Tải bản đầy đủ

CẮT CƠ NÂNG MI TRÊN TRONG ĐIỀU TRỊ SỤP MI

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sụp mi là hiện tượng mi trên sa xuống thấp hơn vị trí bình thường (bình
thường bờ mi che phủ rìa trên giác mạc khoảng 1 – 2 mm). Đây là bệnh lý gây
ra do các nguyên nhân cân cơ nâng mi, do thân cơ nâng mi hay thần kinh.
Trong đó sụp mi tuổi già do bệnh lý cân cơ là hình thái sụp mi mắc phải hay
gặp nhất gây các tổn hại về tâm lý, thẩm mỹ nhất là cản trở trục thị giác của
người bệnh.
Điều trị sụp mi tuổi già không có chỉ định điều trị nội khoa, trên thế giới
các tác giả đã đề ra nhiều phương pháp phẫu thuật can thiệp vào cân cơ nâng mi,
cơ Muller, treo cơ trán. Tại Việt Nam các tác giả như Trần An, Trần Đức Nghĩa
đã tiến hành nghiên cứu việc áp dụng các phương pháp điều trị sụp mi tuổi già
trên, mang lại thành công đáng ghi nhận.
Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật sụp mi nói chung chủ yếu dựa vào
chức năng cơ nâng mi trên. Tuy nhiên trong sụp mi tuổi già đôi khi chức năng
cơ nâng mi trên vẫn tốt xong khám lại cho thấy một biên độ vận động cơ yếu do
đứt chỗ bám cân cơ nâng mi trên. Do đó lựa chọn phương pháp can thiệp cho
sụp mi tuổi già phụ thuộc rất lớn vào kinh nghiệm phẫu thuật viên.
Tại Bệnh viện mắt Hà Giang đã triển khai phẫu thuật điều trị sụp mi tuổi
già từ cuối năm 2015. Tuy nhiên điều trị bằng phương pháp cắt ngắn cơ nâng mi
kết hợp khâu lại điểm bám cơ mới thực hiện từ giữa năm 2016. Việc đánh giá
kết quả bước đầu của phẫu thuật và rút ra các bài học kinh nghiệm là vô cùng

cần thiết. Nhằm đáp ứng nhu cầu này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá kết quả điều trị sụp mi tuổi già bằng phương pháp cắt ngắn cân
cơ nâng mi trên kết hợp khâu lại chỗ bám cơ tại Bệnh viện mắt Hà Giang
năm 2017” với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá đặc điểm lâm sàng sụp mi tuổi già tại Bệnh viện Mắt Hà
Giang.
2. Nhận xét một số kết quả bước đầu phẫu thuật sụp mi tuổi già bằng
phương pháp cắt ngắn cân cơ nâng mi trên kết hợp khâu lại chỗ bám cơ tại
Bệnh viện Mắt Hà Giang .

1


Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU
1.1.1. Đặc điểm giải phẫu cơ nâng mi trên
Mi trên gồm 2 cơ có tác dụng nâng mi là cơ nâng mi trên và cơ Muller.
Cơ nâng mi trên có nguyên ủy từ cánh nhỏ xương bướm sát phía trên ngoài của
lỗ thị giác (Hình 1.1). Cơ chia làm hai phần, phần thân cơ trong hốc mắt là cơ
vân dài khoảng 36 mm, phần từ dây chằng Whitnall tới bờ trên sụn mi là cân
cơ dài 14 - 20 mm.
Cơ tỏa ra trước theo hình nan quạt mỏng. Kích thước cơ nâng mi tại nguyên
ủy rộng 4 mm nhưng khi cơ ra đến ngoài trung tâm hốc mắt rộng lên 8 mm. Bao xơ
thân cơ nâng mi dính với bao xơ cơ trực trên. Tổ chức xơ này chia nhánh xuống
bám vào cùng đồ mi trên và bao Tenon. Mối liên kết này giúp mi vận động theo
nhãn cầu khi bệnh nhân nhìn lên trên hay xuống dưới (Hình 1.2).

Hình 1.1. Cơ nâng mi (nhìn từ phía trên)
Dây chằng Whitnall cấu tạo bởi các sợi collagen và sợi chun. Dây chằng
chia thành 2 nhánh, nhánh trên bám lồi củ xương ròng rọc và bao xơ tuyến lệ,
nhánh dưới bám vào xương góc trong mắt và màng xương trán phía ngoài.
Nhánh dưới hỗ trợ cho mi trên và đóng vai trò như một đòn bẩy để cơ nâng mi
chuyển lực vectơ từ hướng trước - sau thành hướng trên - dưới.
Dây chằng Whitnall còn có vai trò như dây chằng hãm để vận động mi
trên không bị quá mức. Vai trò của dây chằng Whitnall là rất quan trọng nên
cần tôn trọng, không làm tổn thương trong lúc phẫu thuật. Khác với các phẫu
thuật sụp mi kinh điển phẫu thuật sụp mi hiện đại tránh can thiệp vào dây
chằng này.


2


Hình 1.2. Cơ nâng mi, dây chằng ngang Whitnall và cân cơ nâng mi
Cân cơ nâng mi rộng 18 mm, dài khoảng 14 - 20 mm, phần lớn cân bám
vào cơ vòng cung mi, phần ít hơn bám vào mặt trước của 1/3 trên trước sụn mi.
Do đó lực kéo của cơ nâng mi chủ yếu vào thành trước của bờ mi chứ không
phải sụn mi. Cơ nâng mi cho các sợi xơ đi lên đan xen vào cơ vòng cung mi
giúp hình thành nếp mi. Hai phần cân cơ bám vào phía trong và ngoài gọi là
sừng cơ nâng mi (Hình 1.2). Sừng cơ nâng mi ngoài dính chặt với mặt trong của
xương thành ngoài hốc mắt, sừng trong bám vào gân góc trong. Các sừng này
giúp cơ nâng mi nâng đỡ toàn bộ chiều rộng của mi. Nghiên cứu cho thấy bệnh
nhân sẽ sụp mi nặng khi sừng cân cơ tổn thương, do đó cần tôn trọng sự toàn
vẹn các sừng cân cơ này.
Cơ Muller là cơ trơn, bé, giàu mạch máu, dài 22 mm. Phía trên cơ rộng
khoảng 15 mm, phía dưới khoảng 10 mm. Cơ này bắt nguồn từ mặt dưới cân cơ
nâng mi ở gần ngang mức dây chằng Whitnall và bám chặt vào kết mạc ở phía
sau, đặc biệt là ở ngay trên bờ sụn mi trên (Hình 1.3). Cơ Muller giúp mi nâng
được khoảng 2 mm, được chi phối bởi đám rối cổ nông. Do liên quan về mặt
giải phẫu, đặc điểm giàu mạch máu của cơ, cơ dễ bị tổn thương và hay gây chảy
máu trong phẫu thuật sụp mi. Phẫu thuật can thiệp rút ngắn cơ Muller có thể
được áp dụng để điều trị sụp mi mức độ nhẹ.

