh học tại trường đại học Văn Khoa,lại một lần nữa nhìn
thấy tên giáo sư sẽ giảng dạy, ông chấm dứt việc học của mình tại đây.( trong
“Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng”- Bùi Giáng trong cõi người ta). Nhưng quá
trình học tập của Bùi Giáng vẫn còn nhiều tranh cải vì có nhiều cứ liệu không
xác đáng. Đặng Tiến đã đưa ra một quá trình học khác của Bùi Giáng như
sau: Tiểu học, Bùi Giáng học ở Hội An, lớn lên ông học ở Quy Nhơn và Huế.
Năm 1945, cưới vợ xong, ông quay về Trung Phước sinh sống, ông đang học
ở Bình Định thì vợ ông mất, sau đó là quảng thời gian ông học tú tài ở Hà
3


Tĩnh nhưng sua này cũng bỏ dở. Tháng 5, năm 1952, ông trở về Huế, sau đó
vào Sài Gòn để dạy học và sống hết cuộc đời tại đây. Quá trình học tâp cũng
như cuộc đời của Bùi Giáng nói chung đều có những điểm chưa thật sự xác
định rõ ràng nhưng có một điều tất cả mọi người đều công nhận ông là một
bậc tài hoa văn chương, thi sĩ hết lòng vì văn chương.
Ngay từ buổi đầu cầm bút, những bài thơ của ông đã được đăng báo,
ngoài ra, ông còn soạn cả sách giáo khoa cho học sinh cấp hai, thơ Bùi Giáng
không chỉ có chất lượng mà còn về số lượng cũng rất đồ sộ, ông có một cách
viết vô cùng thần tốc, một ngày đêm, ông có thể làm trên 200 bài thơ, tập thơ
12 con mắt với trên 130 bài ong chỉ sáng tác trong một ngày lễ Noel năm
1966 ( theo lời thưa tập Mười hai con mắt của Bùi Giáng). Nhà thơ Mai Thảo
rất kinh ngạc về tài làm thơ của Bùi Giáng, ông viết như sau: “ Lần đầu tiên
tôi thấy Bùi Giáng viết, thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả. Như thơ
không thể từu đầu, từ tim chảy xuống, lâu quá, mà ngày từ ngọn bút từ đầu
ngón tay thôi [76, tr. 240]. Đó là những bài thơ ứng khẩu chứu không phải làm
sẵn.” Mảng tác phẩm thơ vẫn là mảng quan trọng nhất khẳng định tên tuổi
của nhà thơ, bên cạnh đó, ông còn dịch thuật, nghiên cứu, biên khảo, phê
bình.Về phần dịch thuật, ông rất thành công về phần chuyển ngữ, thể hiện rất
tốt tinh thần nguyên bản mà thể hiện trọn vẹn khả năng diến đạt phong phú,
siêu ngôn ngữ của tiếng Việt, các tác phẩm dịch bao gồm: Hoàng tử bé, Hòa
âm điền dã, Mùi hương xuân sắc, Khung cửa hẹp,...Về mảng nghiên cứu, ông
rất uyên thâm về mặt triết học, am hiểu về tiếng Đức của ông. Mảng khảo
luận, phê bình, ông có những nhận định tinh tế, sâu sắc.Có thể nói Bùi Giáng
là một nghệ sĩ đa tài, ông còn biết vẽ tranh và ký họa. Nhà thơ dù tài hoa
nhưng rất bạc mệnh, cuộc sống gặp nhiều biến cố, là con vợ thứ, vợ mất sớm
chỉ sau ba năm cưới nhau, gặp cảnh nhà cháy năm 1965,.. từ đó tinh thần ông
trở nên bấn loạn, không được bình thường. Nửa cuộc đời sau của thi sĩ Bùi
Giáng là khoảng thời gian rong chơi, nơi ăn chốn ở bất định, cuộc sống lên
xuống, lang thang khắp nơi, khi ngoài đường, khi ở ngoài ngỏ, khi trong vườn
nhà một mình đêm trăng, khi làm bạn với các loài vật từ vịt, chó khỉ, tự do
hát ca, vui chơi đầu làng, cuối hẻm, khi làm bạn với bia rượu tùy lúc, rong
ruổi ngao du không biết chán. Cuối đời, ông được cháu rễ Nguyễn Thanh
Hoài đưa về gia đình chung sống, ông qua đời vì cơn bệnh tai biến mạch máu
não. Về cuộc đời thơ Bùi Giáng, cho đến nay, đã có rất nhiều người mài dùi
nghiên cứu về thơ Bùi Giáng nhưng chưa thật sự hiểu hết con người thơ của
ông. Cho đến nay, trong thơ Bùi Giáng vẫn còn nhiều điều bỏ ngỏ cần được
khai thác vì một mảng thơ chất chứa những điều bí ẩn, điêu luyện, sử dụng
thuần thục ngôn từ tiếng Việt, hình ảnh cũng như các yếu tố cổ mẫu hướng về
cội nguồn dân tộc.

