Tải bản đầy đủ

Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng các` chiến lược sản xuất kinh doanh, điều
vô cùng quan trọng mà không một doanh nghiệp nào được phép bỏ qua là phải tính
đến việc các chi phí sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào, đồng vốn bỏ ra hiệu
quả đến đâu, có đem lại lợi nhuận và hiệu quả như mong muốn ban đầu hay không.
Tri thức quản lý chi phí là một yếu tố thiết yếu trong đầu tư và kinh doanh, nếu
không có kiến thức cơ bản về quản lý chi phí, thì nhà quản lý không thể nào nhận
biết được tình hình thực tế của những dự án đầu tư, các kế hoạch kinh doanh cũng
như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp.
Hiện nay, chế biến thủy sản là một trong những ngành đang được Nhà nước
quan tâm hỗ trợ nhằm phát triển chương trình kinh tế biển, khai thác lợi thế về biển
của Việt Nam. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, một trong những thách thức lớn
đối với doanh nghiệp chế biến thủy sản là tiếp tục duy trì vị trí cạnh tranh ngay tại
thị trường nội địa và mở rộng thị trường xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, các doanh
nghiệp này sẽ phải tìm cho mình một lợi thế cạnh tranh nhất định trong cuộc chơi
mới này. Một trong những giải pháp mà doanh nghiệp chế biến thủy sản cần phải
tính đến, đó chính là việc quản lý và tiết kiệm chi phí ngày càng hiệu quả hơn để
sản phẩm chế biến của mình ngày càng có chất lượng và giá cả phù hợp hơn với
khách hàng.
Công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang, một đơn vị thành viên

của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung, cũng là một doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản. Để phát huy lợi thế so sánh và
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, yêu cầu đặt ra cho Công ty là phải kiểm
soát chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của thị trường. Để
thực hiện được yêu cầu này, Công ty cần tổ chức hệ thống thông tin nội bộ hoàn
chỉnh để cung cấp thông tin cho lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng quản lý. Qua
tìm hiểu thực tế tại Công ty thì việc triển khai ứng dụng KTQT chi phí vào hoạt


động quản lý chưa được quan tâm một cách đúng mức. Như vậy, nhằm đáp ứng nhu
cầu thông tin có chất lượng cao, chính xác, kịp thời, dễ hiểu, dễ sử dụng cho các cấp
quản trị tại Công ty, vấn đề Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty chế biến
và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Miền
Trung thực sự là rất cấp thiết cần được sớm nghiên cứu và đưa vào thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu, đánh giá về thực trạng công tác tổ chức KTQT chi phí tại
công ty Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Thọ Quang, cùng với việc tìm hiểu nhu cầu
thông tin chi phí đầu vào của các cấp quản lý tại Công ty, mục đích nghiên cứu của
luận văn chính là xác lập lại quy trình và nội dung hoàn thiện công tác tổ chức
KTQT chi phí, sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và đáp ứng
được nhu cầu thông tin chi phí phục vụ cho từng chức năng quản trị của các cấp
quản lý tại công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí tại công ty chế
biến và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy
sản Miền Trung
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề có liên quan đến việc tổ
chức, xây dựng hệ thống thông tin chi phí phục vụ cho quản lý tại công ty chế biến
và xuất khẩu thủy sản Thọ Quang, một đơn vị thành viên của công ty Cổ phần Xuất
nhập khẩu thủy sản Miền Trung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện theo hướng nghiên cứu khám phá, mô tả từ đó
phân tích nhằm chỉ ra những mặt làm được, những mặt còn hạn chế trong công tác
xây dựng hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí, với vai trò là công cụ quản lý
tại Công ty chế biến và xuất khẩu Thủy sản Thọ Quang.
Qua tìm hiểu thực tế, luận văn đã thu thập được các số liệu sơ cấp, đó chính
là các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty
mà trọng tâm là các số liệu về chi phí bao gồm cả chi phí thực tế và chi phí dự toán.



