Tải bản đầy đủ

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng nghiên cứu điển hình ở thành phố hà nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

NGÔ THANH MAI

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
(Phân bố Lực lượng Sản xuất và Phân vùng Kinh tế)
Mã số: 62340410

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. LÊ THU HOA
2. PGS.TS. NGUYỄN DANH SƠN

Hà Nội - 2018



LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi
cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi
phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày

tháng
Tác giả

Ngô Thanh Mai

năm 2018


LỜI CẢM ƠN
Trải qua rất nhiều khó khăn về sức khỏe, luận án đã được hoàn thành trước hết
bằng sự nỗ lực và cố gắng của tác giả trong nghiên cứu, nhưng không thể thiếu sự giúp
đỡ, tư vấn, động viên của rất nhiều người. Từ đáy lòng mình, tác giả xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc và trân trọng cảm ơn những tình cảm đó.
Lời cảm ơn đầu tiên xin phép được gửi đến bố mẹ, chồng, và hai con Anh Tâm
- Gia Huy đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi có thể vững bước,
chuyên tâm vào công việc nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Lê Thu Hoa và PGS.TS Nguyễn
Danh Sơn đã tận tình hướng dẫn chuyên môn, gợi mở những hướng đi, giới thiệu tài
liệu tham khảo, tạo điều kiện để tôi tham gia các buổi hội thảo, giúp tôi hoàn thành
luận án.
Lời cảm ơn chân thành tôi xin được trân trọng gửi tới Ban Lãnh đạo, Thạc sĩ
Khánh Ngọc, Tuyết Nhung và các cán bộ của Viện Đào tạo Sau đại học đã hỗ trợ rất
nhiệt tình về các thủ tục hành chính trong thời gian học tập và hoàn thành luận án.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Khoa và Bộ môn Kinh tế - Quản lý
Tài nguyên và Môi trường, các anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ
nhiệt tình về chuyên môn.
Lời cảm ơn sâu sắc xin được gửi đến em Hà, chị Nga ở HTX Thành Công, chị
Thuở Hội phụ nữ xã Sài Sơn và em Phạm Ngọc Toàn - Viện Khoa học Lao động và
Xã hội đã cung cấp thông tin và hỗ trợ xử lý dữ liệu.
Cuối cùng, lời tri ân tôi xin được gửi đến chị Mai Hoa, bạn Thanh Huyền và em
Đinh Đức Trường - những người chị, người bạn, người em của tôi dưới mái nhà ĐH
Kinh tế Quốc dân - đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ những thời khắc khó khăn nhất để
tôi có thể hoàn thành luận án của minh.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn./.




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Sự cần thiết của đề tài ........................................................................................ 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài .............................. 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 15
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 16
5. Kết cấu của Luận án......................................................................................... 17
6. Những đóng góp mới của Luận án .................................................................. 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG ........................................................................ 20
1.1. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị .......................................................... 20
1.1.1. Khái niệm và ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đô thị.................................. 20
1.1.2. Khái niệm và mục tiêu của quản lý chất thải rắn đô thị ........................................ 23
1.1.3. Lý thuyết quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững.......................................... 25
1.2. Quản lý dựa vào cộng đồng ........................................................................... 27
1.2.1. Khái niệm cộng đồng và quản lý dựa vào cộng đồng........................................... 27
1.2.2. Đặc điểm và điều kiện của quản lý dựa vào cộng đồng ....................................... 28
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình quản lý dựa vào
cộng đồng ......................................................................................................................... 30
1.2.4. Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng ............................................................... 32
1.3. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng .......................... 33
1.3.1. Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng .................. 33
1.3.2. Cơ cấu tổ chức của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào
cộng đồng ......................................................................................................................... 34
1.3.3. Lý thuyết về hành động tập thể.............................................................................. 36
1.4. Kết luận chương 1 ......................................................................................... 40


CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................... 41
2.1. Quy trình thực hiện luận án .......................................................................... 41
2.2. Nguồn dữ liệu................................................................................................. 41
2.2.1. Nguồn dữ liệu thứ cấp ............................................................................................ 41
2.2.2. Nguồn số liệu sơ cấp .............................................................................................. 43
2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu........................................................ 48
2.3.1. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền
vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ................ 48
2.3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp
bền vững cho mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ......... 53
2.3.3. Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia
đình nhằm cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ................................. 58
2.3.4. Các phương pháp phân tích và xử lý số liệu khác ................................................ 61
2.4. Kết luận chương 2 ......................................................................................... 62
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ
THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................. 63
3.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Thành phố Hà Nội ............................................. 63
3.1.1. Tăng trưởng kinh tế ................................................................................................ 63
3.1.2. Đô thị hóa và gia tăng dân số ................................................................................. 65
3.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội ..... 66
3.2.1. Khối lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị .............................................. 66
3.2.2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị.............................................................. 67
3.2.3. Hiện trạng phân đoạn thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị ............................... 68
3.2.4. Hiện trạng phân đoạn vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị .......................... 70
3.2.5. Hiện trạng phân đoạn xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị .................................... 70
3.2.6. Hiện trạng phân đoạn tái chế chất thải rắn sinh hoạt đô thị .................................. 72
3.3. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố
Hà Nội ................................................................................................................... 73
3.3.1. Xã hội hóa - chủ trương đặt nền tảng cho các sáng kiến dựa vào cộng đồng ...... 73
3.3.2. Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên
cứu ở Thành phố Hà Nội.................................................................................................. 75


3.4. Phân tích tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
dựa vào cộng đồng qua 02 nghiên cứu ở Thành phố Hà Nội ............................. 82
3.4.1. Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh kinh tế..................................................................... 82
3.4.2. Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh xã hội ...................................................................... 87
3.4.3. Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh môi trường ............................................................. 97
3.4.4. Nhóm chỉ tiêu trên khía cạnh thể chế/quản lý .....................................................100
3.5. Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp bền vững của 2 mô hình quản lý chất
thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội .................. 104
3.5.1. Tính toán các chỉ số riêng biệt .............................................................................104
3.5.2. Tính toán các chỉ số thành phần ..........................................................................108
3.5.3. Tính toán chỉ số tổng hợp bền vững ....................................................................109
3.6. Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện hệ thống quản lý
chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ............................................ 112
3.6.1. Thống kê mô tả mẫu điều tra trên 2 địa bàn nghiên cứu ....................................112
3.6.2. Kết quả ước lượng mô hình .................................................................................115
3.7. Kết luận chương 3 ....................................................................................... 119
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM
HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNg THEO HƯỚNG BỀN VỮNG .................................... 120
4.1. Căn cứ đề xuất định hướng và khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện
mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị ở Thành phố Hà Nội .............. 120
4.1.1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030 .............................................................................................120
4.1.2. Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2050. .......................................................................................................................122
4.1.3. Cơ chế, chính sách đối với quản lý chất thải rắn và vấn đề xã hội hóa ..............125
4.1.4. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với mô hình quản lý chất thải rắn
sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng ở Thành phố Hà Nội ............................................132
4.2. Định hướng hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa
vào cộng đồng theo hướng bền vững ................................................................. 137
4.2.1. Nguyên tắc trong hoạch định và xây dựng chính sách .......................................137
4.2.2. Định hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô
thị dựa vào cộng đồng ....................................................................................................137


4.2.3. Định hướng xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách .....................................138
4.3. Một số khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện mô hình quản lý chất thải
rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng theo hướng bền vững ........................ 138
4.3.1. Khuyến nghị về cơ chế chính sách ......................................................................139
4.3.2. Khuyến nghị về kinh tế ........................................................................................140
4.3.3. Khuyến nghị về quản lý .......................................................................................143
4.3.4. Khuyến nghị về nâng cao nhận thức cộng đồng .................................................145
4.4. Kết luận chương 4 ....................................................................................... 146
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ..... 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 151
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 163


