Tải bản đầy đủ

Giải pháp phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam – chi nhánh daklak (vietcombank daklak)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
********

BÙI MINH KÍNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐẮK LẮK
(VIETCOMBANK DAKLAK)

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-Đắk Lắk, tháng 08 năm 2012-


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
********


BÙI MINH KÍNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐẮK LẮK
(VIETCOMBANK DAKLAK)
Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng
Mã số : 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa hoc: GS.TS Trương Bá Thanh

Đắk Lắk, tháng 08 năm 2012


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học được nghiên cứu độc lập
của riêng tôi. Các số liệu và dẫn chứng trong luận văn là đúng sự thật. Tôi xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu này.
Người cam đoan

Bùi Minh Kính


MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các đồ thị
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU

1


CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
CHO VAY DNN&V CỦA NHTM

6

1.1.Tổng quan về hoạt động cho vay đối với DNN&V của NHTM

6

1.1.1.Khái niệm hoạt động cho vay của NHTM

6

1.1.2. Tổng quan về DNN&V

12

1.1.3. Quy trình cho vay của NHTM đối với DNN&V

18

1.2. Phát triển hoạt động cho vay DNN&V trong NHTM

24

1.2.1. Khái niệm của phát triển cho vay DNN&V

24

1.2.2. Sự cần thiết phát triển hoạt động cho vay đối với DNN&V

24

1.2.3. Nội dung của phát triển cho vay đối với DNN&V

25

1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh phát triển cho vay DNN&V của NHTM

26

1.2.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay DNN&V

29

CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNN&V TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VN – CHI NHÁNH ĐẮKLẮK

41

2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP ngoại thương VN – CN ĐắkLắk

41

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

41

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy

43


2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh

45

2.1.4. Những chính sách mà đã áp dụng trong việc phát triển cho vay
DNN&V trong thời gian qua
2.2.Thực trạng cho vay DNN&V tại Vietcombank DakLak

51
55

2.2.1. Tổng quan về hoạt động cho vay DNN&V tại ngân hàng

55

2.2.2. Thực trạng phát triển cho vay DNN&V theo đối tượng cho vay

56

2.3. Đánh giá kết quả đạt đuợc về phát triển cho vay đối với DNN&V 62
2.3.1.Kết quả đạt được

62

2.3.2.Những mặt chưa đạt được về phát triển cho vay DNN&V

65

2.3.3.Những nguyên nhân

68
CHƯƠNG 3:

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNN&V
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VN - CN ĐẮKLẮK

79

3.1.Định hướng phát triển hoạt động cho vay đối với DNN&V

79

3.1.1.Tiềm năng phát triển của DNN&V trên địa bàn tỉnh ĐắkLắk

79

3.1.2.Định hướng phát triển hoạt động cho vay DNN&V

83

3.2.Giải pháp phát triển cho vay DNN&V

86

3.2.1.Nhóm giải pháp thị trường

86

3.2.2.Nhóm giải pháp liên quan đến chính sách tín dụng

91

3.2.3.Nhóm giải pháp liên quan đến phân công, phân quyền của quy trình 94
3.2.4.Nhóm giải pháp liên quan đến nhân sự
3.3. Một số kiến nghị

100
102

3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ

102

3.3.2. Đối với DNN&V

106

3.3.3. Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

108

KẾT LUẬN

113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

115


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNN&V
NHTM
TMCP
NH
NN
DN
TC
TCKT
KH
TSBĐ
VN
CN
WTO
GDP

: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
: Ngân hàng thương mại
: Thương mại cổ phần
: Ngân hàng
: Nhà nước
: Doanh nghiệp
: Tổ chức
: Tổ chức kinh tế
: Khách hàng
: Tài sản bảo đảm
: Việt Nam
: Chi nhánh
: Tổ chức thương mại thế giới
: Tổng sản phẩm quốc nội


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
Bảng 2.1

Tiêu đề

Tình hình huy động vốn của Vietcombank DakLak từ

Trang
46

năm 2007-2011
Bảng 2.2

Dư nợ cho vay và tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank DakLak