Các số liệu này được thống kê lại, tính toán trên Excell nhằm xác định biến phí đơn
vị và tổng định phí, đây là cơ sở để triển khai các nội dung về KTQT chi phí tại
Công ty.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực tiễn vận dụng KTQT chi phí tại Công ty, tác giả đã
xây dựng quy trình và nội dung hoàn thiện công tác KTQT chi phí tại Công ty Chế
biến và Xuất khẩu thủy sản Thọ Quang
Đề tài có tính thực tiễn cao, có khả năng đưa vào áp dụng thực tế tại Công ty.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương.
Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về kế toán quản trị chi phí trong các doanh
nghiệp sản xuất, đây là nền tảng lý luận cho việc trình bày các nội dung trong
chương 2 và chương 3. Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty chế biến và
xuất khẩu thủy sản Thọ Quang thuộc công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản
Miền Trung được trình bày trong chương 2. Trên cơ sở phân tích những vấn đề còn
tồn tại trong chương 2, luận văn trình bày các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ
chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty chế biến và xuất khẩu Thủy sản Thọ Quang
thuộc công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung ở chương 3.

Chương 1


CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
Kế toán cũng như các ngành khoa học khác được hình thành và phát triển
gắn liền với sự phát triển của xã hội. Khi nền sản xuất phát triển, kế toán cũng phát
triển tương ứng để đáp ứng nhu cầu thông tin cho quản lý. Kế toán được định nghĩa
là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra
các quyết định điều hành hoạt động của một tổ chức.
Kế toán chủ yếu tập trung vào việc ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài
chính của một tổ chức, các báo cáo này nhằm truyền đạt thông tin tài chính của một
tổ chức đến các đối tượng bao gồm đối tượng bên trong và đối tượng bên ngoài của
tổ chức đó. Khi nền sản xuất xã hội phát triển cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt,
buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến thông tin cho quá trình ra quyết định, mà
thông tin hàng đầu là thông tin về chi phí của hoạt động kinh doanh. Cùng với sự
phát triển nhanh chóng của công nghệ sản xuất, sự hình thành và phát triển của các
công ty lớn, tập đoàn kinh tế nên đã có sự thay đổi về nhu cầu thông tin và các
phương pháp tiếp cận của nhà quản trị đối với các lĩnh vực khác nhau trong kinh
doanh. Từ đó yêu cầu hình thành một hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho các
đối tác bên ngoài doanh nghiệp gọi là kế toán tài chính và một hệ thống kế toán
cung cấp thông tin nội bộ cho các nhà quản trị để đề ra các quyết định kinh doanh là
KTQT. KTQT được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, kể cả tổ chức phi lợi
nhuận như trường học, cơ quan chính phủ, các tổ chức từ thiện... bởi lẽ nhà quản lý
của mọi tổ chức đều cần thông tin để điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức,
tổ chức có quy mô càng lớn thì nhu cầu thông tin đối với các nhà quản lý càng
nhiều. Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức.
Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt
động của tổ chức. KTQT được áp dụng đầu tiên ở Bắc Mỹ và ở Anh vào nửa thế kỷ
19 trong các ngành công nghiệp dệt lụa, đường sắt, sau đó thâm nhập vào các ngành


công nghiệp luyện kim, hóa chất…và đến năm 1925 đã thâm nhập vào hầu hết các
ngành kinh tế và được nghiên cứu phát triển cho đến nay.
KTQT là một chuyên ngành kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng,
đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội
bộ và ra quyết định quản trị. Có rất nhiều định nghĩa về KTQT:
- Theo luật kế toán Việt Nam ban hành số 03/2003/QH11 ngày 17.06.2003
thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế theo yêu
cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
- Theo định nghĩa của Viện Kế toán viên quản trị Hoa kỳ thì KTQT “là quá
trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt
thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ
tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực
của tổ chức đó.” [4,tr 11]
Theo đó, kế toán quản trị có bản chất đặc trưng như sau:
Thứ nhất, Kế toán quản trị hình thành từ nhu cầu thông tin của những nhà
quản trị trong nội bộ doanh nghiệp, chính sự thay đổi nhu cầu thông tin quản trị của
những nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp thúc đẩy sự phát triển của kế toán quản trị
Thứ hai, Kế toán quản trị ra đời gắn liền với nghiên cứu đối tượng là các
nguồn lực kinh tế liên quan đến quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Thứ ba, bản chất của thông tin trong KTQT không chỉ là thông tin tài chính
đơn thuần mà là thông tin quản lý, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình
vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh
nghiệp đó. Thông tin mà KTQT cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính và
thông tin phi tài chính, bao gồm những thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ
của DN, thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế
hoạch hướng đến các mục tiêu trên thị trường của DN và những thông tin đặc thù để
giúp các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh.