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT

Bộ Tài nguyên và Môi trường

BVMT

Bảo vệ Môi trường

CBOs

Tổ chức dựa vào cộng đồng - (Community-Based Organizations)

CNH

Công nghiệp hóa

CTR

Chất thải rắn

CTRĐT

Chất thải rắn đô thị

CTRSH

Chất thải rắn sinh hoạt

CTRSHĐT

Chất thải rắn sinh hoạt đô thị

DNNN

Doanh nghiệp Nhà nước

HHCC

Hàng hóa Công cộng

HTX

Hợp tác xã

KCN

Khu Công nghiệp

NGOs

Tổ chức phi Chính phủ - (Non-Government Organizations)

NSNN

Ngân sách Nhà nước

QLCT

Quản lý chất thải

QLCTR

Quản lý chất thải rắn

QLCTRĐT

Quản lý chất thải rắn đô thị

QLCTRSH

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt

QLCTRSHĐT

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị

QLDVCĐ

Quản lý dựa vào cộng đồng

UBND

Ủy ban Nhân dân

URENCO

Công ty Môi trường Đô thị

VHLSS

Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam

WTP

Sẵn lòng chi trả

XHH

Xã hội hóa


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin chung về địa bàn điều tra năm 2016 ........................................... 45
Bảng 2.2: Quy mô của mẫu điều tra ........................................................................... 47
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào
cộng đồng .................................................................................................................. 51
Bảng 2.4: Giá trị tối đa, giá trị tối thiểu và giá trị thực tế của các chỉ tiêu................... 55
Bảng 3.1: Thành phần CTRSHĐT phát sinh ở thành phố Hà Nội............................... 67
Bảng 3.2: Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được tái chế ở một số đô thị Châu Á .... 73
Bảng 3.3: Doanh thu và chi phí hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSHĐT ở phường
Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 ......................................................................... 83
Bảng 3.4: Lý do không nộp phí vệ sinh từ phía hộ gia đình ở phường Nhân Chính và
xã Sài Sơn.................................................................................................................. 85
Bảng 3.5: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về mức phí vệ sinh ................................. 86
Bảng 3.6: Mức độ hài lòng hộ gia đình về phương thức thu phí vệ sinh ..................... 87
Bảng 3.7: Tỷ lệ lao động địa phương ở tổ đội thu gom xã Sài Sơn năm 2016............. 88
Bảng 3.8: Mức độ hài lòng của hộ gia đình về dịch vụ thu gom CTRSHĐT .............. 89
Bảng 3.9: Mức độ thường xuyên nhận các thông tin về đặc điểm dịch vụ thu gom
CTRSHĐT................................................................................................................. 91
Bảng 3.10: Mức độ thường xuyên được tham vấn về dịch vụ thu gom CTRSHĐT .... 92
Bảng 3.11: Mức độ thường xuyên thảo luận và góp ý kiến về các dịch vụ QLCTRSHĐT . 93
Bảng 3.12: Mức độ thường xuyên cùng thực hiện các quy định về QLCTRSHĐT ..... 94
Bảng 3.13: Mức độ thường xuyên cùng chịu trách nhiệm và thực hiện các hoạt động
QLCTRSHĐT ........................................................................................................... 95
Bảng 3.14: Nhận thức của hộ gia đình về tầm quan trọng của hệ thống QLCTRSHĐT
và tác động của CTRSHĐT ....................................................................................... 96
Bảng 3.15: Tỷ lệ thu gom CTRSHĐT tại phường Nhân Chính và xã Sài Sơn năm 2016 . 98
Bảng 3.16: Hệ thống số liệu các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình
QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn ................. 106
Bảng 3.17: Các chỉ số thành phần của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở
phường Nhân Chính và xã Sài Sơn .......................................................................... 108
Bảng 3.18: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng
ở phường Nhân Chính và xã Sài Sơn ....................................................................... 109
Bảng 3.19: Phân bố hộ gia đình theo mức sẵn lòng chi trả ở Nhân Chính và Sài Sơn .... 113
Bảng 3.20: Mô tả thống kê các biến sử dụng trong mô hình ..................................... 114


Bảng 3.21: Kết quả ước lượng mô hình sẵn lòng chi trả ........................................... 115
Bảng 3.22: Hệ số tương quan và R2 cho các mô hình ............................................... 116
Bảng 3.23: Mức sẵn lòng chi trả bình quân của hộ gia đình ở phường Nhân Chính và
xã Sài Sơn................................................................................................................ 118
Bảng 4.1: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hà Nội và cả nước giai đoạn
2011 - 2030 ............................................................................................................. 121
Bảng 4.2: Dự báo dân số Thành phố Hà Nội đến năm 2020 và 2030 ........................ 121
Bảng 4.3: Dự báo khối lượng chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2050 ....... 123
Bảng 4.4: Mục tiêu quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội đến năm 2030 .......... 124
Bảng 4.5: Nguồn vốn cho Quản lý chất thải rắn ở Thành phố Hà Nội ...................... 125
Bảng 4.6: Phân tích SWOT đối với mô hình kết hợp giữa Cộng đồng và Công ty/... 132
HTX dịch vụ môi trường ......................................................................................... 132
Bảng 4.7: Phân tích SWOT đối với mô hình Cộng đồng tự tổ chức với sự hỗ trợ của
chính quyền địa phương........................................................................................... 135
Bảng 4.8: Tỷ lệ phí vệ sinh trung bình so với thu nhập của hộ gia đình ở ................. 141
Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016 ............................................................... 141
Bảng 4.9: Mức phí thu gom CTR ở một số thành phố trên thế giới năm 2010 .......... 142


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Ảnh hưởng của CTRSHĐT đến môi trường và sức khoẻ của con người ..... 23
Hình 1.2: Quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững ............................................... 26
Hình 1.3: Các mức độ tham gia của cộng đồng .......................................................... 33
Hình 1.4: Mô hình hợp tác giữa Doanh nghiệp tư nhân và Tổ chức dựa vào .............. 35
cộng đồng (CBOs) ..................................................................................................... 35
Hình 1.5: Mô hình hợp tác giữa Chính quyền địa phương và

Tổ chức dựa vào cộng

đồng (CBOs) ............................................................................................................. 35
Hình 1.6: Mô hình kết hợp giữa NGOs và CBOs ....................................................... 36
Hình 1.7: Khung phân loại dịch vụ CTRSH ............................................................... 37
Hình 2.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu luận án ...................................................... 41
Hình 2.2: Quy trình xây dựng chỉ tiêu ........................................................................ 48
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 -2016........ 63
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng theo ngành ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006-2016 . 64
Hình 3.3: Quy mô dân số ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2016......................... 65
Hình 3.4: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Thành phố Hà Nội .............. 66
Hình 3.5: Chủ thể tham gia các phân đoạn trong QLCTRSHĐT ở thành phố Hà Nội 71
Hình 3.6: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở phường
Nhân Chính. .............................................................................................................. 79
Hình 3.7: Cơ cấu tổ chức mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở xã Sài Sơn... 82
Hình 3.8: Chỉ số tổng hợp bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở
phường Nhân Chính và xã Sài Sơn .......................................................................... 109