47

năm 2007-2011
Bảng 2.3

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh

48

ngoại tệ của Vietcombank DakLak từ năm 2007-2011
Bảng 2.4

Hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử

49

của Vietcombank DakLak từ năm 2007-2011
Bảng 2.5

Tình hình hoạt động cho vay DNN&V của Vietcombank

57

DakLak từ năm 2007-2011
Bảng 2.6

Tình hình nợ xấu tại Vietcombank DakLak từ năm

58

2007-2011
Bảng 2.7

Tình hình dư nợ cho vay theo thời gian đối với DN tại

59

của Vietcombank DakLak từ năm 2007-2011
Bảng 2.8

Tình hình cho vay theo thời gian đối với DNN&V tại

60

Vietcombank DakLak từ năm 2007-2011
Bảng 2.9

Tình hình cho vay đối với DN theo ngành kinh tế tại

61

Vietcombank DakLak từ năm 2007-2011
Bảng 3.0

Tình hình dư nợ cho vay theo thời gian của Vietcombank
DakLak từ năm 2007-2011

64


DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Số hiệu đồ thị
Đồ thị 2.1

Tên đồ thị
Tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của

Trang
50

Vietcombank Daklak từ năm 2007-2011
Đồ thị 2.2

Đồ thị hệ thống mạng lưới của một số ngân

52

hàng trên địa bàn DakLak năm 2011
Đồ thị 2.3

Đồ thị minh họa tăng trưởng dư nợ cho vay
của Vietcombank Daklak từ năm 2007-2011

64


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu hình vẽ

Tên hình vẽ

Trang

Hình 1.1

Sơ đồ quy trình cho vay tổng quát

23

Hình 1.2

Sơ đồ mô hình tổ chức của Vietcombank

43

DakLak


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V)
có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
của địa phương nói riêng và quốc gia nói chúng. DNN&V được đánh giá
là hình thức tổ chức kinh doanh thích hợp của thị trường, có những ưu thế
về tính năng động, linh hoạt thích ứng nhanh với yêu cầu thị trường và là
phương tiện hiệu qủa giải quyết công ăn việc làm, đồng thời phát triển
mạnh loại hình doanh nghiệp hiện nay phù hợp với xu hướng hội nhập
kinh tế quốc tế mà đặc biệt là Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO). Tuy nhiên Việt Nam xuất phát là một nền kinh tế đang
phát triển, công nghệ lạc hậu, sản xuất manh mún nên các doanh nghiệp
(DN) của nước ta chủ yếu là quy mô nhỏ và vừa, tư liệu sản xuất, công
nghệ cùng với trình độ sản xuất ở mức yếu kém so với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay để các DN nói
chung và các DNN&V nói riêng có thế đứng vững, đủ sức cạnh tranh trên
thương trường và phát triển thì bên cạnh sự nổ lực của bản thân DN, đòi
hỏi Nhà nước (NN) và hệ thống các Ngân hàng cần có những chính sách
quan tâm, hỗ trợ thích hợp, trong đó có chính sách hỗ trợ tài chính là cực
kỳ quan trọng, nó như là cú huých để có thể tạo lập và phát triển bền vững
loại hình DN này.
Bên cạnh đó, DNN&V là lực lượng sản xuất chủ yếu của nền kinh
tế quốc dân, tạo ra từ 30%-90% GDP tùy vào mỗi quốc gia, thu hút một
lực lượng lớn lao động của xã hội, được Chính phủ các nước rất quan tâm
và tạo mọi điều kiện để phát triển với nhiều hình thức hỗ trợ khuyến khích
đầu tư đa dạng, tín dụng đầu tư phát triển của hệ thống Ngân hàng thương