3


Hình 1.3. Cơ Muller
Cơ Muller màu đỏ sẫm, giàu mạch máu nằm giữa cân cơ nâng mi và kết mạc
Cân vách hốc mắt là các sợi xơ mỏng, được cấu tạo như màng liên kết bám
vào vành xơ bao quanh hốc mắt. Cân vách hốc mắt đi xuống bám vào phần trên
cân cơ nâng mi cách mép trên của sụn mi vài milimet (Hình 1.4). Cân vách hốc mắt
có vai trò ngăn không cho mỡ hốc mắt ra trước xuống dưới. Khi cân vách hốc mắt
thoái hóa theo tuổi nhất là ở giữa mi sẽ gây thoát vị mỡ hốc mắt.
Sau cân vách hốc mắt là đệm mỡ mi giữa, còn được gọi là đệm mỡ trước
cân cơ nâng mi. Đệm mỡ này màu vàng, to, nằm ở giữa mi trên và có vỏ bao xơ
gắn vào tận mỏm ròng rọc. Đệm mỡ thứ hai ở mi trên nằm về phía mũi, màu
trắng, nhỏ hơn và có bao xơ dày hơn. Trong phẫu thuật sụp mi cùng với đệm mỡ
mi thì cân vách hốc mắt là mốc quan trọng để xác định cân cơ nâng mi (Hình
1.4).

Hình 1.4. Cân cơ nâng mi và các tổ chức hốc mắt
(A) Phần cân sát sụn mi. (B) Vách hốc mắt. (C) Đệm mỡ mi. (D) Cân cơ nâng mi

4


1.1.2. Phân bố mạch máu, thần kinh cơ nâng mi
- Động mạch: cơ nâng mi được cung cấp máu bởi các nhánh động mạch
hốc mắt trên đi vào bờ trong của cơ. Bờ ngoài của cơ do động mạch lệ cấp máu
(Hình1.5).
- Tĩnh mạch: phần hốc mắt của cơ dẫn máu về tĩnh mạch mắt, phía ngoài là
tĩnh mạch lệ. Ở phần mi do cung tĩnh mạch trên sụn đảm nhận.

Hình 1.5. Động mạch hốc mắt
Cơ nâng mi do động mạch hốc mắt trên chi phối. Phần cân cơ nâng mi
rất ít mạch máu nên không cần thiết phải cầm máu khi phẫu thuật.
- Thần kinh chi phối cơ nâng mi: Dây thần kinh số III từ nhân thoát khỏi
thân não đi vào tầng giữa nền sọ, chạy dọc theo thành ngoài xoang tĩnh mạch
hang để tới khe hốc mắt trên. Từ đây dây thần kinh số III chia nhánh đi vào
thân cơ nâng mi ở vị trí giữa 1/3 và 2/3 sau của hốc mắt.
1.1.3. Sinh lý ứng dụng lâm sàng của mi mắt
Mi mắt có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhãn cầu. Nhờ có động tác
nhắm mắt do dây thần kinh số VII điều khiển các cơ vòng cung mi mà mi mắt
giúp chống lại các yếu tố có hại từ bên ngoài như: ánh sáng, sức nóng, bụi bẩn
và các dị vật khác. Ngoài ra động tác chớp mi giúp nước mắt giàn đều lên trên
giác mạc, kết mạc, đảm bảo độ ướt cần thiết cho các tổ chức này. Ngược lại
động tác nâng hạ mi mắt được sự phối hợp của ba cơ: Cơ nâng mi trên, cơ
Muller, cơ trán trong đó cơ nâng mi đóng vai trò chính, nâng mi lên khoảng 10 –
12 mm do thần kinh III điều khiển.
1.2. BỆNH HỌC SỤP MI
Sụp mi là sự sa của mi mắt trên xuống thấp hơn vị trí bình thường của nó
(bình thường mi trên phủ rìa giác mạc cực trên khoảng 1 – 2 mm).
5


1.2.1. Phân loại sụp mi mắc phải
Sụp mi mắc phải gồm những nhóm đồng nhất và không đồng nhất, một trường
hợp có thể được xếp vào một nhóm hay hai nhóm cùng một lúc. Theo tác giả
Crowell B (1976) chia sụp mi mắc phải làm 4 nhóm sau đây:
. Sụp mi mắc phải do cơ nâng mi trên.
. Sụp mi mắc phải do thần kinh.
. Sụp mi mắc phải do chấn thương.
. Sụp mi mắc phải do cơ học.
* Sụp mi mắc phải do cơ nâng mi trên.
Khác với sụp mi do thần kinh, sụp mi mắc phải do cơ nâng mi trên có thể phẫu
thuật mang lại kết quả. Hình thái lâm sàng này gồm:
- Sụp mi do tuổi già là nhóm bệnh hay gặp nhất trong sụp mi mắc phải. Bệnh
tiến triển từ từ theo tuổi. Người ta có thể coi sụp mi tuổi già là sinh lý nhưng khi
bệnh gây ảnh hưởng nhiều tới chức năng thị giác hoặc ảnh hưởng tới một số bệnh
mắt khác thì phải điều trị. Mặc dù bệnh nhân có biểu hiện sụp mi nhưng thường chức
năng cơ nâng mi trên vẫn còn tốt. Do đó khi phẫu thuật thường đạt được sự phục hồi
tốt về chức năng và thẩm mỹ.
- Sụp mi di truyền mắc phải muộn: Bệnh biểu hiện tương tự sụp mi tuổi già
nhưng mang tính chất gia đình, xảy ra ở nhiều thành viên trong gia tộc, thường xảy
ra ở độ tuổi 40 – 50. Bệnh có thể kèm theo các tổn thương ở cơ hầu, họng xong hiếm
gặp, khi đó người bệnh có biểu hiện: sụp mi, khó nuốt, tạo nên hội chứng mắt – họng
- Liệt vận nhãn ngoài tiến triển: là bệnh hiếm gặp, xảy ra do loạn dưỡng các cơ
vận nhãn ngoài. Bệnh bắt đầu ở trẻ em hoặc tuổi vị thành niên và sụp mi diễn biến từ
từ tăng dần.
- Nhược cơ: Bệnh do bị thiếu thụ thể dẫn truyền thần kinh Acetylcholine gây
ra. Một số triệu chứng có thể đi kèm như khó nhai, khó thở, khó nuốt… xong bệnh
nhân thường đến với các bác sỹ nhãn khoa thay vì phải đến các bác sỹ thần kinh
ngay từ đầu.
- Sụp mi và thai nghén: Một số ít phụ nữ sau sinh con vài ngày xuất hiện sụp
mi. Bệnh lành tính và có thể tự khỏi sau thời gian ngắn không cần điều trị.
- Sụp mi do Corticoid: Bệnh xuất hiện ở số ít bệnh nhân dùng thuốc tra mắt có
corticoid trong một thời gian dài. Bệnh có thể có nhiều mức độ mà người bệnh
không nhận ra xong thường tự khởi sau khi dùng thuốc.
- Sụp mi do dùng mỹ phẩm bôi đen lông mi: có thể gặp khi người bệnh dùng
Mascara kéo dài.
* Sụp mi mắc phải do thần kinh.
Hầu hết các trường hợp sụp mi nguồn gốc do thần kinh thì đều không có chỉ
định phẫu thuật nhất là giai đoạn sớm vì ít mang lại hiệu quả ngoại trừ sụp mi gặp
phải trong hội chứng Horner. Các hình thái sụp mi do thần kinh gồm:
6