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Chất thải rắn (CTR - Solid Waste) là một bộ phận tất yếu, "đồng hành" với quá
trình sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế. Đối với các quốc gia đang phát triển, chất
thải rắn đô thị (CTRĐT- Municipal Solid Waste) ngày càng tăng nhanh cả về khối lượng
phát sinh và mức độ nguy hại. Phát triển kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa mạnh mẽ
được xem là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này (UNEP, 2005). Số liệu
thống kê năm 2006 cho thấy, mỗi năm trái đất sẽ tiếp nhận 2 tỷ tấn CTRĐT, tương
đương với khối lượng 300kg/người/năm. Đến năm 2025, khối lượng CTRĐT sẽ đạt 5,9
tỷ tấn/năm, tương đương với 59 tỷ m3, đủ để trải khắp diện tích đất nước Costarica với độ
sâu 1 mét (UN-Habitat, 2010b). Trong bối cảnh đó, quản lý chất thải rắn đô thị
(QLCTRĐT) trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hệ thống quản lý môi trường ở
các quốc gia. Schubeler (1996) đã khẳng định: "phát sinh CTRĐT và cầu đối với dịch vụ
thu gom CTRĐT đang thực sự là một vấn đề cấp bách đi kèm với tiến trình phát triển".
Nhiều học giả cho rằng hệ thống QLCTRĐT ở các nước đang phát triển phải
đối mặt với một số khó khăn và thách thức. Thứ nhất, hệ thống QLCTRĐT ở các nước
này bị giới hạn về nguồn lực tài chính, năng lực con người và hệ thống luật pháp
chồng chéo (Hoornweg, 2000). Vì vậy, khả năng cung cấp dịch vụ và kết quả hoạt
động QLCTRĐT rất hạn chế. Theo Pacione (2005), có khoảng 1/3 đến 1/2 lượng rác
thải không được thu gom ở các nước thế giới thế 3. Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở
các khu vực ven đô và vùng nông thôn. Phần rác thải không được thu gom có thể phá
huỷ cảnh quan, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người.
Thứ hai, hệ thống QLCTRĐT chưa đánh giá đúng và tích hợp vai trò của các
chủ thể khác, như: doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs Community Based Organizations) tham gia vào hoạt động QLCTRĐT. Ở các đô thị mà
vai trò và sự tham gia của các chủ thể được thừa nhận, khẳng định thì hoạt động
QLCTRĐT được cải thiện hơn nhiều (Furedy, 1989). Có thể thấy, kết quả thực thi chưa
ấn tượng và những thách thức mà hệ thống QLCTRĐT phải đối mặt đang đặt ra những
yêu cầu thay đổi cho hệ thống này. Câu hỏi đặt ra là: cách thức QLCTRĐT truyền thống
mà các quốc gia đang áp dụng trong nhiều thập kỷ qua đã đúng hướng chưa và liệu có
cần một sự thay đổi nào không?
Quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ - Community-based Management) là
cách tiếp cận được một số nhà khoa học gợi mở từ các nghiên cứu học thuật cũng như
thực tế từ cuối thập kỷ 80 (Whande, 2007). Đây là cách tiếp cận từ dưới lên (Bottom-


2
up) và nhấn mạnh đến vai trò của người sử dụng, khuyến khích các thành viên trong
cộng đồng tham gia hoạt động quản lý một cách chủ động và nhận trách nhiệm từ lập
kế hoạch, thực hiện, đến giám sát các nội dung của hệ thống quản lý. Dưới góc độ
chính sách, cách tiếp cận này sẽ làm giảm gánh nặng cho khu vực Chính phủ khi cung
ứng hàng hóa, dịch vụ công trước cuộc khủng hoảng tài khóa và các chương trình thay
đổi cơ cấu. Trao quyền quản lý cho địa phương trở thành một hướng đi đúng đắn trong
bối cảnh này (Rasmussen, 1995).
Ở Việt Nam, QLCRĐT - đặc biệt là quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
(QLCTRSHĐT) đã thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội. Năm
2015, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) trên cả nước là 23 triệu tấn/năm.
Tại các vùng đô thị, nơi chiếm khoảng 30% dân số cả nước, mỗi năm phát sinh gần 14
triệu tấn CTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2017). Trước áp lực phải quản lý khối lượng
CTRSHĐT khá lớn, các thành phố đều xác định đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu. Tuy
nhiên, hệ thống QLCTRSHĐT đang gặp nhiều khó khăn do sự hữu hạn về thiết bị, về
nguồn vốn, khung pháp lý còn thiếu và đặc biệt sự tham gia của cộng đồng còn mờ
nhạt, chưa đúng với tiềm năng thực tế của chủ thể này (Bộ TN&MT, 2004). Nhận thức
được bất cập đó, chính phủ Việt Nam đã ban hành chủ trương xã hội hóa (XHH) trong
công tác Bảo vệ môi trường (BVMT). Ý tưởng của chủ trương này là huy động nguồn
lực từ mọi thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham
gia vào sự nghiệp BVMT của đất nước. Đây có thể coi là một hoạch định chính sách
đúng đắn của Chính phủ trong bối cảnh khu vực công đang gặp nhiều khó khăn trong
QLCTRSHĐT (Bộ TN&MT, 2011).
Cũng như nhiều đô thị khác trên thế giới, thủ đô Hà Nội đã và đang phải đối
mặt với vấn đề QLCTRSHĐT do kết quả của quá trình gia tăng dân số, đô thị hóa và
tăng trưởng kinh tế. Tiếp nối và cụ thể hóa chủ trương XHH của Chính phủ, Hà Nội
được đánh giá là một (1) trong hai (2) địa phương đi đầu trong hoạt động này (Bộ
TN&MT, 2004). Ngay từ cuối thập kỷ 90, thành phố đã triển khai chương trình XHH
trong QLCTR nói chung và QLCTRSHĐT nói riêng. Hàng loạt công ty tư nhân được
thành lập và tham gia vào phân đoạn cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển
CTRSHĐT. Hàng chục mô hình dựa vào sáng kiến của cộng đồng (Community-based
Initiatives) đã được ra đời, tự hoạt động, tự quản lý ở nhiều khu vực. Có thể kể đến mô
hình thu gom, vận chuyển rác ở phường Nhân Chính, xã Sài Sơn, xã Đan Phượng,
huyện Đan Phượng.... Các chương trình XHH đã chia sẻ trách nhiệm QLCTRSHĐT
với Chính phủ và đem lại những kết quả tích cực ban đầu. Tuy vậy, trải qua một thời
gian vận hành, các mô hình QLDVCĐ đã bộc lộ những bất cập và hạn chế. Vai trò,