2

mại (NHTM) là công cụ tài chính rất có hiệu qủa trong sự hình thành và
phát triển DNN&V. Vì vậy, cho vay đối với DNN&V là hoạt động cho
vay chủ yếu của các NHTM và tổ chức tín dụng trên thế giới. Tỷ trọng dư
nợ cho vay đối với DNN&V thường chiếm 90% trên tổng dư nợ cho vay
của ngân hàng.
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương
mại thế giới (WTO). Kể từ ngày 1 tháng 04 năm 2007 các tổ chức tín dụng
nước ngoài được mở ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Theo
lộ trình thì đến năm 2011 các ngân hàng nước ngoài được thành lập có
toàn quyền thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng như các NHTM trong
nước. Với thế mạnh của những ngân hàng hiện đại, tiên tiến, có nhiều kinh
nghiệm, sản phẩm đa dạng, phong phú, tiềm lực tài chính hùng hậu nên
các chiến lược kinh doanh mà họ đưa ra trong thời gian qua đối với thị
trường Việt Nam đang phát huy hiệu quả, gây ra áp lực cạnh tranh mạnh
mẽ đối với các NHTM Việt Nam. Đặc biệt các ngân hàng nước ngoài
đang tập trung tấn công vào thị trường bán lẻ từ đó chuyển sang mở rộng
cho vay đối với các DNN&V của Việt Nam. Chiến lược này hết sức đúng
đắn bởi vì DNN&V chiếm trên 95% doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt
Nam, đóng góp hơn 40% GDP, tạo ra hàng triệu việc làm, đang được NN
đặc biệt quan tâm và có nhiều chính sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp
này phát triển nên đây sẽ là khoảng trống rất lớn mà các ngân hàng nước
ngoài đang cố gắng chiếm lĩnh. Trong khi đó các NHTM Việt Nam lâu
nay không mặn mà với phân khúc thị trường này mà chỉ tập trung cho vay
các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp Nhà nước, các tập
đoàn, tổng công ty mặc dù trên thực tế các doanh nghiệp này ngày càng
làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, lãi giả lỗ thật kéo theo hoạt động cho vay
đối với các doanh nghiệp này của ngân hàng gặp nhiều rủi ro. Vì vậy các
NHTM Việt Nam cần phải nhanh chóng thay đổi chiến lược kinh doanh


3

nhất là chiến lược cho vay đối với các DNN&V để có thể vượt qua cuộc
cạnh tranh khốc liệt này.
Trong thời gian qua, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam –
chi nhánh Daklak (Vietcombank Daklak) đã chủ động thay đổi chiến lược
kinh doanh của mình, cố gắng thực hiện tốt chiến lược tập trung phát triển
các dịch vụ ngân hàng bán lẻ kết hợp với mở rộng cho vay đối với
DNN&V nhưng do nhiều nguyên nhân đến nay kết quả vẫn không được
như mong đợi. Tỷ trọng cho vay đối với DNN&V trong tổng dư nợ vay tại
Vietcombank DakLak còn rất khiêm tốn chưa đáp ứng được các yêu cầu
kinh doanh của Ban lãnh đạo và chưa tương xứng với tiềm năng phát triển
của thị trường.
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn đó, với mong muốn góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank DakLak
thông qua việc phát triển hoạt động cho vay đối với các DNN&V, đề tài
“Giải pháp phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Daklak (Vietcombank
Daklak)” là một đòi hỏi cấp thiết cần nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
-

Nghiên cứu cơ sở lý luận hoạt động phát triển cho vay của các

NHTM nói chung và cho vay đối với các DNN&V nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển hoạt động cho vay đối
với DNN&V tại Vietcombank DakLak.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để phát triển cho vay đối
với DNN&V tại Vietcombank DakLak.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu phát triển, đẩy mạnh hoạt động
cho vay của các NHTM cho vay đối với DNN&V.


4

- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động cho vay đối với DNN&V tại
Vietcombank DakLak từ năm 2007 đến năm 2011 và đề ra giải pháp cho
những năm tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết tài chính, tín
dụng và lý luận về các DNN&V. Trong đề tài sử dụng đến các phương
pháp: điều tra, thống kê, phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh và dự
báo.
Một khía cạnh khác là trong đề tài quán triệt các phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét các đối tượng nghiên cứu trong
sự vận động và phát triển, trong mối tương hỗ với các tác động của môi
truờng.
Ngoài ra, còn thừa kế các kiến thức, kinh nghiệm tiếp thu được từ
các quy định quy trình quản lý nghiệp vụ, các tài liệu, các báo cáo, công
trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực liên quan tới đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Hệ thống các quan điểm, lý thuyết về hoạt động cho vay ở nước ta
và các loại hình DNN&V. Khái quát hóa tình hình phát triển cho vay
DNN&V và thực trạng hoạt động cho vay đối với DNN&V của
Vietcombank Daklak, trong nêu lên những thành công, hạn chế và nguyên
nhân.
Để từ đó, đề tài đã đề xuất một số cách thay đổi cần thiết đối với
Vietcombank Daklak góp phần phát triển cho vay DNN&V và giúp cho
một bộ phận kinh tế quan trọng là các DNN&V phát triển bền vững đúng
với định hướng của NN, chính sách tín dụng của hệ thống ngân hàng
TMCP ngoại thương Việt Nam và định hướng của địa phương.
Với cách tiếp cận của đề tài này, có thể góp thêm một số kinh
nghiệm về phát triển cho vay DNN&V cho cả hệ thống Ngân hàng.