- Chấn thương thần kinh gây liệt cơ: Các nguyên nhân gây chấn thương tại sọ
não có thể gây sụp mi và đặc điểm là có những tổn thương phối hợp của nhiều dây
thần kinh sọ não.
- Liệt dây thần kinh số III bẩm sinh: Mặc dù là sụp mi bẩm sinh xong có thể
xếp vào nhóm này vì do sang chấn khi sinh. Bệnh thường được phát hiện sớm nhưng
không hồi phục.
- Những bệnh lý gây tổn thương dây thần kinh sọ não số III: Tổn thương có thể
ở trên nhân, tại nhân hay ngoại vi gây các bệnh cảnh lâm sàng ở các mức độ khác
nhau. Trong trường hợp này các nhà nhãn khoa chỉ có vai trò tư vấn.
- Hội chứng đau nửa đầu kèm theo liệt vận nhãn: Đau nửa đầu dữ dội một bên
sau đó là biểu hiện liệt vận nhãn. Cơn đau thường tự hết xong liệt vận nhãn có thể
không hồi phục được.
- Hội chứng Horner’s: Do tổn thương hạch giao cảm cổ làm liệt cơ Muller
gây bệnh cảnh sụp mi. Biểu hiện sụp mi, giãn đồng tử, lác ngoài, bạc màu mống
mắt.
* Sụp mi do chấn thương.
Sau một số chấn thương vùng đầu và mắt có tổn thương tới các cơ nâng mi
gây ra sụp mi, do đó nguyên nhân có thể là do cơ nâng mi cũng có thể do tổn
thương thần kinh. Vì vậy cần thăm khám tỉ mỉ để đưa ra phương pháp điều trị
phù hợp.
- Sụp mi do vết thương vùng mi gây rách, đứt cân cơ, cơ nâng mi.
- Sụp mi sau phẫu thuật: Sau các phẫu thuật đi vào hố mắt, phẫu thuật hộp sọ đi
qua hố mắt và trán …
- Sụp mi do dị vật trần ổ mắt hoặc tổn thương xương trần ổ mắt.
* Sụp mi do cơ học
Gồm các trường hợp sụp mi do u mi trên hay mô sẹo cản trở hoạt động mi
trên.
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của sụp mi tuổi già
Năm 1985 Mehta H.K cho rằng nhóm bệnh sụp mi tuổi già là nhóm bệnh hay
gặp nhất của sụp mi mắc phải nguồn gốc do cơ. Ông cho rằng cơ nâng mi trên và cơ
Muller bị tổn thương giảm dần trương lực theo tuổi. Mặt khác tổ chức đệm của ổ mắt
người già cũng bị giảm kết hợp với tổn thương tại cân cơ nâng mi, cơ Muller gây ra
sụp mi.
Cùng năm đó hai tác giả Tyers A.G và Collin J.R.O (1985) sụp mi tuổi già
do cân cơ bị tổn thương hơn là tổn thương thực thể tại cơ nâng mi trên. Các
nghiên cứu tế bào học cho thấy 80% các trường hợp sụp mi tuổi già có tổn
thương tại cân cơ nâng mi trên trong khi các tế bào cơ hoàn toàn bình thường.
Nhận định này được nhiều tác giả mang quan điểm phẫu thuật sụp mi hiện đại
ủng hộ.
7


1.2.3. Thăm khám lâm sàng
- Đánh giá mức độ sụp mi được dựa vào khoảng cách giữa bờ mi và ánh
phản chiếu đồng tử (Margin Reflex Distance - MRD). Ở tư thế mắt nhìn thẳng
khoảng cách bờ mi trên đến điểm phản quang trên giác mạc là MRD1, từ bờ mi
dưới đến điểm phản quang trên giác mạc là MRD2. Nếu ánh phản chiếu đồng tử
bị mi che lấp khi sụp mi nặng MRD1 sẽ có giá trị âm.
- Biên độ vận động cơ nâng mi được đánh giá bằng cách: yêu cầu bệnh
nhân nhìn lên trên và nhìn xuống dưới tối đa, chặn ngón cái ngang cung lông
mày cùng bên để loại bỏ lực của cơ trán. Dùng thước kẻ milimet đo khoảng vận
động này.
- Nếp mi được đánh giá nhằm xác định độ cao, độ liên tục và độ rõ nét. Ở
người châu Á nếp mi trên trung bình từ 2 - 4 mm. Đo nếp mi mắt lành để phẫu
thuật cho cân xứng giữa hai bên. Nếp mí bên sụp cao hơn bên lành nhiều thường
gợi ý một trường hợp bệnh lý cân cơ có tiên lượng tốt .
- Độ rộng khe mi bình thường từ 9 - 12 mm. Mắt bên sụp có độ rộng khe mi
thấp hơn mắt bên lành tùy theo mức độ sụp mi xong có thể do quy luật Hering che
lấp gây sai lệch trong đánh giá. Cần tìm quy luật này bằng cách nâng mi bên bị sụp
lên và quan sát mi bên lành xem có hiện tượng mi này hạ xuống thấp hơn hay
không.
1.2.4. Các dấu hiệu sụp mi nặng
- Hàng chân lông mi càng hướng xuống dưới chứng tỏ cơ nâng mi trên
càng yếu, tương ứng với tình trạng sụp mi càng nặng.
- Mất nếp gấp mi trên: trong sụp mi bẩm sinh nếp mi có thể mờ hoặc
không có, nếu so với bên lành bên sụp không có nếp mi thì thường là sụp mi
nặng tiên lượng không tốt. Ngược lại nếu nếp mi lên cao nhiều so bên lành lại
gợi ý bệnh lý đứt cân cơ tiên lượng tốt.
- Co rút cơ trán biểu hiện bằng nâng cung lông mày: co rút cơ trán và nâng
cung mày chứng tỏ chức năng cơ nâng mi trên yếu. Đáng lưu ý là hiện tượng
này có thể kéo dài sau mổ cho dù chức năng cơ nâng mi được hồi phục tốt, có
thể do cơ bị phì đại hoặc thay đổi chức năng cơ nâng mi sau mổ.
- Dấu hiệu lệch đầu vẹo cổ trong sụp mi do cản trở trục thị giác. Hiện tượng
này nếu tồn tại dai dẳng có thể gây rối loạn trương lực cơ cổ khó khắc phục, gây
cảm giác mất cân xứng mặc dù hai mắt được chỉnh cân xứng.
- Giảm thị lực do đồng tử bị che lấp. Sụp mi nặng cản trở trục thị giác làm
giảm thị lực. Nếu che lấp đồng tử hoàn toàn có thể gây nhược thị cho bệnh nhân.
Do đó nhiều tác giả chủ động can thiệp cho các bệnh nhân mắc sụp mi nặng che lấp
hoàn toàn đồng tử dù khó đánh giá chức năng cơ nâng mi trên.
- Lật mi trên thấy mi chậm trở lại vị trí cũ chứng tỏ cơ nâng mi yếu.
- Tra Neosynephrin nếu thấy sụp mi giảm do co cơ Muller, chứng tỏ cơ
nâng mi còn tốt.
8