3
mức độ tham gia của cộng đồng còn yếu và chưa rõ nét; nhiều mô hình gặp khó khăn
về tài chính khi nguồn thu từ cộng đồng không đủ để chi trả cho cung ứng dịch vụ
QLCTRSHĐT; mô hình chưa có vị thế rõ ràng, chưa có văn bản pháp lý đầy đủ và
hoàn thiện để thúc đẩy phát triển. Trong bối cảnh đó, việc phân tích và đánh giá mô
hình QLDVCĐ là điều cần thiết để đề xuất các giải pháp vận hành, hoàn thiện mô hình
theo hướng bền vững.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
2.1. Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn
Đã từ lâu, QLCTR nói chung và QLCTRĐT nói riêng là một chủ đề thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Các nghiên cứu về QLCTR được thực hiện ở
nhiều quốc gia, thành phố với nhiều nội dung hết sức đa dạng, phong phú. Trên bình
diện lớn, có thể nhận thấy bốn (4) mảng nội dung chính được các học giả tập trung
nghiên cứu. Cụ thể như sau:
• Một là, nhóm các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích hiện trạng phát
sinh, thu gom, xử lý chất thải ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Nghiên cứu của UN-Habitat (2010a) cho thấy khó khăn lớn nhất mà các thành
phố/q uốc gia đang phát triển phải đối mặt trong QLCTRĐT là: tỷ lệ thu gom thấp,
phương thức xử lý CTRSHĐT chưa đúng kỹ thuật và an toàn. Theo nhiều nghiên cứu,
tỷ lệ thu gom CTRĐT ở các thành phố lớn chỉ đạt 30-50%, tỷ lệ này còn thấp hơn ở các
thành phố nhỏ và khu vực ven đô (Hardoy và cộng sự, 2001; UN-Habitat, 2010a). Các
tác giả cũng đã bình luận việc thiếu quy định về QLCTRĐT và điều kiện môi trường ô
nhiễm ở các thành phố này. Miêu tả một bức tranh tương tự, nghiên cứu của Worldbank
(2012) ước tính rằng: trong một số trường hợp, 60% CTR phát sinh tại đô thị các nước
có thu nhập thấp không được thu gom. Vấn đề này nổi bật và tập trung rõ nét ở các quốc
gia thuộc khu vực châu Phi và châu Á.
Ở khu vực châu Phi, trong nghiên cứu "Định hướng tương lai về QLCTR ở châu
Phi", Mohee, R. và cộng sự (2015) đã thừa nhận tình trạng QLCTRĐT hết sức yếu kém
ở châu lục này. Tỷ lệ thu gom ở các thành phố lớn đạt xấp xỉ 50%; ở khu vực ven đô, tỷ
lệ này còn đáng lo ngại hơn nhiều với con số là 10%. Tình hình xử lý CTRĐT ở Lusaka,
Zambia cũng được cho là xấu với 90% rác thải hàng ngày bị bỏ lại, tiềm ẩn các tác động
xấu đến sức khoẻ cộng đồng (Hardoy và cộng sự, 2001). Tại Kinshasa (Congo), phần
lớn rác thải phát sinh ở trên đường, trên các bãi rác bất hợp pháp, trong các kênh thoát
nước mưa hoặc được chôn lấp ở các khu đất trống (Hardoy và cộng sự, 2001).


4
Năm 2007, một nghiên cứu về hiện trạng QLCTRĐT ở 11 nước của Trung tâm
Năng suất Châu Á (APO, 2007) nhấn mạnh: QLCTRĐT là một thách thức lớn ở các thành
phố. Nghiên cứu chỉ rõ: "mặc dù bỏ ra chi phí rất lớn cho QLCTR, các đô thị ở 11 nước vẫn
đang phải vật lộn với những thách thức ngăn chặn suy thoái môi trường do hoạt động không
hiệu quả của hệ thống này. QLCTRĐT trở thành một vấn đề quan trọng và cần phải được
giải quyết thông qua cách tiếp cận tổng hợp, dựa vào cộng đồng và khu vực tư nhân".
Tại Sri Lanka, trung tâm hỗ trợ QLCTR quốc gia (NSMSC) (2008) đã nhận
định QLCTR là một vấn đề lớn ở các thành phố của Sri Lanka. Theo đó, tỷ lệ thu gom
trung bình ở quốc gia này chỉ đạt 23%. Tác giả đã mô tả thủ đô Colombo "đối mặt với
một tình huống khủng hoảng" khi phải xử lý khoảng 1.500 tấn CTR mỗi ngày.
Trong nghiên cứu "Quản lý chất thải rắn tại Trung Quốc: Tình trạng, các vấn
đề và thách thức", Dong QingZhang và các cộng sự (2010) đã nhận xét: Trung Quốc
đang chứng kiến sự tích tụ nhanh chóng của rác thải đô thị như là kết quả của quá trình
CNH, đô thị hóa và gia tăng dân số. 668 thành phố của nước này tạo ra khoảng 212
triệu tấn rác thải mỗi năm, chiếm khoảng một phần ba tổng lượng CTR trên thế giới,
trong đó có khoảng 148 triệu tấn được thu gom và chôn lấp; lượng rác thải còn lại tồn
đọng trong môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và mỹ quan thành phố.
Ở Việt Nam, hiện trạng QLCTRĐT được phác họa khá rõ nét qua 02 báo cáo
quốc gia chuyên biệt về CTR do Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) ấn bản
năm 2004 và 2011. Theo "Báo cáo diễn biến Môi trường Việt Nam - Chất thải rắn", Bộ
TN&MT (2004) dự báo khối lượng CTR sẽ tăng lên nhanh chóng trong bối cảnh phát
triển kinh tế và gia tăng dân số. Trước áp lực đó, khoảng 83 - 85% lượng chất thải phát
sinh được thu gom, còn lại 15 - 17% CTR được thải ra môi trường vứt vào bãi đất, hố
đất, ao hồ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường. Trong Báo cáo "Quản lý tổng hợp
CTR ở Việt nam - đề xuất các giải pháp" - dự án CTR Việt Nam do Cơ quan Hợp tác
Quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ, Hideki Wada (2016) lại đưa ra một bức tranh hơi khác
khi cho rằng tỷ lệ thu gom CTRSHĐT ở các tỉnh, thành phố thực tế chỉ đạt 78%. Dù đưa
ra số liệu khác nhau, nhưng các báo cáo đều thừa nhận "QLCTRĐT sẽ là một thách thức
to lớn và là một trong những dịch vụ môi trường đặc biệt quan trọng vì những tác động
tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng" (Bộ TN&MT, 2011).
• Hai là, các nghiên cứu về QLCTR đã tập trung chỉ rõ các nguyên nhân/thách
thức mà hệ thống QLCTRĐT ở các quốc gia đang phát triển phải đối mặt.
Linden, O. và cộng sự (1997) đã xác định 8 mối lo ngại chung mà các quốc gia
châu Á đang phải đối mặt trong QLCTRĐT, bao gồm:


5
1. Công nghệ xử lý không phù hợp/ không hiệu quả;
2. Thực thi / không tồn tại;
3. Thiếu nguồn lực tài chính;
4. Thiếu nguồn lực con người;
5. Thiếu sự ủng hộ của hệ thống chính trị;
6. Thiếu khung pháp lý về QLCTRĐT;
7. Xung đột chính sách giữa các cấp chính quyền/ trách nhiệm chồng chéo;
8. Nhận thức của cộng đồng chưa cao.
Theo báo cáo, những yếu tố này làm giảm các nỗ lực QLCTR của chính quyền
thành phố ở châu Á, gây khó khăn trong việc giữ gìn môi trường và an toàn cho người
dân. Trong các trở ngại nêu trên, sự ràng buộc về nguồn lực tài chính được nhắc đến
khá nhiều trong các nghiên cứu.
Nhiều tác giả đã cho rằng, sự thiếu hụt về tài chính là một hạn chế lớn đối với
QLCTR ở các nước đang phát triển (Cointreau, 1995). Lohse (2003) đã mô tả vấn đề tài
chính đô thị ở các nước đang phát triển là "có khoảng cách lớn giữa nguồn lực tài chính
và nhu cầu chi tiêu đô thị" do "hầu hết các đô thị thiếu tự chủ khi thiết lập thuế và cơ cấu
chi tiêu. Lohse (2003) cũng thấy rằng vấn đề tài chính ở các nước đang phát triển là do
hệ thống thuế địa phương còn yếu kém; vì vậy, tỷ lệ thu hồi chi phí trong QLCTR là khá
thấp và phụ thuộc nặng nề vào trợ cấp của nhà nước.
Một nghiên cứu tương tự với tên gọi "Quản lý CTRĐT ở Việt Nam: hiện trạng và
chiến lược hành động" được thực hiện bởi Thanh và các cộng sự (2011) cho thấy những
khó khăn về tài chính trong hoạt động QLCTRĐT. Cụ thể là mức đóng góp từ phía cộng
đồng chỉ đủ bù đắp chi phí thu gom, chi phí vận chuyển và xử lý chủ yếu do chính quyền
địa phương trợ cấp. Trên thực tế, nguồn vốn phát triển chính thức (ODA - Official
Development Assistance) đang hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam kinh phí này, về lâu dài thì
đây là một thách thức trong hệ thống QLCTRĐT.
- Các thách thức liên quan đến thể chế cũng được nhiều học giả nghiên cứu.
UN-Habitat (2010a) cho rằng: thể chế yếu kém là đặc trưng của các nước đang
phát triển, điều đó ảnh hưởng xấu đến cung cấp dịch vụ môi trường. Chức năng của các
cơ quan trong QLCTRĐT không được xác định rõ ràng và không có một cơ quan duy
nhất được chỉ định để điều phối hoạt động của hệ thống. Sự không rõ ràng về thể chế có
thể dẫn đến trùng lắp về nhiệm vụ, những khoảng trống trong cung cấp dịch vụ và lãng
phí nguồn lực vốn đã khan hiếm, hoặc thậm chí sụp đổ của chương trình QLCTRĐT.