1.2 NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG VIỆC CUNG
CẤP THÔNG TIN CHO QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
KTQT được xem như là sự giao thoa giữa kế toán và quản trị. Chức năng của
nhà quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết
định. Để thực hiện các chức năng này, nhà quản trị phải thu thập thông tin từ nhiều
chuyên gia như chuyên gia mar, chuyên gia tài chính, chuyên gia kỹ thuật, chuyên
gia kế toán…Trong đó, chuyên gia kế toán có vị trí vô cùng quan trọng bởi mục tiêu
của quản lý là tối đa hóa lợi nhuận.
1.2.1 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị nhưng trước hết
nó phải là kế toán chi phí bởi vì giai đoạn đầu của kế toán quản trị được hình thành
từ kế toán chi phí, giúp cho việc xác định và điều tra chi phí của các nhà quản trị.
Tuy nhiên, giữa kế toán quản trị chi phí và kế toán chi phí có những điểm khác biệt
nhau. Thông tin mà kế toán chi phí cung cấp là những thông tin quá khứ được xử lý
từ các số liệu lịch sử và được lấy từ các báo cáo chi phí, bảng tính giá thành, bao
gồm cả thông tin về kế toán tài chính và thông tin về kế toán quản trị. Thông tin mà
kế toán quản trị chi phí cung cấp bao gồm thông tin quá khứ và những thông tin có
tính chất dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí
nhằm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, đồng thời là căn cứ cho các quyết định về
giá bán sản phẩm, quyết định ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia
công…..
Kế toán quản trị chi phí không phân tích chi phí theo quan điểm của kế toán
tài chính mà nhân diện chi phí theo nhiều hướng khác nhau. Đặc biệt kế toán quản
trị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của nhà quản trị
thuộc các cấp quản lý nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quả trị với chi phí phát
sinh thông qua hình thức thông tin chi phí được cung cấp theo các trung tâm quản lý
chi phí. Kế toán quản trị chi phí sẽ cung cấp thông tin về sự biến động của chi phí
theo mức biến động của đơn vị, từ đó giúp cho nhà quản trị có thể phát hiện được
những biến động bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh một cách


kịp thời. Từ đó cho thấy kế toán quản trị chi phí mang nặng bản chất của kế toán
quản trị hơn là kế toán tài chính thuần tuý.
Như vậy, có thể hiểu kế toán quản trị chi phí là bộ phận của kế toán quản trị
thực hiện việc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc
thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm
soát và ra quyết định.
1.2.2 Quản trị doanh nghiệp và yêu cầu từ hệ thống thông tin KTQT chi phí
Quản trị doanh nghiệp là đòi hỏi tất yếu khách quan của quá trình phát triển
kinh tế thị trường vì mục tiêu chính mà các doanh nghiệp luôn theo đuổi là tối đa
hóa lợi nhuận trong việc khai thác tối đa và hiệu quả các nguồn lực của mình. Quá
trình quản lý bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện
kế hoạch, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định.
Lập kế hoạch yêu cầu các nhà quản trị phải xác định rõ mục tiêu kinh doanh
và những giải pháp tích cực để thực hiện mục tiêu đó. Với việc tổ chức thực hiện,
đòi hỏi các nhà quản trị phải gắn kết, phân công và phối hợp một cách hợp lý nhất
các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kế hoạch đề ra. Với việc kiểm tra và
đánh giá, các nhà quản trị phải theo dõi và giám sát mọi hoạt động trong doanh
nghiệp nhằm phát hiện ra những sai sót và kịp thời đưa ra các giải pháp để hạn chế
những sai sót đó. Trên cơ sở thu nhận các kết quả, so sánh sự chênh lệch và đánh
giá các phương án đề xuất thì các nhà quản trị cần lựa chọn một phương án kinh
doanh có hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp từ nhiều
phương án khác nhau.
Do doanh nghiệp có tính tự chủ trong việc sử dụng các nguồn lực của mình
nên người quản lý doanh nghiệp cần có thông tin để hoạch định, tổ chức, kiểm soát
toàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình. Nhu cầu thông tin kế toán của
nhà quản lý các cấp ở doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú và thay đổi liên tục.
Trong điều kiện đó, KTQT phải cung cấp thông tin toàn diện để nhà quản lý có cơ
sở ra quyết định.
Các doanh nghiệp muốn đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt


hiện nay thì cần phải đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững.
Một trong các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải quản lý, kiểm soát,
tiết kiệm chi phí để sản phẩm, dịch vụ ngày càng có chất lượng, giá cả phù hợp.
Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí để thực hiện tốt
các mục tiêu chiến lược của tổ chức là hệ thống kế toán quản trị chi phí. Một hệ
thống KTQT chi phí hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế
hoạch, kiểm soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ doanh nghiệp sẽ giúp
cho các nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng quản trị.
1.2.3 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin cho
các chức năng quản trị doanh nghiệp
Sự kết nối, tính ổn định, định hướng của mối quan hệ giữa nội dung KTQT
chi phí với nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng quản trị của nhà quản trị
trong nội bộ doanh nghiệp sẽ tạo nên “cặp mắt quản trị” đảm bảo cho tính khả thi
của kế toán quản trị trong hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp.
Trong mỗi giai đoạn quản trị, nhà quản trị có nhu cầu thông tin KTQT chi
phí khác nhau, do đó nội dung của KTQT chi phí đáp ứng nhu cầu thông tin trong
mỗi chức năng quản trị cũng khác nhau. Vì vậy, KTQT chi phí phải được xây dựng,
tổ chức, xử lý sao cho phù hợp với các chức năng quản trị, để KTQT phát huy được
vai trò của mình trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin cho nhà quản trị. Có thể tóm
tắt mối quan hệ giữa nội dung KTQT chi phí với các chức năng quản trị qua sơ đồ
sau (Hình1.1):


Lập kế hoạch

Lập dự toán chi phí

Tổ chức thực hiện

Phân loại chi phí, xác
định giá phí, định giá

Kiểm tra, đánh giá

Đánh giá hiệu quả hoạt
động của từng bộ phận

Ra quyết định

Phân tích chi phí để lựa
chọn phương án

Hình 1.1. Sơ đồ nội dung KTQT
1.2.3.1 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong giai đoạn lập kế hoạch
Là chức năng đầu tiên của nhà quản lý để hướng hoạt động, chỉ đạo hoạt
động đạt mục tiêu chiến lược. Việc lập kế hoạch phải dựa vào các căn cứ khoa học
đáng tin cậy, thông tin do KTQT chi phí trong giai đoạn này là các dự toán chi phí,
giá thành sản phẩm để cụ thể hóa việc huy động và sử dụng nguồn lực của doanh
nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định.
* Dự chí chi phí
Dự toán là những tính toán dự kiến một cách toàn diện và phối hợp, làm căn
cứ để huy động kinh doanh của doanh nghiệp, được xác định bằng một hệ thống các
chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai.
Dự toán chi phí là phương tiện cung cấp thông tin cho chức năng hoạch định và
kiểm soát chi phí. Dự toán chi phí được lập chính xác và đầy đủ sẽ đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh được hiệu quả. Thông tin dự toán giúp các nhà quản
trị sẽ có kế hoạch về nguồn lực để đảm bảo thực hiện các hoạt động, đồng thời
lường trước những khó khăn có thể xảy ra và có biện pháp phòng ngừa rủi ro trong