4


2.

Khái quát sơ lược về khái niệm cổ mẫu và cổ mẫu nước
II.1 Cổ mẫu nước
Nói về khái niệm cổ mẫu, có rất nhiều khái niệm cũng như những
nghiên cứ, nhận định về vấn đề này, nhưng ở giới hạn bài tiểu luận này chỉ
xin đưa ra một số ý kiến phổ biến đã được nghiên cứu và chấp nhận về cổ
mẫu.Cổ mẫu (tiếng Anh: archetype, tiếng pháp: archetype), là khái niệm
xuất phát từ ngành phân tâm học, cụ thể hơn là từ tâm lý học chuyên sâu
của Jung. Đây là một thuật ngữ khá phức tạp, chỉ có thể tiếp cận khái niệm
này ở góc độ gợi ý. Jung gọi đây là những “ hình ảnh có tính biểu tượng”,
phát hiện từu tầng sâu ý thức con người là “ nguyên tượng”, ông gọi đây
là “ yếu tố chủ yếu của vô thức”. Đến năm 1919, Jung mới chính thức
dùng từ “cổ mẫu”, theo ông thì có hai loại cổ mẫu là: cổ mẫu trong hình
thức và cổ mẫu trong hiện thực (theo Lưu Hồng Khanh). Từ kép
“archetype” gồm từ đơn là arche có nghĩa là cổ, khởi đầu, cơ sỏ, nguyên
lý… và từ đơn typos có nghĩa mẫu, loại, dấu ấn, hình ảnh, mô hình, tiêu
chuẩn… Vì vậy, ta có thể dịch ra được nhiều tên khác nhau trong tiếng
Việt: cổ mẫu, mẫu cổ, mẫu gốc, nguyên mẫu, nguyên tượng, mẫu
tượng…..
Theo từ điển văn học, cổ mẫu là “khái niệm dùng để chỉ mẫu của
các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của
con người, chứa đựng trong vô thức tập thể tinh thần của cộng đồng nhân
loại; vô thức tập thể này la một yếu tố đặc trưng cho tất cả các vô thức cá
nhân”[59, tr. 972]
Theo từ điển biểu tượng văn hóa thế giới theo quan điểm của Jung:
“các mẫu gốc giống như những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng
ăn sâu trong vô thức đến nổi chúng trở thành như là một cấu trúc, như
những ký tích(…) các mẫu gốc biểu hiện những cấu trúc tâm thần gần như
phổ biến, bẩm sinh hay được thừa kế, một ý thức tập thể, chúng thể hiện
qua các biểu tượng đặc biệt chưa đầy một công suất năng lượng lớn,
chúng đóng một vai trò động lực và thống nhất đáng kể trong sự phát triển
nhân cách”
Để phân biệt được cổ mẫu và biểu tượng ta phải dựa vào tính vô thức tập
thể là tiêu chí quan trọng nhất.Ta có một số cổ mẫu được trình bày trong
công trình nghiên cứu của tác giả Lưu Hồng Khanh trong “ Tâm lý học
chuyên sâu – ý thức và những tầng sâu vô thức(theo C.G.Jung) như sau:
cổ mẫu người cha, người mẹ, tiên nữ, nữ hoàng, thiên thần, thiên sứ, thiên
hoàng, cây đa, chiên con, hình tròn, phù thủy, ma quái, ác quỹ, nước, màu
sắc,… văn chương chính là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng cổ mẫu, cổ mẫu
5


đã, đang và sẽ được bạn đọc cũng như giới sáng tác sau này tìm hiểu nhiều
hơn nữa.