6
Zurbrugg (2002) cũng đã ghi nhận sự yếu kém về năng lực quản lý ở các quốc gia đang
phát triển. Do đó, giải quyết vấn đề chất thải ở các thành phố đòi hỏi phải cải tiến về thể
chế. Tương tự Bộ TN&MT (2011) cũng thừa nhận hệ thống thể chế QLCTR ở Việt Nam
là "chưa đầy đủ, đồng bộ và thực thi triệt để".
- Một trở ngại khác gắn liền với hệ thống QLCTRĐT là sự tham gia hạn chế của
cộng đồng. Theo Hashmi (2007), cộng đồng cần thiết để thúc đẩy "một trật tự tự do, dân
chủ mạnh mẽ trong thế giới thứ ba", nơi mà chính phủ không hoặc ít đáp ứng với các
vấn đề xã hội. Hashmi thấy phát triển cộng đồng là một giải pháp chia sẻ với những khó
khăn của chính phủ. Theo UNDP (2005), cộng đồng có vai trò quan trọng khi thiết lập
các chính sách BVMT và không một chính phủ nào có thể đạt được phát triển bền vững
mà không có sự tham gia tích cực của cộng đồng. Theo Bộ TN&MT (2011), "sự tham
gia của cộng đồng làm tăng mức độ đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với các
quyết định của chính quyền, tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương và tăng
cường tính dân chủ trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chất thải"
• Ba là, tiếp nối các nghiên cứu về hiện trạng và thách thức mà hệ thống
QLCTRĐT phải đối mặt, khá nhiều nghiên cứu đi tìm kiếm đáp án cho bài toán
QLCTRĐT. Một trong số các hướng đi như vậy là xây dựng chỉ tiêu để đánh giá
tính bền vững của mô hình QLCTRĐT. Theo Wilson (2013) "việc xây dựng các chỉ
tiêu chuẩn cho phép các địa phương đánh giá hiệu quả hoạt động QLCTR. Ngoài
ra, các chỉ số phù hợp sẽ rất hữu ích trong bối cảnh nỗ lực hợp tác nhằm bảo vệ sức
khoẻ cộng đồng, tăng cường thu hồi nguồn tài nguyên và quản trị đô thị tốt hơn."
Mặc dù không có nhiều, nhưng các nghiên cứu về xây dựng chỉ tiêu cho hệ
thống QLCTR đã có từ khá sớm. Trong nghiên cứu "Các vấn đề về sử dụng chỉ tiêu
chất thải rắn", MacDonald (1996) đã xác định ba chỉ tiêu căn bản, bao gồm: chất thải
phát sinh trên đầu người; tỷ lệ chất thải được quản lý theo các phương pháp khác nhau;
và tỷ lệ hộ gia đình được cung dịch vụ thu gom. Các chỉ tiêu này đã được sử dụng như
là một phần của chỉ số phát triển bền vững tổng hợp ở các thành phố (Tanguay và cộng
sự, 2010).
Tiếp tục dành sự quan tâm cho việc xây dựng chỉ tiêu, trong nghiên cứu "Quản lý
chất thải rắn tại Ai-len: đánh giá tính bền vững", Desmond (2006) đã lựa chọn 12 chỉ
tiêu cho 4 chủ đề, bao gồm: 5 chỉ tiêu môi trường, 2 chỉ tiêu kinh tế, 2 chỉ tiêu xã hội và
3 chỉ tiêu quản trị. Tuy nhiên, do điều kiện không khả thi về số liệu, một bộ gồm năm
(5) chỉ tiêu về môi trường và quản trị được tác giả lựa chọn để đánh giá tính bền vững
của hoạt động QLCTR theo các mục tiêu đề ra.


7
Năm 2011, Armijo và các cộng sự đã xây dựng bộ công cụ đánh giá bằng chỉ tiêu
để đo lường hiệu quả hoạt động QLCTR trong nghiên cứu "Bộ chỉ tiêu cho các chương
trình quản lý chất thải". Các chỉ tiêu phù hợp nhất đã được đề xuất qua tổng quan tài
liệu và tham vấn ý kiến của các chuyên gia. Kết quả có 18 chỉ tiêu được lựa chọn để
giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hoá hiệu quả chương trình QLCTR.
Trong nghiên cứu "Đánh giá sự bền vững của hệ thống QLCTR ở Nigieria: xây
dựng và phát triển công cụ đánh giá dựa trên chỉ số", Rabia Lawal Batagarawa (2011)
đã đề xuất 13 chỉ tiêu trên 4 lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị. Lý thuyết
về QLCTR tổng hợp và bền vững được tác giả lựa chọn để xây dựng chỉ tiêu. Các chỉ
tiêu được tính toán và quy chuẩn về một chỉ số để đánh giá mức độ bền vững của hệ
thống QLCTR ở Nigieria.
Một trong số những nỗ lực đáng được ghi nhận ở nội dung này là nghiên cứu
"Quản lý CTR ở các thành phố trên thế giới" của UN-Habitat (2010b). Scheinberg và
các cộng sự (2010) đã thu thập dữ liệu cho 20 thành phố đại diện cho các quốc gia có
thu nhập thấp, trung bình và xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hệ thống QLCTR. Bộ chỉ
tiêu này được hình thành từ lý thuyết QLCTR tổng hợp và bền vững nhưng được đơn
giản hóa bằng cách gộp lại thành 3 nhóm, bao gồm: (1) nhóm chỉ tiêu về các bên liên
quan; (2) nhóm chỉ tiêu bền vững về tài chính; và (3) nhóm chỉ tiêu về thể chế, chính
sách. Tiếp nối công việc này, Wilson và các cộng sự (2015) tiếp tục cập nhật, chỉnh
sửa các chỉ tiêu định tính, định lượng và tiến hành kiểm định trên 50 thành phố trong
nghiên cứu "Bộ chỉ số nền tảng cho QLCTR tổng hợp ở các thành phố".
• Bốn là, các nghiên cứu về QLCTR không chỉ được tập trung xem xét ở cấp
độ quốc gia hoặc thành phố mà còn được thực hiện thông qua xem xét hành vi của hộ
gia đình, một trong những nội dung chủ chốt là đánh giá sự sẵn lòng chi trả (WTP Willingness To Pay) của hộ đình.
Các nghiên cứu về WTP của hộ gia đình xuất hiện từ khá sớm, chủ yếu bắt nguồn
từ nhu cầu cải thiện chất lượng môi trường. Trong nghiên cứu "Nhu cầu hộ gia đình về cải
thiện hệ thống QLCTR: trường hợp của Gujranwala, Pakistan", Altaf và cộng sự (1996)
đã đánh giá WTP của hộ gia đình về ưu tiên cải thiện hệ thống QLCTR so với hệ thống
cấp nước và vệ sinh. Các tác giả đã sử dụng một mẫu ngẫu nhiên phân tầng khoảng 1.000
hộ gia đình để tìm hiểu thông tin về phía người sử dụng dịch vụ CTR. Phân tích của tác
giả cũng thách thức những giả định thông thường rằng hộ gia đình ít ưu tiên QLCTR so
với các dịch vụ đô thị khác và không muốn trả tiền. Họ cho rằng, mặc dù QLCTR ở thành
phố các nước đang phát triển là không đạt yêu cầu và sử dụng nhiều ngân sách địa