1.3. PHẪU THUẬT SỤP MI TUỔI GIÀ
1.3.1. Sơ lược lịch sử phẫu thuật
Tại Việt Nam các tác giả Phạm Trọng Văn, Trần An, Đỗ Trọng Nghĩa đã áp
dụng phương pháp cắt ngắn cơ nâng mi, khâu lại điểm bám cơ từ cuối những
năm 1990. Tuy nhiên kỹ thuật này chưa được phổ biến rộng rãi nhất là tại các cơ
sở nhãn khoa ở vùng khó khăn.
1.3.2. Chỉ định điều trị
Phương pháp cắt ngắn cân cơ nâng mi khâu lại điểm bám cơ áp dụng cho
các trường hợp sụp mi với chức năng cân cơ nâng mi còn ở mức trung bình trở
lên (≥ 5 mm).
1.3.3. Kỹ thuật
Hiện nay phẫu thuật làm khỏe cơ điều trị sụp mi gồm phương pháp cắt
ngắn cơ Muller, gấp cân cơ nâng mi và cắt cơ nâng mi. Tuy nhiên cắt ngắn cơ
Muller chỉ áp dụng với sụp mi nhẹ, MRD1 bên sụp mi chỉ thấp hơn mắt bên lành
0,5 – 1 mm, lại dễ gây rối loạn phim nước mắt vì các tế bào hình đài chế tiết
nhầy tập trung chủ yếu ở kết mạc bờ trên sụn mi nên ít được sử dụng.
1.3.3.1. Cắt ngắn cân cơ nâng mi trên
Phương pháp được John mô tả từ năm 1975. Phương pháp này có thể thực
hiện qua đường kết mạc hoặc qua đường rạch da. Tuy nhiên cắt cơ nâng mi qua
đường rạch da thường được áp dụng hơn vì dễ thực hiện và định lượng. Phẫu
thuật qua đường da gồm các bước sau:
- Bước 1: Đánh dấu đường rạch da.
- Bước 2: Rạch da mi tách cơ vòng cung mi và cân vách hốc mắt, bộc lộ
đệm mỡ mi.
- Bước 3: Phẫu tích, bộc lộ cân cơ nâng mi trên.
- Bước 4: Quan sát, xác định các biến đổi cân cơ nâng mi trên.
- Bước 5: Xác định lượng cơ cần cắt bỏ, cắt cơ rồi khâu cố định lại vào
điểm bám cơ trên sụn mi. Đặt 3 mũi chỉ Vicryl 6.0 tại vị trí hai sừng cân cơ nâng
mi trên và điểm giữa từ chỗ bám cơ tới 1/3 trên sụn mi tương xứng với rìa trong
đồng tử, khâu cố định mũi chỉ giữa bằng chỉ Nilon 6.0.
- Bước 6: Khâu da bằng chỉ Nilon 6.0 mũi rời hoặc mũi vắt.

A

B
9


C
D
Hình 1.9. Phẫu thuật cắt ngắn cân cơ nâng mi
(A) Mở cân vách hốc mắt và tìm đệm mỡ mi, bộc lộ, quan sát cân cơ nâng mi trên
(B) Sau khi cắt cân cơ, khâu nối cân cơ nâng mi trên với sụn mi.
(C) Khâu thêm 2 mũi chỉ phía mũi và thái dương. (D) Khâu cơ vòng cung mi
vào cân cơ nâng mi để tạo nếp mi.
1.3.4. Kết quả cắt ngắn cân cơ nâng mi
Phẫu thuật cắt ngắn cân cơ nâng mi trên đã được nhiều tác giả trên thế giới
nghiên cứu và áp dụng thành công. Điều trị sụp mi nhằm mục đích giải phóng
trục thị giác, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ. Trong đó phương pháp cắt ngắn cân cơ
nâng mi được coi là an toàn và sinh lý nhất. Phẫu thuật cắt ngắn cân cơ nâng mi
được chỉ định đúng sẽ giúp cải thiện tốt về MRD1, độ rộng khe mi, chức năng
cơ nâng mi.
Tại Việt Nam với việc áp dụng phương pháp cắt da mi thừa cho bệnh nhân
sụp mi độ I, phương pháp của Tyers A.G cho sụp mi độ II, treo cơ trán cho
bệnh nhân sụp mi độ III tác giả Trần An (2000) cho tỷ lệ thành công 92%. Trần
Đức Nghĩa áp dụng phương pháp duy nhất của Tyers A.G cho tỷ lệ thành công
91,2%. Nguyễn Thanh Huyền (2014) tỷ lệ 94,5% thành công.
1.3.5. Biến chứng phẫu thuật
* Biến chứng trong phẫu thuật
+ Chảy máu: do tổn thương các mạch máu, cơ Muller khi phẫu thuật hoặc
bệnh toàn thân như cao huyết áp, bệnh máu. Để hạn chế chảy máu nên để tránh
mổ các bệnh nhân phẫu thuật mi 6 tháng trước đó, bệnh nhân dùng thuốc aspirin
1 tháng trước mổ.
+ Rách kết mạc: xảy ra ở thì bóc tách cân cơ nâng mi trên hoặc đâm kim
xuyên quá bề dày sụn mi. Xử trí như các trường hợp rách kết mạc thông
thường.
+ Đứt cơ: do cân cơ nâng mi quá mỏng, cơ bị dị sản, co kéo cơ quá mức
trong phẫu thuật. Thường xử lý biến chứng này bằng cách khâu phục hồi hoặc
chuyển sang phương pháp phẫu thuật khác.
* Biến chứng sau phẫu thuật

10


Theo Beard một kết quả hoàn hảo sau mổ sụp mi cần hội đủ các tiêu chuẩn
sau:
(1)

Độ sụp mi được điều chỉnh đúng với mọi hướng nhìn so với rìa giác
mạc cực trên.