2.2 Cổ mẫu nước
Nước từ khởi nguyên vũ trụ đã là một yếu tố trong bốn yếu tố quan
trọng tạo nên sự tồn tại của thế giới. Nước mềm mại, tùy biến và luân
chuyển, luồng lách khắp các ngỏ hẻm, nước ẩm ướt và dung hòa, nước
mang oxy là hơi thở của sự sống, nước là một khối vật chất khổng lồ,
nước có vô vàng hình thức, trạng thái tồn tại đi cùng những thuộc tính
phức tạp như biển, sông, hồ, mương, rạch, khe,…là những hình thức tồn
tại tự nhiên của nước, chưa kể đến những nhân tạo do con người tạo ra.
Nước có nhiều trạng thái như phẳng lặng, êm ái, chảy mạnh, chảy xiết.
Cuộn xoáy,..Nước có tính dương, tính âm, lưỡng tính. Nước có nước mặn
và cả nước ngọt, nước lợ, nước có lúc thuần khiết, trong trẻo, mát mẻ, lúc
đục hay băng giá. Ý nghĩa tinh thần của nước được quy về ba chủ đề nhỏ
là nguồn sống, phương tiện thanh tẩy và trung tâm tái sinh. Theo Từ điển
biểu tượng văn hóa thế giới (tr. 709). Ta có thể dễ dàng nhìn thấy tầm
quan trọng của nước, trái đất chúng ta ở hai phần ba là nước, cơ thể chúng
ta và các loài sống khác đều ẩn chứa trong cơ thể phần lớn là nước. Nước
chính là mầm sống của mọi thứ tồn tại trên đời. Từ trong sâu thẳm, nước
chính là yếu tố làm nên vũ trụ, con người tìm về với nước cũng đồng
nghĩa tìm về với cội nguồn chính mình.Trong văn hóa văn học Việt Nam,
nước có mặt khắp nơi, phong phú và rất đa dạng, trong huyền thoại Quả
bầu mẹ, ta thấy hình ảnh của dòng lũ, trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của
người Mường, ta cũng bắt gặp hình tượng của nước, nước tạo ra Thánh
Giống, Sọ Dừa trong truyện dân gian cổ tích Thánh Giống, Sọ Dừa,..Nước
tạo ra sức mạnh cho người sức mạnh để chiến đấu trong sử thi Ê Đê,…
Nước còn gắn liền với các yếu tố như: núi non, sông,…Nước là nguồn
cảm hứng bất tận cho các ngành nghề khác như âm nhạc, hội họa. Có thể
nói, nước là vô tận từ ngàn xưa đến nay.

3. Cổ mẫu nước trong thơ Bùi Giáng
Nước là một hiện tượng đặc trưng trong thơ Bùi Giáng, thơ ông đâu
đâu cũng tràn ngập nước, ở bất cứ nơi nào ta cũng có thể tìm thấy nước:
biển, sông, suối, khe,mưa,…ngay từ tên những tập thơ của Bùi Giáng ta
đã tìm thấy nước: Mưa nguồn, Rớt hột phiêu bồng, Như Sương,Ngàn thu
rớt hột, Bài ca quần đảo, rong rêu. Trong các tác phẩm thơ Bùi Giáng,
6