kinh doanh nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.
Dự toán bao gồm dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt. Dự toán linh hoạt là dự
toán được lập với các quy mô sản xuất khác nhau. Trong doanh nghiệp sản xuất, dự
toán chi phí bao gồm các dự toán sau:
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
- Dự toán chi phí sản xuất chung
- Dự toán chi phí bán hàng
- Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp.
Để xây dựng dự toán chi phí cần thiết phải xây dựng các định mức về chi
phí. Doanh nghiệp cần định mức cả về giá lẫn về lượng vì cả hai yếu tố này đều tác
động đến sự thay đổi của chi phí:
+ Định mức giá: Định mức giá được ước lượng bằng cách tổng cộng tất cả
các khoản chi phí liên quan đến việc mua hàng hay nguyên vật liệu (đối với định
mức giá nguyên vật liệu) hay lương và các chi phí liên quan (đối với định mức chi
phí lao động)
+ Định mức lượng: Để xây dựng và thực hiện hệ thống định mức lượng,
doanh nghiệp cần phải quyết định số lượng, chủng loại, thành phần kết hợp các
nguyên vật liệu để tạo ra từng loại sản phẩm; lượng và loại lao động để sản xuất
một sản phẩm. Những định mức kỹ thuật này do các chuyên gia lập ra và đòi hỏi
phải có những kỹ năng làm việc như nghiên cứu phương pháp làm việc và xây dựng
các chỉ tiêu đánh giá từng công việc cụ thể.
Khi định mức lượng, doanh nghiệp có thể dùng hai loại định mức sau:
- Định mức lý tưởng là loại định mức được xây dựng dựa trên điều kiện làm
việc hoàn hảo. Tuy nhiên, điều kiện hoàn hảo này gần như không có được ở hầu hết
các doanh nghiệp, do những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của một tổ
chức. Định mức lý tưởng có thể giúp nhà quản lý thấy rõ những điểm khác biệt
chính tuy nhiên khó áp dụng trong thực tế.


- Định mức dự kiến (định mức thực tế): loại định mức này thường dễ áp
dụng hơn định mức lý tưởng. Đây là các định mức mang tính chất thực tế, vì chúng
cho phép một mức độ sai lệch chấp nhận khi thực hiện. Nếu người thực hiện chi phí
được quản lý tốt và sẵn sàng hợp tác thì doanh nghiệp dễ đạt được định mức dự
kiến.
Dự toán giá thành
Dự toán giá thành sản phẩm có vai trò rất quan trọng trong công tác quản trị
doanh nghiệp giai đoạn hoạch, cụ thể:
Thứ nhất, dự toán giá thành góp phần xác định giá thành sản phẩm hoàn
thành, là cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của từng sản phẩm, từng nhóm sản
phẩm và toàn doanh nghiệp.
Thứ hai, giúp nhà quản lý nổ lực trong việc giảm thấp chi phí sản phẩm, có
giải pháp cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
Thứ ba, là cơ sở để nhà quản lý xây dựng một chính sách giá bán hợp lý, và
ra nhiều quyết định tác nghiệp khác.
Có 2 phương pháp để lập dự toán giá thành sản phẩm như sau:
- Lập dự toán giá thành theo phương pháp toàn bộ: Là phương pháp tính giá
mà toàn bộ chi phí phát sinh tại nơi sản xuất được tính vào giá thành sản phẩm hoàn
thành. Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Tuy nhiên, lập dự toán theo phương pháp này chỉ cung cấp số liệu cho các
DN lập các BCTC theo quy định, song xét về góc độ quản trị phương pháp này
không đáp ứng được yêu cầu cho nhà quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạt
đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuất
khác nhau, đặc biệt khi mà các doanh nghiệp sản xuất phải đương đầu với sự cạnh
tranh gay gắt về giá trong việc tìm kiếm thị trường. Mặt khác do quy trình công