(2)

Mi trên cong đều mềm mại không có biến dạng nào.

(3)

Nếp mi đôi hai bên cân xứng.

(4)

Mi mắt nhắm mở bình thường.

(5)

Không hở mi khi ngủ.

(6)

Khi nhìn thẳng không có sự tham gia của cơ trán.

(7)

Không có song thị và lác sau mổ.

(8)

Chớp mắt của mi bình thường.

Các biến chứng sau mổ sụp mi là:
+ Chỉnh quá mức: do cắt cơ quá mức hoặc co rút cơ sau mổ. Biến chứng
này hay gặp hơn ở những mắt mổ lần hai. Khi gặp biến chứng này có thể giải
quyết bằng cách day lên mi trên nhẹ nhàng ngay 2 đến 3 ngày đến 2 tuần đầu
sau mổ kết hợp tập nhắm mắt. Trường hợp hở mi quá 3 mm có thể phải phẫu
thuật lại (nối dài hoặc lùi chỗ bám của cân cơ nâng mi…).
+ Chỉnh non: do cắt chưa đủ lượng cơ cần thiết, giảm cơ lực của cơ nâng mi
trên sau mổ, thường gặp với nhóm sụp mi biên độ cơ kém. Biến chứng này cần
được theo dõi tốt sau mổ để tránh can thiệp không cần thiết khi mi còn nề, khả
năng nhắm mở mắt còn chưa mềm mại, chức năng cơ chưa hồi phục sau phẫu
thuật. Nếu cần có thể phẫu thuật lại sau 6 tháng.
+ Viêm loét giác mạc: do hở lộ mi, quặm mi, đặc biệt với trường hợp dấu
hiệu Bell (-). Bệnh nhân có dấu hiệu Bell yếu hay âm tính vẫn được chỉ định
phẫu thuật xong phải tránh hở mi sau mổ. Loét giác mạc sau phẫu thuật sụp mi
thường chiếm tỷ lệ 3%.
+ Quặm mi: do cắt quá nhiều cơ nâng mi tạo cho lớp phía trong quá ngắn
so với lớp ngoài hoặc do khâu cơ nâng mi quá chỗ bám cơ nhằm tăng hiệu quả
nâng mi. Xử trí bằng day nhẹ nhàng lên mi tuần đầu sau mổ, khi cần có thể phẫu
thuật khâu lại chỗ bám cơ nâng mi.
+ Nếp da mi trên không đạt thẩm mỹ: hiện tượng này có thể xảy ra trong 1
- 2 tuần đầu sau mổ do phù nề mi. Nếu tồn tại kéo dài có thể chỉnh sửa sau 6
tháng bằng cách tạo hình nếp mi tùy theo nhu cầu bệnh nhân.
1.3.6. Tình hình nghiên cứu phẫu thuật cắt ngắn cơ nâng mi tại Việt Nam
Tại Việt Nam, năm 2000 tác giả Trần An tiến hành phối hợp nhiều phương
pháp điều trị sụp mi dựa theo độ sụp mi. Tác giả Trần Đức Nghĩa lại tiến hành
phương pháp của Tyers A.G nhận thấy phương pháp này đem lại kết quả cao ở
nhóm có chức năng cơ nâng mi trên tốt và trung bình.
11


Việc cắt ngắn cơ Muller đã được nhiều tác giả chỉ ra rằng có thể gây sụp mi
tái phát do làm tổn thương cơ nâng mi, mặt khác gây khô mắt do tổn thương các
tế bào hình đài chế nhầy tập trung nhiều ở kết mạc sụn mi trên. Nghiên cứu tiến
hành phương pháp cắt ngắn cân cơ nâng mi đơn thuần kết hợp khâu lại chỗ bám
cơ nâng mi liệu có đủ hiệu quả nâng mi. Nhất là khi tiến hành tại một cơ sở mới
triển khai phẫu thuật sụp mi, phẫu thuật viên còn ít kinh nghiệm như Bệnh viện
Mắt Hà Giang cần được đánh giá cẩn thận, khoa học để rút ra các bài học kinh
nghiệm, nâng cao hiệu quả điều trị là cần thiết.

12


Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các bệnh nhân được chẩn đoán là sụp mi tuổi già và được phẫu thuật theo
phương pháp cắt ngắn cân cơ nâng mi kết hợp khâu lại chỗ bám cơ tại Bệnh viện
Mắt Hà Giang và tại cộng đồng (từ tháng 12/2016 đến 10/2017). Bệnh nhân
nghiên cứu được chọn và loại trừ theo các tiêu chuẩn dưới đây.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Các bệnh nhân sụp mi tuổi già tuổi từ 50 trở lên do bệnh lý cân cơ nâng mi
trên, đồng ý tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân phải đảm bảo tái khám theo đúng
lịch hẹn.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân sụp mi tuổi già đang có bệnh lý cấp tính tại mắt (Viêm loét
giác mạc, viêm mủ túi lệ, glocoma …).
- Bệnh nhân có bệnh toàn thân nặng (Bệnh viêm tắc đường hô hấp, bệnh
tim mạch, đái tháo đường nặng…).
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Loại hình nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng không có nhóm chứng.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được tính theo công thức
n = Z2(1-α/2)

p.(1 – p)
d2

= Z2(1-α/2)

p.q
d2

Trong đó
Z: hệ số tin cậy.
Z2(1-α/2): giá trị Z = 1,96 tương ứng với α = 0,05.
d: Sai lệch giữa nhóm nghiên cứu và tỷ lệ trong quần thể với d = 0,05.
p: Tỷ lệ phẫu thuật cắt ngắn cân cơ nâng mi trên thành công của nghiên
cứu tham khảo p = 0,96.
q = 1 – p.
Chúng tôi tính ra n = 31.
Như vậy số mắt tối thiểu phải đạt là 31 mắt.