8
phương, nhưng các nỗ lực để cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống này cần phải được
xem xét dưới góc độ của nhà cung ứng và người sử dụng dịch vụ.
Pek Chuen-Khee and Othman (2010) đã ước lượng sự ưa thích của hộ gia đình
khi cải thiện dịch xử lý CTR ở Malaysia bằng cách sử dụng phương pháp định giá
ngẫu nhiên. Nhóm tác giả đã ước lượng và so sánh mức WTP cho 2 phương thức xử lý
CTR. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức WTP của hộ gia đình đối với bãi chôn lấp vệ
sinh là 1,53 euro, cao hơn 0,9 euro cho phương án đốt rác. Điều này hàm ý rằng
phương thức chôn lấp hợp vệ sinh là một giải pháp thay thế mang tính khả thi. Ước
lượng hồi quy cũng cho thấy tuổi, quyền sở hữu nhà ở, thu nhập hộ gia đình là những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đáng kể đến WTP.
Wang và cộng sự (2011) cũng tiến hành phân tích hành vi của hộ gia đình nhằm
cải thiện dịch vụ xử lý CTR ở huyện Eryuan, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Kết quả
nghiên cứu cho thấy mức WTP bình quân chiếm 1% so với tổng thu nhập của hộ gia
đình. Phân tích cũng chỉ ra rằng hầu hết các hộ gia đình nghèo nhất ở Eryuan không chỉ
sẵn sàng chi trả nhiều hơn các hộ gia đình giàu về tỷ lệ thu nhập, mà còn sẵn sàng trả
tương đương các hộ giàu về mặt giá trị tuyệt đối. Các tác giả cho rằng những hộ gia đình
nghèo nhất có nhu cầu cao về dịch vụ QLCTR công cộng, trong khi người giàu lại có
khả năng thay thế bằng các dịch vụ tư nhân khi các dịch vụ công không có sẵn.
Trong nghiên cứu "Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ
thu gom, xử lý CTRSH ở địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội", tác giả Nguyễn Văn Song và
các cộng sự (2011) đã sử dụng phương pháp tạo dựng thị trường để xác định WTP cho
hoạt động thu gom và xử lý rác thải ở huyện Gia Lâm. Thông qua quan sát, thu thập số
liệu thứ cấp và điều tra 116 hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, các
tác giả xác định được mức chi trả bình quân của hộ nông dân là 6000 đồng/ người/ tháng.
Mức WTP chịu ảnh hưởng của các nhân tố thu nhập, giáo dục, nghề nghiệp, tuổi, giới tính
và quy mô của hộ gia đình. Ước tính, mức sẵn lòng chi trả một năm trên địa bàn nghiên
cứu khoảng 4 tỷ đồng/ năm. Số tiền này nếu được sử dụng đúng mục đích sẽ giúp cải
thiện chất lượng dịch vụ thu gom, xử lý CTRSH và môi trường sống của người dân.
Nghiên cứu tương tự được Dagnew Hagos và các cộng sự (2012) đề cập trong
công trình "Sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống quản lý CTR
đô thị ở thành phố Mekelle, Ethiopia". Mẫu nghiên cứu với 226 hộ gia đình được lựa
chọn để đánh giá WTP của cư dân nhằm cải thiện QLCTRĐT và đề xuất cơ chế phục
hồi chi phí. Nhóm tác giả sử dụng mô hình Tobit và Probit để xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến WTP của hộ gia đình. Kết quả cho thấy WTP của người dân có liên quan
đáng kể đến thu nhập và nhận thức về chất lượng môi trường. Nghiên cứu chỉ rõ phí vệ


9
sinh hiện tại của thành phố thấp hơn nhiều so với mức WTP của cư dân. Mức WTP
này là gợi ý cho các nhà chính sách xác định mức phí phù hợp hơn nhằm hỗ trợ cải
tiến hệ thống QLCTR thành phố.
Trong nghiên cứu "Sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình nhằm cải thiện dịch vụ thu
gom CTR ở thành phố Kampala, Uganda", Margaret Banga và các cộng sự (2013) đã xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến WTP. Dựa trên điều tra 381 hộ gia đình ở Kampala,
nhóm tác giả đã ước tính mức sẵn lòng chi trả của hộ là USH 2.439 mỗi tháng. Mức chi
trả này chịu ảnh hưởng bởi thu nhập, giáo dục, tuổi tác và quyền sở hữu nhà ở. Đây là cơ
sở để các nhà chính sách thiết lập mức phí cho phù hợp với bối cảnh của thành phố.
Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề "Mức sẵn lòng chi trả nhằm cải thiện dịch
vụ xử lý CTR ở Tema Metropolis, Ghana", tác giả Nkansah E., (2015) tính toán WTP cho
việc cải thiện hệ thống xử lý CTR tại bằng cách sử dụng phương pháp định giá ngẫu
nhiên. Mẫu điều tra gồm 156 quan sát được thực hiện. Mô hình Tobit được sử dụng để
xác định các yếu tố tác động đến WTP cho việc cải thiện dịch vụ xử lý CTR. Kết quả cho
thấy tuổi, trình độ học vấn, số người phụ thuộc, thu nhập, quy mô hộ gia đình và khoảng
cách tới bãi thải là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến WTP của hộ gia đình. Tác giả
cũng khuyến nghị Chính phủ nên phối hợp với các cơ quan thu gom rác để đầu tư thêm
nguồn lực cho các nhà máy tái chế nhằm nâng cao hiệu quả xử lý CTR.
Với nghiên cứu "Đánh giá sự sẵn lòng chi trả của công chúng cho QLCTR ở
Yangon, Myanmar" (2016), tác giả Mya đã tiến hành điều tra ở 2 khu vực Botahtaung và
Pazundaung nhằm tìm hiểu nhận thứccủa cộng đồng về tầm quan trọng của chương trình
QLCTR. Bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên, phần lớn người trả lời WTP ở mức
800MMK (tương đương với 0,8USD). Từ đó tác giả cũng xác định được quy mô nguồn
tài chính tiềm năng để cải thiện hệ thống QLCTR.

2.2. Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn sinh hoạt dựa vào cộng đồng
Đã từ lâu, các lý thuyết kinh tế về thất bại thị trường (market failure) và hiện
trạng đã thừa nhận vai trò của Chính phủ trong quản lý tài nguyên môi trường. Đây là
cách thức quản lý từ trên xuống (top-down) mà rất nhiều quốc gia trên thế giới áp
dụng. Tuy vậy, cách quản lý này đã bộc lộ những yếu kém khi thực thi, những hạn chế
về năng lực và tài chính trong quá trình quản lý. Trong bối cảnh đó, trao quyền trách
nhiệm quản lý cho cộng đồng địa phương được xem là hướng đi đúng đắn. Hướng đi
này sẽ làm giảm gánh nặng cho khu vực Chính phủ, đồng thời cũng huy động nguồn lực
tài chính và nhân lực trong cộng đồng để đảm bảo cho hoạt động quản lý được bền
vững. Dựa trên những ý tưởng này, mô hình QLDVCĐ được hình thành