5

6. Kết cấu của luận văn
Bố cục của luận văn gồm: phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh
mục viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các biểu đồ, danh mục hình
ảnh, danh mục sơ đồ, danh mục tham khảo.
Cấu trúc nội dung chia làm ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển hoạt động
cho vay DNN&V của NHTM
- Chương 2: Thực trạng cho vay đối với DNN&V tại Vietcombank
DakLak
- Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay đối với
DNN&V tại Vietcombank DakLak


6

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay đối với DNN&V của NHTM
1.1.1. Khái quát hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1.1.Khái niệm hoạt động cho vay:
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho
khách hàng là tổ chức hoặc cá nhân sử dụng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích cụ thể và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi.
- Ý nghĩa của hoạt động cho vay đối với sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng thương mại: Cho vay là hoạt động chủ yếu có tính quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của một NHTM. Tại các nước phát triển lợi
nhuận thu từ hoạt động cho vay của NHTM thường chiếm trên 60% tổng
lợi nhuận và tại các nước đang phát triển thì lợi nhuận thu được từ hoạt
động này chiếm đến 90%. Đối với các NHTM Việt Nam thì lợi nhuận từ
hoạt động cho vay khoảng 85%. Khi hoạt động cho vay phát triển NHTM
có thể khuyến khích khách hàng sử dụng thêm nhiều dịch vụ khác như huy
động vốn, mở tài khoản thanh toán, thanh toán xuất nhập khẩu, trả lương
qua tài khoản, sử dụng các loại thẻ thanh toán và mở rộng các hình thức
cấp tín dụng khác như bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay tiêu
dùng…lợi nhuận thu được từ các hoạt động này tuy không lớn bằng hoạt
động cho vay tuy nhiên đây là các khoản lợi nhuận tương đối ổn định và ít
rủi ro.
Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng, NHTM đã góp phần điều
hoà cung cầu dịch vụ hàng hoá, điều tiết và phân phối nguồn vốn, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới thiết bị, công nghệ góp phần thúc đẩy tăng


7

trưởng và ổn định nền kinh tế từ đó tạo cơ sở để các ngân hàng phát tiển
bền vững. NHTM cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh,
hàng hoá được đưa ra thị trường nhiều hơn. NHTM cho người tiêu dùng
vay để thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Như vậy hoạt động cho vay của
NHTM đã góp phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho
nền kinh tế. Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần điều tiết và phân
phối các nguồn vốn. Vốn sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân
trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện qua các hình thức khác
nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kì tuần hoàn
và luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn
này thể hiện dưới dạng tiền tệ. Tại một thời điểm nhất định có những tổ
chức và cá nhân có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và có những tổ chức và
cá nhân tạm thời thiếu vốn. Đây là hiện tượng mang tính chất tạm thời
nhưng xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kỳ nền kinh tế nào, làm
nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết được vấn đề điều hoà
vốn và chính hoạt động của các NHTM đã góp phần giải quyết tốt nhu cầu
này.
NHTM với vai trò là một trung gian tài chính đứng ra tập trung
phân phối lại tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn cho các doanh nghiệp, đã
góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn. Đa phần doanh nghiệp có
nhu cầu dùng vốn vay ngân hàng để bổ sung vào vốn lưu động, đầu tư xây
dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ hiện đại,
đổi mới dây chuyền sản xuất để giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm giúp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu
quả. Khi doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhu cầu mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh họ có điều kiện để trả nợ ngân hàng và tiếp tục
có nhu cầu vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất, kinh doanh hoặc khi