13


2.2.3. Các bước tiến hành
Khám sàng lọc để chọn lựa những trường hợp sụp mi tuổi già do bệnh lý
cân cơ. Xác định các chỉ số sụp mi cho nghiên cứu. Phẫu thuật được tiến hành
và theo dõi bệnh nhân theo quy trình nghiên cứu.
Sàng lọc bệnh nhân

Chọn bệnh nhân sụp mi tuổi già do bệnh
lý cân cơ với biên độ vận động cơ
nâng mi ≥ 5 mm

Đánh giá lâm sàng, điền hồ sơ

Tiến hành phẫu thuật

Theo dõi, thu thập kết quả ở các
thời điểm 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng

14


2.2.4. Phương tiện nghiên cứu
2.2.4.1. Phương tiện phục vụ khám lâm sàng
- Thước kẻ milimet.
- Đèn bút.
- Bút đánh dấu.
- Máy ảnh.
- Bảng thị lực Landolt, hộp thử kính.
- Nhãn áp kế Maclakov.
- Bộ lăng kính đo độ lác.
- Sinh hiển vi khám bệnh.
2.2.4.2. Phương tiện phục vụ phẫu thuật
- Bộ dụng cụ mổ sụp mi: dao số 15, kéo thẳng, kéo cong đầu tù, pince kết
mạc, kìm cặp kim, vành mi đơn, móc lác, dao điện, chỉ Nilon 6.0, chỉ Vicryl 6.0,
bông gạc, bơm kim tiêm 5 ml.
- Thuốc trong mổ: thuốc sát trùng Betadin 10%, thuốc tê bề mặt Dicain,
thuốc tê Lidocain, thuốc và phương tiện cho gây mê hồi sức cấp cứu.
2.2.4.3. Phương tiện phục vụ sau mổ
- Thuốc sau mổ: kháng sinh tại chỗ và toàn thân.
- Thuốc chống viêm, giảm phù nề.
- Thuốc dinh dưỡng giác mạc.
2.2.5. Cách thức nghiên cứu
2.2.5.1. Khám bệnh nhân trước phẫu thuật
- Hỏi bệnh
+ Thông tin liên lạc: địa chỉ và số điện thoại.
+ Tuổi.
+ Giới tính.
+ Khai thác tiền sử.
• Tiền sử sụp mi: thời điểm sụp mi, tiến triển theo thời gian.
• Tiền sử dùng thuốc (Aspirin, thuốc huyết áp, thuốc chống nhược cơ…).
• Tiền sử phẫu thuật mắt (tạo nếp mi, sụp mi, lác, u mi…).
• Tiền sử gia đình: sụp mi, lác, nhược cơ….

15


• Tiền sử các bệnh toàn thân (phổi tắc nghẽn, cao huyết áp, tim mạch, rối
loạn đông máu…).
- Khám lâm sàng
+ Thử thị lực, đo khúc xạ, chỉnh kính (nếu cần).
+ Đo nhãn áp.
+ Khám vận nhãn theo 9 hướng nhìn.
+ Tìm các tổn thương tại mi: bình thường, biến dạng, quặm mi, sẹo mi, lật
mi, co quắp mi, viêm bờ mi.
+ Khám, tìm dấu hiệu Bell: Bệnh nhân được yêu cầu nhắm mắt để xác định
liệt dây VII đi kèm hay không có dấu hiệu Bell.

Hình 2.1. Dấu hiệu Bell
A. Nhãn cầu không chuyển động (dấu hiệu Bell (-).
B. Nhãn cầu di chuyển nhẹ lên trên và ra ngoài (dấu hiệu Bell yếu).
C. Nhãn cầu di chuyển lên trên và ra ngoài (dấu hiệu Bell (+).
+ Khám, tìm hiện tượng mất đồng vận mi trên - nhãn cầu: đánh giá bằng
cách cho bệnh nhân nhìn lên hay nhìn xuống dưới và quan sát vận động của mi
trên (Hình 2.2). Mi trên bị co rút khi bệnh nhân nhìn xuống dưới chứng tỏ có
hiện tượng mất đồng vận mi trên - nhãn cầu.

16


Hình 2.2. Hiện tượng mất đồng vận mi trên – nhãn cầu
Mi mắt phải không di động theo nhãn cầu khi liếc mắt xuống
+ Khám, tìm quy luật Hering bằng cách nâng mi bên mắt sụp lên và quan
sát bên mắt lành có hạ xuống thấp hay không.

a

b

Hình 2.3. Quy luật Hering
a. Mắt trái sụp mi, mắt phải co rút mi
b. Nâng mi mắt trái, mắt phải hạ xuống
+ Khám sinh hiển vi tìm viêm nhiễm bán phần trước nhãn cầu, khô mắt,
các bệnh mắt phối hợp khác.
+ Đo chỉ số MRD1 bằng cách cho bệnh nhân nhìn thẳng và đo khoảng cách
từ điểm cao nhất của mi trên đến ánh phản quang giác mạc. Phân loại mức độ
sụp mi theo Sullivan và Beard.

Hình 2.4. MRD1 ở tư thế mắt nhìn thẳng
+ Đo biên độ vận động cân cơ nâng mi bằng cách đặt ngón tay cái
chặn ngang cung lông mày, đo biên độ vận động mi khi bệnh nhân nhìn lên
và xuống dưới tối đa. Phân loại biên độ cơ nâng mi theo Holds (2003).

a

b

a. Nhìn lên tối đa

b. Nhìn xuống tối đa
17


Hình 2.5. Đánh giá chức năng cơ nâng mi
Biên độ vận động mi trên khi nhìn lên và nhìn xuống tối đa.
+ Đo độ rộng khe mi bằng cách xác định khoảng lớn nhất gữa hai mi khi
bệnh nhân nhìn thẳng, đối chiếu với bên lành. Phân loại theo Berke.
+ Đo chiều cao nếp mi, so sánh với bên lành để xác định đường rạch da.
+ Khám mắt còn lại: thị lực, nhãn áp, các bệnh lý khác.
+ Khám toàn thân: tìm các bệnh lý toàn thân phối hợp nếu có.
2.2.5.2. Cận lâm sàng
Làm các xét nghiệm cơ bản: công thức máu, máu chảy, máu đông, nước
tiểu toàn phần và khám nội khoa .... để chuẩn bị phẫu thuật.
2.2.5.3. Điều trị phẫu thuật
- Chuẩn bị bệnh nhân
Giải thích cho bệnh nhân hiểu về tình trạng bệnh, quy trình phẫu thuật và
nguy cơ biến chứng có thể xảy ra trong và sau phẫu thuật, yêu cầu bệnh nhân ký
giấy cam đoan chấp nhận phẫu thuật.
- Quy trình phẫu thuật
+ Bước 1: Đánh dấu đường rạch da.
+ Bước 2: Rạch da mi, tách cơ vòng cung mi, cân vách hốc mắt, bộc lộ
đệm mỡ mi.
+ Bước 3: Phẫu tích, bộc lộ cân cơ nâng mi trên.
+ Bước 4: Quan sát, xác định các biến đổi cân cơ nâng mi trên.
+ Bước 5: Đặt compa xác định vị trí cân cơ nâng mi cần cắt và đặt mũi chỉ
chờ.
+ Bước 6: Thắt chỉ chờ tại ví trí cơ được xác định, đánh giá tình trạng mi
sau đặt chỉ (MRD1).
+ Bước 7: Điều chỉnh lượng cân cơ cần cắt dựa theo độ hở mi, độ vểnh bờ
mi nếu cần và ghi nhận lượng cơ cần cắt bỏ. Khâu cố định phần cân cơ 3 mũi chỉ
Vicryl 6.0 tại vị trí hai sừng cân cơ nâng mi và điểm giữa (từ cân cơ tới 1/3 trước
trên sụn mi tương ứng với rìa trong đồng tử). Khâu lại chỗ bám cơ ở giữa bằng
chỉ Nilon 6.0.
+ Bước 8: Khâu cân cơ nâng mi với cơ vòng cung mi để tạo nếp mi (nếu cần).
+ Bước 9: Khâu da bằng chỉ Nilon 6.0 mũi rời hoặc mũi vắt.
- Chăm sóc sau phẫu thuật
+ Chườm đá ngay ngày đầu sau mổ.
18