nước là một nguồn nguyên thủy, là cội nguồn của sự sống, nhưng man
mác những nổi buồn. Biểu tượng thấy nhiều nhất trong thơ Bùi Giáng để
thể hiện cổ mẫu nước là hình tượng mưa, mưa gắn liền với nổi buồn, điểm
qua những lần hột mưa rơi rớt: Ngàn thu rớt hột, Rớt hột phiêu bồng, bây
giờ dứt hột, Rớt hột bây giờ, Trời xa rớt hột, Trang mờ rớt hột, thân em
như hột mưa sa, tự trời rớt hột quan san, tự trời rớt hột lim dim, …., cách
xưng hô của tác giả cũng rất lạ, là “hột” mưa chứ không phải là “ hạt “
mưa, là “rớt” chứ không phải là “rơi” mưa, gắn liền với các hình ảnh, từ
ngữ gợi lên cái buồn, ngàn thu, trời xa, trang mờ, phiêu bồng,..Cách nói dí
dỏm này rất có ý nghĩa. Về âm, hột mang nghĩa tượng hình, mang lại một
hình ảnh tròn đầy. Về nghĩa, hột là cái lõi bên trong của quả, có thể ươm
thành mầm sống mới. Thơ ông hướng về quá khứ, cội nguồn vẫn là âm
hưởng chủ đạo:“Tôi vốn xưa kia là /Ngàn thu tôi rớt hột/Tôi vốn xưa kia
là/Mưa ngồn cồn lá hoa”,“Tôi vốn xưa kia là/Sợ mất hột sương hoa”, “
Tôi vốn xưa kia là/Mò mẫm giữa đêm khuya/ Tôi vốn xưa kia là/Mơ cái
hột xiêm mềm”( Vốn xưa kia là- Mùa hoa trên ngàn). Giọng thơ Bùi
Giáng lấp lửng hai mặt, nghĩa thứ nhất gắn liền với chủ nghĩa phồn thực,
nghĩa thứ hai gắn liền với biểu tượng mưa thuần khiết, mát trong, mưa
sinh ra từ nước, tính chất của mưa là thuần khiết, (người ta thường hứng
nước mưa để uống, mưa nằm lưng chừng trời nên rất tinh khiết), bản chất
của mưa là ban phúc, dân gian có cụm từ “ơn mưa móc”. Mưa làm sạch
bầu không khí, làm cho mặt đất bớt nức nẻ, khô cằn. Mưa trong thơ Bùi
Giáng chuyển tải chức năng sự sống, nhà thơ nhìn cuộc sống bằng quy
luật sinh sôi, nảy nở qua lăng kính của hột mưa rơi:
Ôi một người con gái
Là đúng một bầu trời
Là sinh con đẻ cái
Đẹp bằng hột mưa rơi
(Ôi một người con gái, Lá hoa cồn)
Mưa là thể điệu ban sơ vui sống thanh nhàn:
Ban sơ thể điệu phiêu bồng
Về sau rớt hột chùm bông quê nhà
Bây giờ một lúc uống trà
Ăn qua hoa chút gọi là tái sinh
(Tặng cố nhân- thơ Bùi Giáng)
Chỉ bằng một “hột mưa” nhà thơ đã nói lên tất cả chu kì sinh sôi, nảy nở
của sự sống vũ trụ, gom tất cả vào một hình ảnh nhỏ bé thể hiện cả sự
sống của trời đất và con người. Thời gian và không gian dài rộng của một
kiếp người cũng được khái quát qua bốn câu thơ sau, mỗi câu thơ là một
không gian, thời gian khác nhau, từ quá khứ ban sơ của cõi phiêu bồng
7