10
Trong 4 thập kỷ qua, QLDVCĐ bao phủ phạm vi rộng lớn, trên nhiều lĩnh vực
kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường,
QLDVCĐ được bắt đầu sớm nhất và phát triển mạnh mẽ trong khía cạnh quản lý tài
nguyên. Sự khởi đầu đó được bắt nguồn từ phân loại tài nguyên là hàng hóa dùng
chung (Common - pool resources). Năm 1968, Hardin, G. gọi đó là "Bi kịch tài sản
chung" (The Tragedy of the Commons). Kinh tế học đưa ra hai phương án giải quyết
vấn đề này, bao gồm: (i) tư nhân hóa và (ii) đánh thuế tài nguyên. Điểm chung của hai
giải pháp là áp dụng các quy định từ bên ngoài cộng đồng, thường do chính quyền
trung ương tiến hành, hoặc dưới hình thức thuế hay hạn ngạch, hoặc bằng cách tư nhân
hóa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cả hai phương án này đều
thất bại. Một phương án thứ ba là phi tập trung hóa, cộng đồng địa phương sẽ thực
hiện quản lý tài nguyên dùng chung. Nghiên cứu của một số học giả đều cho rằng
phương án thứ ba không nhất thiết dẫn đến "bi kịch tài sản chung".
Trong tác phẩm "Governing the commons: The evolution of institutions for
collective action" (Quản lý tài nguyên chung: Diễn biến các định chế dành cho hành
động tập thể), Elinor Ostrom (1990) đã khẳng định: "Chính những người sử dụng tài
nguyên sẽ định ra cơ chế sử dụng sao cho tài nguyên ấy đem lại lợi ích khả dĩ chấp
nhận được cho mọi người; ngược lại, các quy định quản lý của nhà nước thường trở
nên phản tác dụng bởi lẽ nhà nước thường xa rời với thực tế địa phương và cũng chẳng
còn mấy uy lực ở cơ sở". Bằng các kết quả nghiên cứu tại hiện trường ở Trung Quốc,
Mông Cổ và nhiều nước đang phát triển khác, Ostrom khẳng định không phải lúc nào
cơ chế quản lý tài nguyên chung cũng là một "bi kịch". Trong nhiều trường hợp, các
thể chế quản lý tài nguyên chung của cộng đồng tỏ ra hiệu quả và bền vững.
Tiếp nối hệ tư tưởng của Ostrom, nhiều học giả đã phát triển các nghiên cứu về
quản lý môi trường dựa vào cộng đồng. Nội dung đầu tiên mà các nghiên cứu về
QLCTR dựa vào cộng đồng thường xem xét là sự tham gia của cộng đồng trong hệ
thống QLCTR.
Có thể thấy, sự tham gia của cộng đồng đặt nền tảng cho việc triển khai mô hình
QLCTR dựa vào cộng đồng. Nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực này là "Sự tham gia của
cộng đồng trong QLCTR đô thị ở Manila và Cebu, the Philippines" do Danilo G. Lapid và
các cộng sự (1996) thực hiện. Trong nghiên cứu, cách tiếp cận quản lý cộng đồng (CMA Community Management Approach) được nhóm tác giả sử dụng để phân tích hoạt động
thu gom, xử lý CTR tại 2 thành phố. Từ đó, những điều kiện tiên quyết để áp dụng, duy trì
bền vững sự tham gia của cộng đồng được nhóm tác giả phân tích và đề xuất nhân rộng
cho các đô thị khác.


11
Mockler (1998) đã nghiên cứu hệ thống QLCTR dựa vào cộng đồng ở Inđônêxia.
Theo tác giả, các sáng kiến trong QLCTR từ cộng đồng, bao gồm: phân loại chất thải,
làm phân compost ở quy mô hộ gia đình. Điểm quan trọng của nghiên cứu là: các sáng
kiến của cộng đồng không chỉ khắc phục những khó khăn về mặt tài chính, quản lý, công
nghệ mà còn cho thấy sự kết nối thành công hành vi của hộ gia đình với hệ thống thu gom
rác của chính phủ. Tuy nhiên, Mockler đã lưu ý rằng chỉ có 4 trong số 15 mô hình/ dự án
dựa vào cộng đồng ở Jakarta là tồn tại. Lý do của sự thất bại là nguồn thu từ bán phân
compost không đủ động lực tài chính để các hộ gia đình tham gia vào hoạt động này.
Nghiên cứu "Các vấn đề và kết quả về sự tham gia của cộng đồng trong môi
trường đô thị: Phân tích so sánh 9 dự án chất thải" của Sylvaine Bulle (1999) đã
xác định mức độ tham gia của cộng đồng và nhận diện những khó khăn về tài chính,
xã hội của mô hình quản lý. Căn cứ vào đó, cách thức và bài học nhằm khuyến
khích/ tăng cường sự tham gia của cộng đồng được tác giả đề xuất khá chi tiết.
Trong nghiên cứu "Sự tham gia của cộng đồng trong QLCTR: Tổng quan các
yếu tố thúc đẩy sự tham gia bền vững của cộng đồng", Laura Moningka (2000) đã phân
tích 8 nhân tố thúc đẩy sự tham gia bền vững của cộng đồng bằng cách tổng quan các
nghiên cứu trước đó. Có nhiều nhân tố khác nhau nhưng 2 nhân tố then chốt làm gia
tăng sự tham gia của cộng đồng là: (i) sự hỗ trợ, hợp tác và tạo nền tảng pháp lý từ chính
quyền địa phương; (ii) sự độc lập, bền vững về mặt tài chính trong mô hình quản lý.
Nhiều nghiên cứu xem xét vai trò của cộng đồng trong một bối cảnh cụ thể, trong
đó có 2 nghiên cứu khá nổi bật ở Hà Nội và Duncan. Ở Hà Nội, David W. Richardson
(2003) đã áp dụng các nguyên tắc xây dựng mô hình QLDVCĐ về mặt thể chế của Ostrom
để phân tích mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng tại 3 địa điểm nghiên cứu. Theo
tác giả, QLCTRSHĐT là một vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào sự hợp tác của hộ gia đình,
cộng đồng, doanh nghiệp tư nhân và chính phủ. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thành
công của mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng nằm ở sự tham gia tích cực và chủ động của
cộng đồng với vai trò là người chủ đạo và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương.
Năm 2009, trong nghiên cứu "Sự tham gia của cộng đồng trong QLCTR ở các
khu vực có thu nhập thấp: nghiên cứu ở làng Duncan, Nam Phi", Sonwabo Perez
Mazinyo đã điều tra mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động QLCTR bằng
phương pháp định tính. Bản chất mối quan hệ mờ nhạt, mâu thuẫn giữa cộng đồng với
các bên liên quan được xác định và phân tích. Các xung đột xuất hiện do thiếu thông
tin truyền thông và mâu thuẫn lợi ích. Nghiên cứu cho thấy đẩy mạnh truyền thông và
tăng cường sự tham gia của các bên liên quan là các yếu tố căn bản để hoạt động
QLCTR đạt hiệu quả.