+ Các thuốc dùng toàn thân và tại chỗ gồm có:
Zinnat 0,25 gram/ lần, 2 lần/ ngày trong 5 ngày.
Alphatrymotripsin 10mg/ lần, 2 lần/ ngày trong 5 ngày.
Hapacol Codein (1 viên 1 lần) khi đau.
Tra Sanlein 0,1% 3 lần/ ngày.
Mỡ Maxitrol (Alcon) bôi vết mổ 3 lần/ ngày.
2.2.5.4. Theo dõi, đánh giá kết quả điều trị
- Quy trình theo dõi sau phẫu thuật
Khám lại ở các thời điểm 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng sau mổ. Quan sát bệnh
nhân ở 3 tư thế mắt nhìn thẳng trước mặt, nhìn lên và nhìn xuống tối đa.
2.2.5.5.Các tiêu chí đánh giá.
- Các tiêu chí đánh giá trước mổ:
+ Độ sụp mi


Sụp mi nhẹ: mi sụp 1 - 2 mm tương đương MRD1 là 2 - 3 mm.



Sụp mi trung bình: mi sụp 3 mm tương đương MRD1 là 1 mm.



Sụp mi nặng: mi sụp ≥ 4 mm tương đương MRD1 là ≤ 0 mm.

+ Biên độ cơ nâng mi


Mức độ rất tốt ≥ 13 mm.



Mức độ tốt 10 - 12 mm.



Mức độ khá 7 - 9 mm.



Mức độ trung bình 5 - 6 mm.



Mức độ kém ≤ 4 mm.

+ Độ rộng khe mi


ĐRKM giảm nhiều: ĐRKM mắt sụp thấp hơn bên lành ≥ 3 mm.



ĐRKM giảm trung bình: ĐRKM mắt sụp thấp hơn bên lành 1 - 2 mm.



ĐRKM giảm ít: ĐRKM mắt sụp thấp hơn bên lành ≤ 1 mm.

- Các tiêu chí đánh giá sau mổ:
+ MRD1.


Còn sụp mi nặng: MRD1 ≤ 0 mm.



Còn sụp mi trung bình: MRD1 = 1 mm.



Còn sụp mi nhẹ: MRD1 từ 2 - 3 mm.



Hết sụp mi: MRD1 > 3 mm.

+ Biên độ cơ nâng mi trên được so sánh với thời điểm trước mổ.
19




Thành công: biên độ cơ nâng mi tăng hoặc bằng trước mổ.



Thất bại: biên độ cơ nâng mi giảm so với trước mổ.

+ Độ rộng khe mi: đo và so sánh với bên lành.


Thành công: lệch < 2 mm so bên lành.



Thất bại : lệch ≥ 2 mm so bên lành.

+ Tình trạng bờ mi sau mổ:


Thành công: bờ mi cong đều, không có phản ứng tại chỗ.



Thất bại: bờ mi biến dạng hoặc có phản ứng tại chỗ.

+ Các biến chứng của phẫu thuật:


Chỉnh non: mi sụp thấp hơn ≥ 2 mm bên lành.



Chỉnh gìa: mi sụp cao hơn bên lành ≥ 2 mm.

+ Tiêu chuẩn đánh giá dựa theo 3 mức độ:






Tốt: MRD1 > 3 mm, độ rộng khe mi 2 bên khác biệt dưới 1 mm,
biên độ cơ nâng mi tăng sau mổ, bờ mi cong đều và không có phản
ứng tại chỗ.
Trung bình: MRD1 từ 2 – 3 mm, độ rộng khe mi 2 bên khác biệt 1
- 2 mm, biên độ cơ nâng mi bảo tồn sau mổ, bờ mi cong đều, có
phản ứng tại chỗ mức độ nhẹ.
Kém: MRD1 ≤ 1 mm, độ rộng khe mi 2 bên khác biệt từ 2 mm trở
lên, biên độ cơ nâng mi giảm sau mổ, bờ mi biến dạng hay có phản
ứng tại chỗ nặng.
Tốt và trung bình được coi là thành công, kém là thất bại.

- Đánh giá kết quả phẫu thuật cụ thể:
+ Đánh giá kết quả thay đổi MRD1.
+ Đánh giá kết quả thay đổi độ rộng khe mi.
+ Đánh giá kết quả thay đổi biên độ cơ nâng mi.
+ Đánh giá về biến chứng phẫu thuật, phương pháp xử trí và kết quả.
- Đánh giá một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật:
+ Độ sụp mi: tỷ lệ thành công của phẫu thuật ở các nhóm sụp mi nhẹ, sụp mi
trung bình, sụp mi nặng.
+ Biên độ cơ nâng mi: tỷ lệ thành công của phẫu thuật ở các nhóm biên độ cơ
rất tốt, biên độ cơ tốt, biên độ cơ khá, biên độ cơ trung bình.
2.2.6. Thu thập và xử lý số liệu
Tất cả thông tin bệnh nhân được điền vào mẫu bệnh án nghiên cứu (theo bản
phụ lục đính kèm). Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0.
20


2.2.7. Đạo đức trong nghiên cứu
Các hoạt động nghiên cứu được Hội đồng thẩm định khoa học Bệnh viện
Mắt Hà Giang thông qua. Bệnh nhân phẫu thuật và theo dõi trong nghiên cứu
đều được giải thích rõ về tình hình phẫu thuật và triển vọng sau phẫu thuật. Các
buổi tư vấn, khám bệnh đều được thực hiện với sự đồng ý của bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân. Các biến chứng trong và sau phẫu thuât đều được báo cáo
trung thực và có hướng xử lý kịp thời, đúng đắn.