8

có nguồn vốn dư thừa họ có thể gửi cho ngân hàng để lấy lãi, điều này
giúp NHTM có thể phát triển hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.1.2 Các loại hình cho vay và phương thức cho vay
* Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay:
Cho vay để sản xuất kinh doanh: Mục đích của loại cho vay này là
NHTM cho các cá nhân và tổ chức vay để phục vụ hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động để mua vật tư,
nguyên liệu, hàng hoá, công cụ dụng cụ, xăng dầu, trả lương công nhân,
thanh toán các dịch vụ liên quan đến sản xuất kinh doanh như tiền điện,
nước, dịch vụ bưu chính viễn thông…Dựa vào đặc điểm của từng ngành
mà NHTM sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách
thức trả nợ.
Cho vay đầu tư dự án: NHTM cho các tổ chức và cá nhân vay để
đầu tư vào các dự án nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công
nghệ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. NHTM cũng có thể cho vay để
tư các dự án bất động sản như khu nhà ở cho người có thu nhập thấp, các
khu chung cư, resort cao cấp, nhà nghỉ, khách sạn, các công trình thuỷ
điện…
Cho vay tiêu dùng: Mục đích của loại cho vay này là người đi vay
phải sử dụng tiền vay vào việc mua sắm hàng tiêu dùng thiết yếu cho cá
nhân và gia đình như ôtô, xe máy, tivi, tủ lạnh, mua nhà, đất để ở hoặc sửa
chữa nhà cửa. Đây là những khoản vay mà nguồn vốn vay sau khi được sử
dụng thì không tạo ra lợi nhuận. Vì vậy khi thực hiện hình thức cho vay
này, cán bộ cho vay cần phải tính đến nguồn tiền được dùng trả nợ ngân
hàng của người vay, thường là các khoản thu nhập cá nhân của người vay
và gia đình.


9

* Dựa theo thời hạn cho vay:
Cho vay ngắn hạn: Hình thức cho vay này có thời hạn đến 12 tháng
và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động các tổ chức và nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung và dài hạn: Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời
gian vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay dài hạn là loại cho vay có
thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể đến 40 năm. Cho vay trung
và dài hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng
nhà xưởng, kho bãi, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án nhà ở, các công trình điện, các trang trại.
* Dựa theo mức độ tín nhiệm của khách hàng:
Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm
bảo như tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Loại cho
vay này được áp dụng khi NHTM đánh giá thấy rằng khách có thể khó
khăn trong sản xuất, kinh doanh, nguồn thu nhập của khách hàng từ các dự
án, phương án không chắc chắn, tình hình tài chính không lành mạnh…thì
NHTM yêu cầu khách hàng phải bổ sung thêm các biện pháp đảm bảo. Sự
đảm bảo này là cơ sở pháp lý để NHTM có thêm nguồn thu bổ sung trong
việc thu hồi vốn vay khi lợi nhuận của phương án, dự án không đủ để trả
nợ theo tính toán ban đầu của NHTM .
Cho vay không có đảm bảo: Là khoản cho vay mà NHTM không
nắm giữ tài sản thế chấp, cầm cố của người đi vay hoặc nhận sự bảo lãnh
của bên thứ ba để xử lý nhằm thu hồi nợ mà chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng. Loại vay này chỉ áp dụng cho các khách hàng đã có quan
hệ lâu dài với ngân hàng, có tình hình sản xuất kinh doanh tốt, tình hình
tài chính lành mạnh, có uy tín trong việc trả nợ và ngân hàng có thể giám
sát được một phần hoạt động kinh doanh của khách hàng như thanh toán
tiền mua bán vật tư, hàng hoá qua tài khoản của khách hàng mở tại chính