đến quá khứ cận hiện nơi quê nhà, đi qua thời điểm hiện tại đến không
gian uống trà và không gian vị lai tái sinh ở câu cuối, tiếng thơ Bùi Giáng
có phần hoài cổ thông qua mưa, ông cho ta thấy những hình ảnh biểu
tượng văn hóa và văn học trong quá khứ.
Một hình ảnh nữa không thể bỏ qua để tìm về cổ mẫu nước trong
thơ Bùi Giáng đó là hình ảnh khe. Có thể nói, khe trong thơ Bùi Giáng
cũng là một biểu tượng ám ảnh, xuất hiện 196 lần trong thơ ông như: “Lạc
về đầu rú khe truông/ Nước truông là lá thu rừng xuống khe( Phượng, Bỏ
hai chân- Mưa nguồn), Xuống khe tìm biển hôi đàm(Ở trong hang- Bài ca
quần đảo), Tôi sẽ ra khe bắt cá về(Tôi sẽ ra khe- Ngàn thu rớt hột), “ Đầu
khe suối chảy nước vô trong rừng”(Lá Hoa Cồn),…Khe trong thơ Bùi
Giáng trước hết ta hiểu đó là khe nước, khe suối, khe truông, khe gắn liền
với nước,là nơi có mạch nước ngầm chạy qua, là mạch sống ngọt mát
không bao giờ cạn kiệt, nước khe chính là biểu trưng của sự bất tận, tinh
túy, thuần khiết như nước. Lý do mà nước trở thành nguồn sống là do từ
xưa đến nay, con người luôn cho rằng tại nơi thiên đường có mạch nước
phun ra mang lại sự sống, thanh xuân, bất tử, trường thọ khi uống được
nước đó. Dân gian hay truyền tai nhau rằng, nơi các vị thánh, tiên, phật
ngự trị đều là nơi có nguồn nước thiêng liêng, dân gian hay gọi là nước
thánh giúp ích cho con người, ta cũng dễ dàng nhìn thấy một số tôn giáo
có những nghi thức liên quan đến nước thánh.Theo nghiên cứu của Jung:
suối nguồn hay nước mạch là “ một hình ảnh của linh hồn”, “ cội nguồn
của cuộc song nội tâm và của năng lực tinh thần”. Khe trong thơ Bùi
Giáng mang năng lực nội tâm, mang vô thức nhân loại, ông yêu mến và
quý trọng nước khe:
“Xin mọi người hãy uống
Nước từu hở hang khe
Trong bóng tối đêm khuya
(Ôi người con gái- Lá hoa cồn)
Trong đôi mắt của nhà thơ, nước khe là một cái gì đó hội tụ đầy đủ tinh
hoa của trời đất, chứa đựng những điều tốt đẹp nhất của trần gian, là một
thứ quý giá được ban cho cuộc sống này, mang đến tinh thần tốt đẹp tối
cao cho con người, mang đến một thể xác tráng kiện nên nhà thơ ‘”xin
mọi người hãy uống” trong đêm khuya là lúc mọi hội tụ tinh túy nhất
được gom góp dồi dào nhất. Thiên nhiên luôn tiềm ẩn những sức mạnh
lớn lao với đời sống xã hội con người, đó là nguồn sức mạnh thiêng liêng
vô tận chưa bao giờ mất đi. Đặc biệt, với thơ Bùi Giáng, ông không làm
mất đi mà còn làm cho nó trở nên phong phú và đa dạng.
Một hình ảnh nữa biểu hiện cho cổ mẫu nước trong thơ Bùi Giáng
là sương, theo Từ điển văn hóa thế giới, sương là mồ hôi của trời đất, là
8


nước bọt của các thiên thể, là sương trời trả lại cuộc sống cho những hài
cốt (theo người Do Thái), là sương làm sáng mắt và đạt tới sự bất tử (theo
người Trung Hoa). Theo Lão Tử, sự rơi sương dịu ngọt là sự kết hợp hài
hòa giữa trời và đất, theo ngôn ngữ nhà Phật, thế giới sương gắn liền với
sự Chân ngộ của triêt lý đạo.Từ những nguồn ý nghĩa đó, sương trong thơ
Bùi Giáng là tinh thể nước ấp ủ, kết tinh, hình thành linh hồn bản nguyên
của vũ trụ:
“Hai tay vốc nước suối ngàn
Rắc lên cành dại giọt ngần như sương”
(Xuân thôn nữ- Mưa nguồn)
Những giọt nước trong ngần như sương đọng lại trên cành cây hoang dại
như gom cả sự sống của núi rừng, suối ngàn, vẻ đẹp của thiên nhiên được
nhà thơ nâng niu, quý trọng, nhẹ nhàng đón lấy bằng hai tay với tinh thần
tươi mới, tràn đầy nhựa sống, nếu nhắm mắt lại ta sẽ cảm nhận được sự
hòa hợp giữa mọi thứ với nhau một cách hoàn mỹ nhất, đẹp đẽ nhất chưa
bao giờ có. Với ông, sương chính là tinh thể cội nguồn:
“Ngày nào trùng ngộ bước ra
Trùng sinh sương sớm đầu hoa cuối cùng”
(Uông rượu yêu đời- Như sương)
Hay:
“Chú buồn bã chú đi xa
Tìm hoa kiếm lá sương sa đầu rừng”
(Đèo bồng đến chết- Như sương)
Mô típ sương có mặt khắp nơi trong thơ Bùi Giáng, trong: Sương bình
nguyên( tập khảo luận), Như sương (tập thơ), sương sớm, sương sa, sương
buồn, sương đồng, sương khói,….biểu tượng sương là sự gắn bó thiết tha
với cội nguồn của sự sống, thấm đẫm tâm hồn dân tộc Việt với hình ảnh “
bóng sương mờ” dưới ánh trăng:
“Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng
Ngày mai cá song phiêu bồng vẫn bay”
(Lời tựa tập Như sương)
Bức tranh hiện lên vô cùng tuyệt vời với” bóng sương” hiện lên vào đêm
trăng in trên bóng dồng chứ không phải vào sáng có ánh nắng mặt trời
long lanh, lấp lánh, chỉ một từ sương mà mang lại vẻ đẹp xanh trong,
thuần khiết đầy gợi cảm của tự nhiên, đó là hình ảnh đầy sức sống của
thiên nhiên, nếu thay bằng một hình ảnh khác thì sẽ không thấy được hết
sức sống tìm tàn, vẻ đẹp tươi sống của thiên nhiên. Ngoài ra, nếu hình ảnh
sương gắn với cánh đồng cũng mang lại nét đẹp thuần Việt vì từ lâu, hình
ảnh cánh đồng đã là biểu tượng mang giá trị thẫm mỹ và biểu cảm tuyệt
vời. Chính bản chất tinh khởi của sương từ cội nguồn vô thức chung và
9