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Tuổi và giới
3.1.1.1. Tuổi
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi

n

%

50 - 60 tuổi

14

45,2

60 - 70 tuổi

10

32,2

≥ 70 tuổi

7

22,6

Tổng

31

100,0

21


Biểu đồ 1: Tỷ lệ phần trăm phân bố theo nhóm tuổi nghiên cứu

Nhận xét: Theo bảng trên độ tuổi từ 50 – 60 tuổi có 14 ca, chiếm 45,2%;
độ tuổi từ 60-70 tuổi có 10 ca, chiếm 32,3%; độ tuổi trên 70 tuổi có 7 ca mắc
chiếm 22,6%. Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật trong nhóm từ 50-60 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất ( 45,2%), nhóm bệnh nhân trên 70 tuổi chiếm tỷ lệ thấp
nhất (22,6 %).

3.1.1.2. Giới
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Giới tính

n

%

Nam

17

54,8

Nữ

14

45,2

Tổng

31

100,0

Biểu đồ 2: Phân bố bệnh nhân theo giới tính

22


Nhận xét: theo bảng trên bệnh nhân nam có 17 ca chiếm 54,8%, bệnh
nhân nữ có 14 ca, chiếm 45,2%. Tác giả nhận thấy không có sự chênh lệch nhiều
giữa nhóm bệnh nhân nam và nữ có chỉ định phẫu thuật.
3.1.2. Hình thái sụp mi
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo hình thái sụp mi
Hình thái sụp mi

n

%

Một mắt

25

80,6

Hai mắt

6

19,4

Tổng

31

100,0

Số bệnh nhân mắc bệnh ở 1 mắt có 25 người, chiếm 80,6%; bệnh nhân bị
cả 2 mắt có 6 người, chiếm 19,4%. Nhóm tác giả đã phẫu thuật can thiệp trên cả
2 mắt của người bệnh, tuy nhiên chỉ chọn 1 mắt để đưa vào nghiên cứu. Do đó
số ca phẫu thuật thực tế là 37 ca, tuy nhiên nghiên cứu đánh giá trên 31 mắt của
người bệnh.
3.1.3. Đặc điểm tổn thương
3.1.3.1. Mức độ sụp mi
Bảng 3.4. Mức độ sụp mi
Sụp mi nhẹ
Sụp mi trung bình
Sụp mi nặng
Tổng số

Số mắt
8
17
6
31

Tỷ lệ
25.8%
54.8%
19.4%
100%

Biểu đồ 3: Tỷ lệ phần trăm theo mức độ sụp mi

Nhận xét: Trong sụp mi với biên độ cân cơ nâng mi còn tốt chúng tôi gặp
sụp mi ở cả 3 mức độ. Sụp mi mức trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất 54,8 %. Tiếp
theo là sụp mi nhẹ là 25,8 %. Sụp mi nặng chỉ có 19,4 %.
23


3.1.3.2. Liên quan giữa độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi
Bảng 3.5. Liên quan giữa độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi
Chức năng cơ nâng mi

10 - < 11mm

Sụp mi nhẹ
Sụp mi trung bình
Sụp mi nặng
Tổng số

1
7
4
12

`11 - <13

≥13 mm

mm

3,2%
22,6%
12,9%
38,7 %

3
9
1
13

9,7%
29 %
3,2%
41,9 %

4
1
1
6

12,9%
3,2%
3,2%
19,4 %

Biểu đồ 4: Số mắt phân loại theo độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi

Nhận xét: Đối với sụp mi nhẹ chủ yếu gặp chức năng cân cơ nâng mi còn
rất tốt (≥ 13 mm) có 4 mắt với tỷ lệ 12,9%, chức năng cơ 10 mm có 01 bệnh nhâ
tỷ lệ ít nhất 3,2%.
Với sụp mi nặng, chức năng cơ nâng mi chỉ 10 mm có 4 mắt, tỷ lệ cao
nhất 12,9,%, còn chức năng cơ nâng mi rất tốt (≥ 13 mm) có 01ca là 3,2%.
Sụp mi trung bình có số bệnh nhân đông nhất 17 mắt chiếm 54,8 %, trong đó
32,2 % có chức năng cơ nâng mi tốt.
Mức độ cân cơ nâng mi càng tốt thì mức độ sụp mi nhẹ và ngược lại.
3.2. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
3.2.1. Kết quả
Bảng 3.6. Đánh giá mức độ sụp mi sau phẫu thuật
Mức độ sụp
mi
Sau 1 tuần
Sau 1 tháng
Sau 3 tháng

Hết sụp mi
28
29
29

Nhẹ

90,3%
93,5%
93,5%
24

2
2
2

6,5%
6,5%
6,5%

Trung bình
1
0
0

3,2%
0%
0%


Sau phẫu thuật 1 tuần chúng tôi đánh giá lại độ sụp mi của 31 trường hợp,
thấy có có 28 trường hợp hết sụp mi hoàn toàn với MRD1 ≥ 3,5 mm chiếm tỷ lệ
90,3%. Có 2 trường hợp sụp mi nhẹ (MRD1= 3 mm) mổ non có tỷ lệ 6,5%. Một
trường hợp có nguy cơ tái phát với độ sụp mi trung bình MRD1 = 1,5 mm.
Trường hợp này được theo dõi phẫu thuật lần 2 sau một tuần cho kết quả tốt.
Sau 3 tháng theo dõi và điều trị còn 2 bệnh nhân sụp mi mức độ nhẹ chiếm
6,5%, như vậy tỷ lệ thành công về giải phẫu của phẫu thuật là 93,5%.
Biểu đồ 5: . MRD1 trung bình trước và sau phẫu thuật 1 tháng

Theo biểu đồ 5 trên, MRD1 trung bình trước mổ là 2,03 ± 1,29 mm, sau
phẫu thuật 1 tháng là 3,99 ± 0,33mm. Thấy sự cải thiện của mức độ sụp mi. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.7. Mức độ sụp mi và MRD1 sau phẫu thuật 1 tháng
MRD1

< 3,5 mm

≥ 3,5 mm

Sụp mi nhẹ

0%

100%

Sụp mi trung bình

0%

100%

9,7 %

90,3 %

Sụp mi nặng

Ở nhóm sụp mi nhẹ và trung bình, tỷ lệ phẫu thuật thành công (MRD1≥
3,5 mm) là 100%, cao hơn so với nhóm sụp mi ở mức độ trung bình (90,3 %).
Biểu đồ 6: MRD1 trung bình qua các thời điểm theo dõi

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×