10

ngân hàng cho vay hoặc khách hàng phải cung cấp các hợp đồng, hoá đơn
mua bán hàng hoá cho ngân hàng trước khi thực hiện khoản vay.
* Dựa theo hình thức hình thành khoản vay:
Cho vay trực tiếp: Đây là các khoản cho vay khi người đi vay trực
tiếp đến NHTM xin vay vốn, đồng thời người đi vay cũng trực tiếp đến
NHTM để trả nợ. NHTM trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử
dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thoả thuận.
Cho vay gián tiếp: Đa phần hoạt động cho vay của NHTM là cho
vay trực tiếp, tuy nhiên trong một số trường hợp như món vay nhỏ và
người vay ở cùng một tổ, nhóm, đội, hội thì NHTM có thể áp dụng hình
thức cho vay gián tiếp nhằm tiết kiệm chi phí cho vay. NHTM không thực
hiện tất cả các bước của hoạt động cho vay mà sẽ chuyền một số khâu của
hoạt động cho vay như phát tiền vay, thu nợ, thu lãi…thông qua đại điện
của các tổ chức trên. NHTM cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ
các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất nhằm kiểm soát mục đích sử
dụng vốn của người vay. Tuy nhiên cho vay theo hình thức này cũng bộc
lộ một số khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình và
nếu NHTM không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại hoặc giữ
lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể
lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cao cho người vay vốn.
1.1.1.3. Phân đoạn thị trường cho vay
Thị trường cho vay của NHTM là một tổng thể rất nhiều tổ chức và
cá nhân với môi trường kinh doanh, ngành nghề kinh doanh khác nhau,
qui mô khác nhau, nhu cầu và qui mô sử dụng vốn khác nhau, trình độ
quản lý, khả năng phản ứng trước những thay đổi của thị trường cũng khác
nhau.
Để thuận tiện trong việc phân tích, đánh giá và quản lý trong hoạt
động cho vay đối với các tổ chức và cá nhân. Tuỳ vào cách thức quản lý


11

và chính sách tín dụng của từng NHTM mà các NHTM thường phân chia
khách hàng vay thành các nhóm khách hàng có nhiều đặc điểm tương
đồng với nhau như nhóm khách hàng là cá nhân, khách hàng là tổ chức.
Trong khách hàng tổ chức được chia ra thành khách hàng là doanh nghiệp
Nhà nước hay ngoài Nhà nước hoặc chia theo loại hình doanh nghiệp như
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân, hợp tác
xã…cũng có thể phân chia khách hàng theo qui mô doanh nghiệp hoăc
chia theo ngành nghề kinh doanh. Khi luật doanh nghiệp ra đời tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp được bình đẳng trong hoạt động kinh doanh
của mình thì các NHTM phổ biến là phân chia khách hàng thành hai nhóm
đó là khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp. Trong khách hàng
doanh nghiệp thì còn phân chia thành doanh nghiệp siêu nhỏ, DNN&V,
doanh nghiệp khác.
DNN&V là nhóm khách hàng rất đa dạng và phức tạp về loại hình
công ty, ngành nghề kinh doanh, qui mô sản xuất, trình độ quản lý, trình
độ lao động…Vì vậy để có thể quản lý tốt nhất nhóm khách hàng chiến
lược này các NHTM cần phải phân chia thành các nhóm khách hàng nhỏ
hơn theo tiêu chí có các tương đồng về trình độ lao, trình độ quản lý, thị
trường, môi trường sản xuất kinh doanh…Từ đó xác định được đặc điểm
riêng của từng nhóm ngành nghề, xu hướng phát triển, nhu cầu vốn, trình
độ quản lý…để có chiến lược đầu tư hợp lý và có chính sách riêng đối với
từng nhóm. Có thể chia các DNN&V thành ba nhóm theo ngành sản xuất
(ba đoạn thị trường) như sau:
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản: Đây là nhóm ngành nghề đỏi
hỏi phải có lực lượng lao động nhiều nhưng giá nhân công phải rẻ. Là
ngành nghề kinh doanh phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thị trường
tiêu thụ không ổn định và có tính thời vụ. Khi cho vay đối với nhóm khách