12
Nur Khaliesah Abdul Malika và cộng sự (2015) đã thực hiện nghiên cứu "Sự
tham gia của cộng đồng trong hoạt động phân loại CTR thông qua chương trình tái
chế chất thải ở Putrajaya, Malaysia". Kết quả phân tích dựa trên điều tra 382 người
cho thấy có tương quan yếu giữa sự tham gia của cộng đồng trong chương trình tái chế
và thái độ của cộng đồng đối với việc phân loại chất thải rắn, r = 0,343; và kiến thức
cộng đồng về phân loại chất thải rắn, r = 0.251. Căn cứ vào phân tích đó, một số đề
xuất được đưa ra nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động tái chế.
Trong nghiên cứu "Đánh giá hệ thống QLCTR và vai trò tham gia của cộng
đồng tại thị trấn Jigjiga, bang Somalia, Ethiopia", Yohanis Birhanu và cộng sự (2015)
đã phát hiện sự thiếu hiệu quả của hệ thống QLCTR bắt nguồn từ: hệ thống thu gom
thiết kế chưa phù hợp, thiết bị vận hành không đầy đủ. Những khó khăn về mặt xã hội,
bao gồm: thiếu nhận thức của công chúng và mức sẵn lòng chi trả từ phía cộng đồng còn
thấp; thiếu thốn trang thiết bị, đội ngũ nhân lực yếu kém, chất lượng dịch vụ không đáng
tin cậy là những thách thức mà thành phố phải đối mặt. Cuối cùng, nghiên cứu đã đưa
ra một số khuyến nghị, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cộng đồng nhằm cải
thiện hoạt động QLCTR.
• Nội dung thứ hai mà các nghiên cứu về QLCTR dựa vào cộng đồng thường
đề cập đến là tổng kết các vấn đề, bài học kinh nghiệm được rút ra từ các dự án
QLCTR dựa vào cộng đồng.
Một trong những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này là "Tổng quan các dự án
CTR và nước sạch dựa vào cộng đồng: các vấn đề và so sánh" của Anschütz, J.
(1996). Điểm thành công nhất của nghiên cứu là phân tích và tổng kết 5 nhóm khó
khăn/ thách thức khi triển khai mô hình này ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Các
thách thức đó bao gồm: thiếu sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động thu gom,
phân loại, tái chế và đóng góp tài chính; khó khăn trong việc duy trì sự minh bạch
đối với hoạt động quản lý; khó khăn về xã hội khi điều kiện làm việc, thu nhập của
người thu gom thấp và chứa đựng nhiều rủi ro; khó khăn về tài chính khi tỷ lệ thu hồi
chi phí thấp và đóng góp phí chưa đầy đủ; khó khăn về quản lý khi thiếu sự hỗ trợ và
hợp tác từ chính quyền địa phương. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm tháo
gỡ những khó khăn này.
Trong nghiên cứu "Bài học rút ra từ các sáng kiến dựa vào cộng đồng trong
QLCTR", Ali, Mansoor và cộng sự (1999) đã tổng kết bài học kinh nghiệm dựa trên
việc tìm hiểu các sáng kiến dựa vào cộng đồng cho dịch vụ thu gom CTR ở các nước
đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á và châu Phi. Từ nghiên cứu, 9 bài học đã được


13
đúc rút nhưng nổi bật hơn cả là các bài học: khuyến khích sự tham gia của cộng đồng,
quan tâm đến người nghèo và đặc biệt là phụ nữ; duy trì hợp tác chặt chẽ với chính
quyền địa phương. Đây là những bài học cần quan trọng để duy trì các sáng kiến
QLCTR dựa vào cộng đồng.
Tương tự, nghiên cứu "QLCTR dựa vào cộng đồng: kinh nghiệm của các quốc gia
châu Á" của Maqsood Sinha, A.H. Md và các cộng sự (2000) đã tổng kết mô hình này ở 7
quốc gia trong khu vực. Các khó khăn trong mô hình được rút ra, bao gồm: chính sách
QLCTR chưa đầy đủ, thiếu nguồn lực cho CBOs, nhận thức và WTP của cộng đồng chưa
cao, thiếu năng lực hợp tác giữa chính quyền và tổ chức của cộng đồng.
Trong ấn bản "Đánh giá so sánh QLCTR dựa vào cộng đồng Medan, Bandung,
Subang and Surabaya" của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) (2006), nhóm
tác giả đã tiến hành so sánh mô hình này ở các địa phương. Kết quả đánh giá chỉ ra rằng:
để mô hình QLCTR dựa vào cộng đồng được triển khai tốt cần phải xây dựng thể chế
minh bạch và rõ ràng giữa các bên tham gia. Cụ thể, cần có những quy định rõ ràng về
quyền lợi, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan.
Trong nghiên cứu "Bài học thực tế và những đổi mới trong quản lý chất thải
rắn dựa vào cộng đồng tại Cebu" của tác giả Premakumara, D.G.J. (2012), mô hình
phối hợp giữa các chủ thể tham gia được đề xuất. Bên cạnh đó, các bài học từ việc
triển khai mô hình thu gom và tái chế phân compost ở Cebu, Philippin cũng được tổng
kết. Ngoài bài học về nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho cộng đồng, tác
giả đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường thể chế, như: thiết lập các chính sách hỗ trợ
từ Chính phủ, chia sẻ tầm nhìn và trách nhiệm giữa các bên liên quan.
Nghiên cứu "Chiến lược QLCTR dựa vào cộng đồng: nghiên cứu ở đô thị
Kaduna, Nigieria" do Rigasal, Y.A. và các cộng sự (2017) thực hiện đã đánh giá sự
tham gia của cộng đồng trong QLCTR và đề xuất phương hướng phát triển mô hình
quản lý này. Kết quả điều tra qua bảng hỏi, phỏng vấn sâu và kiểm tra hiện trường 6
địa điểm cho thấy: hộ gia đình ở khu vực thu nhập thấp có xu hướng phân loại chất
thải tại nguồn và tham gia vào các sáng kiến QLCTR dựa vào cộng đồng nhiều hơn;
nhưng lại ít có khả năng chi trả dịch vụ. Nghiên cứu cũng đề xuất việc tạo ra và lồng
ghép các sáng kiến QLCTR dựa vào cộng đồng đặc biệt là ở các khu vực mật độ dân
số cao nhưng thu nhập thấp như ở đô thị Kaduna. Các sáng kiến sẽ giúp tiết kiệm chi
phí, tạo thu nhập, bảo vệ các giá trị địa phương, khuyến khích sự tham gia của công
chúng và giảm thiểu đầu tư của chính phủ vào các dịch vụ QLCTR.


14

2.3. Nhận xét chung về các nghiên cứu quản lý chất thải rắn đô thị dựa vào
cộng đồng và khoảng trống nghiên cứu cho luận án
Có thể nhận thấy, các nghiên cứu về QLCTR dựa vào cộng đồng ở trên thế giới
và một số ít ở Việt Nam tập trung vào các vấn đề cơ bản như sau:
• Về nội dung nghiên cứu chính
- Đa số các nghiên cứu tìm hiểu và phân tích cách thức tổ chức mô hình
QLCTR dựa vào cộng đồng ở các nước đang phát triển;
- Xác định và đánh giá sự tham gia, mức độ tham gia của cộng đồng trong mô
hình quản lý;
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng về những ảnh hưởng có thể của CTRSH
đến sức khỏe và môi trường;
- Nhận diện và phân tích một số khó khăn dưới góc độ xã hội và quản lý khi
triển khai mô hình này.
- Gợi mở và đề xuất một số giải pháp để vận hành mô hình tốt hơn.
• Về cơ sở lý luận áp dụng
- Phần lớn các nghiên cứu áp dụng lý thuyết tham gia của cộng đồng một cách
đơn lẻ để nhận diện và đánh giá mức độ tham gia của hộ gia đình. Một số ít nghiên
cứu áp dụng lý thuyết hành động tập thể (Collective Action) để tìm hiểu các nguyên tắc
về mặt thể chế khi vận hành mô hình.
• Về phương pháp nghiên cứu được sử dụng
- Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính (bao gồm
thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu cá nhân) và phương pháp phân tích thống kê, mô tả, so
sánh sử dụng các nguồn số liệu sơ cấp, thứ cấp.
• Về kết quả đạt được
Các kết quả nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở một số phát hiện chính như sau:
- QLCTR dựa vào cộng đồng là sự kết hợp giữa cộng đồng và các bên liên quan
ở các khu vực nhỏ, chưa phát triển.
- QLCTR dựa vào cộng đồng gặp một số khó khăn khi sự tham gia và mức
WTP của cộng đồng hạn chế; thiếu năng lực hợp tác và kết nối giữa cộng đồng với
chính quyền địa phương.
- Nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của QLCTR còn chưa đầy đủ.
- Một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng và xây dựng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×