bản chất thuần nông từ cội nguồn vô thức riêng của nước Việt đã kết tinh
thành hình ảnh thơ bất diệt của Bùi Giáng.

III Kết luận:
Đến với thơ Bùi Giáng, chúng ta lại được trở về với cội nguồn dân
tộc, bản chất của tự nhiên, sự tinh túy, thuần khiết của con người được lưu
giữ lại trong tác phẩm của ông. Cổ mẫu nước chỉ là một cổ mẫu thật nhỏ
có trong toàn bộ tác phẩm hoành tráng của nhà thơ thiên tài đầy chất điên
của một nghệ sĩ chân chính này. Có thể nói, Bùi Giáng là nhà thơ gắn kết
mạch nguồn của dân tộc với con người thời hiện đại, theo dòng thơ của
ông, mọi thứ cổ xưa và huyền bí, những khởi nguyên hoang sơ của dân tộc
như tràn về trong từng mạch cảm xúc. Bùi Giáng đã tạo cho mình một
điểm nhấn riêng không lẫn vào đâu đươc, từng trang thơ của ông như
tuông trào và dẫn con người đi bằng một con đường riêng về thế giới ngàn
xưa, nới khởi nguyên của con người và vũ trụ. Một Bùi Giáng hiện lên với
sự trở về nguồn cội thăm thúy, chất chứa một sự tâm tình sâu kín. Qua
đây, ta càng thêm thấu hiểu về giá trị thơ ca của Bùi Giáng một cách toàn
vẹn hơn, sâu sắc hơn.

10


Tài liệu tham khảo
1. Chu Xuân Diên, Huyền thoại và văn học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh.
2. Đào Ngọc Chương, Phê bình huyền thoại (2008), NXB Đại học quốc
gia, Tp.HCM
3. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lí luận văn học, NXB Giáo Dục.
4. E. M. Meletinsky, Trần Nho Thìn – Song Mộc (người dịch), Thi pháp
của huyền thoại, Trường Đại học quốc gia Hà Nội.
5. Jean Chevalier – Alai Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa
thế giới, Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du, Tp. HCM.
6. Nguyễn Thạch Giang (1999), Từ ngữ điển cố văn học, Văn học, Hà
Nội.
7. Nhiều tác giả (2005), Từ điển văn học, Thế giới, Tp. HCM.
8. Nhiều tác giả (2007), Huyền thoại và văn học, Đại học quốc gia Tp.
HCM.
9. Trần Thị Hòa (2008), “Hiện tượng thơ Bùi Giáng” trong văn học đô thị
miền Nam Việt Nam 1954 -1975, Luận văn thạc sĩ Đại học Đà lạt.
10.Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Lao động –
Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà nội.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×