12

hàng này cần phải chú ý đến tính thời vụ và việc xác định thời gian vay
vốn phải theo đúng chu kỳ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Công nghiệp và xây dựng: Nhóm ngành này rất quan trọng đối với
nền kinh tế nhất là các quốc gia đang phát triển. Nhu cầu vốn chủ yếu là
vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc thiết bị. Hoạt động sản xuất kinh
doanh có tính ổn định tương đối cao, thu hút lực lượng lao động lớn và
phải qua các lớp đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, người đứng đầu phải có
trình độ chuyên môn cao và am hiểu thị trường. Khi đầu tư vào thị trường
này đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực
định đầu tư và phải có tầm nhìn để phân tích thị trường trong dài hạn,
tránh hoặc giảm bớt đầu tư vào những ngành sản xuất có thể gặp rủi ro
trong tương lai do đang bị tập trung đầu tư quá nóng hoặc không chịu đầu
tư vào những ngành hàng đang có tiềm năng. Thương mại và dịch vụ: Đây
là ngành xương sống của kinh tế thị trường, luôn có nhu cầu vốn lưu động
rất lớn và bị ảnh hưởng nhiều đến yếu tố mùa vụ. Nhà quản lý trong ngành
này rất năng động, yêu cầu lao động tương đối chọn lọc. tính ổn định của
hoạt động kinh doanh không cao và rất dễ rủi ro. Khi đầu tư vào nhóm
khách hàng này cần phải chú trọng công tác xác định hiệu quả kinh doanh,
vòng quay hàng tồn kho, các khoản phải thu phải trả, mạng lưới phân phối
và trình độ quản trị và trình độ nhân viên.
1.1.2. Tổng quan về DNN&V
1.1.2.1. Khái niệm về DNN&V
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa, quan điểm, cũng như tiêu thức
khác nhau về Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo luật doanh nghiệp, doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng kỳ kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.


13

Có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp. Dựa vào quy mô kinh
doanh Doanh nghiệp được chia thành: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Trong đó có hai tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là số
lao động

thường xuyên và vốn sản xuất kinh doanh.Việc xác định

DNN&V do đó phải dựa vào tiêu thức trên.
Tùy từng đặc điểm và quy định của mỗi nước mà DNN&V được
định nghĩa theo các cách khác nhau.DNN&V được định nghĩa chung nhất
là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì
mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất
định tích theo các tiêu thức vốn và số lượng lao động .
Trong phần các hình thức cho vay của ngân hàng thì doanh nghiệp
vừa và nhỏ được để cập dưới tiêu thức phân loại là đối tượng cho vay.
Theo Liên minh Châu Âu, DNN&V là doanh nghiệp có số lượng
công nhân không vượt quá 250 người. Tại Úc, DNN&V là doanh nghiệp
có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300 người, còn tại Mỹ là
không quá 1.000 người.
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới(WB) thì DNN&V là
những doanh nghiệp có qui mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động,
doanh thu. DNN&V có thể chia thành ba loại đó là doanh nghiệp siêu nhỏ,
doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh
nghiệp có số lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ
10 đến dưới 50 người, doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở Việt Nam: theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của
Chính phủ về trợ giúp phát triển DNN&V đã đưa ra khái niệm: “ DNN&V
là những cơ sở sản xuất kinh doanh nghiệp độc lập, có đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không qua 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”


14

Như vậy, DNN&V ở Việt Nam bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh
nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định
02/2000/NĐ- CP ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh .
* Nhưng đến Năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị
định số 56/2009/NĐ-CP, về trợ giúp phát triển DNN&V để thay thế Nghị
định 90/2001/NĐ-CP. Trong nghị định này có điểm khác về định nghĩa
DNN&V so với nghị định 90/2001/NĐ-CP. Cụ thể, Nghị định định nghĩa
DNN&V là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng
cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm trong
đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên. Về tổng nguồn vốn thì giao động từ
10 đến 100 tỷ đồng và lao động bình quân năm giao động từ dưới 10 đến
300 người tùy theo qui mô doanh nghiệp và khu vực kinh tế là nông lâm
thuỷ sản, xây dựng, công nghiệp hay thương mại, dịch vụ.
1.1.2.2. Đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay cũng phát triển
với tốc độ trương đối nhiều như: các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ....... đang phát triển nhanh chóng và đang
trở thành lực lượng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội .
Việc phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các
nước tư bản chủ nghĩa và ở các nước xã hội chủ nghĩa trong những thập
kỷ gần đây là do nhiều nguyên nhân vì vậy ta cần hiểu đặc điểm của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, để chỉ các điểm đuợc và chưa được (ưu &
nhược) của loại hình doanh nghiệp này.


15

* Ưu điểm của DNN&V
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi DN có những ưu thế và trở ngại
riêng, có thể thấy các DNN&V có những ưu thế sau đây:
- Thứ nhất: Dễ khởi nghiệp, hầu hết các DNN&V đều có thể dễ
dàng bắt đầu ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh với một số ít vốn, mặt
bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng không lớn, cũng lao động ít.
loại hình DN nay gần như cũng như không đòi hỏi số lượng vốn đầu tư
lớn ngay trong giai đoạn đầu. Rất nhiều DN lớn, tập đoàn công ty đa quốc
gia trên thế giới đã bắt đầu từ DNN&V.
- Thứ hai: Năng động, nhạy bén và dễ dàng thích ứng với thay đổi
của thị trường, đây là một lợi thế nổi trội của DNN&V, do hoạt động với
quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi, ứng biến nhanh với nhu cầu thị
trường, các DNN&V có thể dễ dàng điều chỉnh phương hướng kinh
doanh, cơ cấu sản phẩm, cũng như tăng giảm số lượng công nhân, nhân
viên, có khả năng sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực mà DN lớn không
quan tâm. Đứng trên giác độ thượng mại thì nhờ tính năng động này mà
các DNN&V dễ dàng tìm kiếm thị truờng ngỏ ngách và gia nhập thị
truờng này khi công việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút ra
khỏi thị trường một cách nhanh chóng khi công việc kinh doanh trở nên
khó khăn và kém hiệu qủa. Điều này đặt đối với nền kinh tế đang chuyển
đổi, nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt trong giai đoạn các nền kinh tế
đang gặp khó khăn và khủng hoảng.
- Thứ ba: Dễ dàng tiếp cận các nguồn tài nguyên phân tách nhỏ lẻ
của xã hội, Các DNN&V hoạt động với quy mô nhỏ nằm rải rác trên tất cả
các khu vực lãnh thổ các quốc gia nên dễ dàng tiếp cận các nguồn tài
nguyên phân tán trong xã hội để phát triển sản xuất kinh doanh trong điều
kiện khó khăn, khan hiếm về nguồn lực tập trung cho các DNN&V. Các
loại hình DNN&V dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn trong dân, nguồn


16

lao động sẵn, mặt sản xuất kinh doanh, tận dụng phát triển tối đa các
nguồn lực sẵn có ở các địa phương, vùng trong cả nuớc.
- Thứ tư: Khả năng đáp ứng nhanh và phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng,với nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng đòi hỏi
cao, do vậy người tiêu dùng khơng thích sử dụng các sản phẩm có cùng
tính năng và sản xuất hàng loạt mà thích những sản phẩm độc đáo và tính
riêng biệt. Các sở thích này vừa đa dạng và thay đổi rất nhanh để đáp
ứng nhu cầu. Như vậy, các DNN&V thường rất có ưu thế dễ dàng nắm
bắt và thực hiện nhanh chóng những đáp ứng các nhu cầu thường xuyên
thay đổi của người tiêu dùng. Theo khía cạnh này, các DNN&V có lợi
thế trong việc đònh hướng và làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới từ phía
người tiêu dùng. Nhờ sự phát triển của DNN&V mà hiện nay đã có
nhiều sản phẩm và dich vụ mới ra đời cung cấp cho người tiêu dùng.
- Thứ năm: DNV&N góp phần tạo lập sự phát triển cần bằng giữa

các vùng trong một quốc gia. Tạo ra các tác động ngoại lai tích cực, trên
giác độ kinh tế, thì các DNN&øV tác động ngoại lai rất mạnh kể về mặt
tích cực và mặt tiêu cực. Với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực
sẵn có của đòa phương đặc biệt là những ngành sử dụng nhiều lao động,
DNN&V đã có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng
như nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho dân cư tại đòa phương
hoặc duy trì và bảo vệ các nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Bên
cạnh đó, việc phát triển các DNN&V còn có các lợi ích như giảm
khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa
thành thò và nông thôn, qua đó cũng góp phần làm giảm các tệ nạn xã
hội và giúp chính phủ giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội khác.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×