nghệ sản xuất và chất lượng mỗi loại sản phẩm khác nhau nên việc lựa chọn tiêu
thức phân bổ chi phí sản xuất chung rất khó đảm bảo tính chính xác dẫn đến chi phí
đơn vị và kết quả từng mặt hàng không chính xác. Điều này dẫn đến các sai sót
trong các quyết định của nhà quản lý khi lựa chọn mặt hàng kinh doanh. Phương
pháp lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp sẽ đáp ứng được yêu cầu
trên.
- Lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp: Là phương pháp tính
giá mà theo đó giá thành sản phẩm chỉ bao gồm các khoản biến phí sản xuất sản
phẩm tại phân xưởng. Phần định phí sản xuất chung cố định không được tính vào
giá thành sản phẩm hoàn thành. Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Biến phí sản xuất chung
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theo
cách ứng xử chi phí. Các biến phí sản xuất sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp
chi phí, phần định phí sản xuất chung sẽ được tập hợp riêng. Các nhà quản trị quan
niệm định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là chi phí này luôn phát sinh
để duy trì và điều hành hoạt động sản xuất cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong
kỳ trong giới hạn quy mô phân xưởng. Định phí sản xuất chung gần như ít thay đổi
qua các năm, trước khi có sự thay đổi quy mô đầu tư. Do vậy, sẽ bất hợp lý khi tính
định phí sản xuất chung cho sản phẩm hoàn thành vì định phí này không gắn liền
với hoạt động sản xuất như các biến phí sản xuất. Cách nhìn nhận định phí sản xuất
chung là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa không xem chi phí này là chi phí sản
phẩm, khi đó định phí sản xuất chung là yếu tố cần giảm trừ để báo cáo sự thật về
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Phương pháp trực tiếp đã loại trừ được những hạn chế của phương pháp toàn
bộ trong việc phân bổ chi phí chung cho từng sản phẩm, phương pháp này được sử
dụng nhiều trong KTQT để định giá bán sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo
cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ CVP, xác


định sản lượng hòa vốn... Phương pháp tính giá được sử dụng rộng rãi trong các DN
sản xuất.
1.2.3.2 Nội dung kế toán quản trị trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Trên cơ sở các kế hoạch lập ra, nhà quản trị cần tiến hành tổ chức thực hiện
để quyết định cách sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các
kế hoạch đã đề ra.
Với chức năng tổ chức thực hiện, nhà quản trị sẽ biết cách liên kết tốt nhất
con người với nguồn lực sao cho kế hoạch được thực hiện hiệu quả nhất. Thực hiện
là một phần công việc của nhà quản trị phải giải quyết hằng ngày, do vậy để thực
hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cần thiết phải có nhu cầu thông tin về các loại
chi phí và giá thành sản phẩm.
Nhận diện chi phí
Trong giai đoạn này, vấn đề đặt ra là làm sao để kiểm soát được chi phí. Việc
nhận diện và thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại chi phí một cách
thường xuyên là điểm mấu chốt để KTQT chi phí có thể thu thập và cung cấp các số
liệu chi phí thích hợp cho nhu cầu của các nhà quản trị, giúp họ phát hiện các hoạt
động tốn kém quá nhiều để thiết kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạt động tốn kém
chi phí hoặc cải tiến để làm cho hoạt động hiệu quả hơn.
KTQT chi phí có thể nhận diện và phân loại chi phí như sau:
a. Chi phí thực tế, chi phí tiềm ẩn
- Chi phí thực tế: Là các chi phí đã phát sinh trong kỳ và gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Chi phí tiềm ẩn: gồm chi phí cơ hội và chi phí phát sinh trong tương lai.
Chi phí cơ hội là tổng giá trị kinh tế tiềm tàng bị mất đi do tiến hành một quyết định
kinh doanh. Chi phí tương lai là chi phí phát sinh do chịu ảnh hưởng của sự thay đổi
môi trường sản xuất kinh doanh.
b. Chi phí theo tính chất ban đầu
- Là chi phí thể hiện theo tính chất của các yếu tố liên quan đến chi phí như


chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao, chi phí công cụ dụng
cụ,... phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí theo tính chất ban đầu
thể hiện hình thái vật chất , nguồn vật chất ban đầu liên quan đến chi phí phát sinh
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
c. Chi phí kinh doanh, chi phí tài chính, chi phí thuế
- Chi phí kinh doanh là các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp gồm có chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp.
- Chi phí tài chính là chi phí liên quan đến hoạt động khai thác, sử dụng vốn.
- Chi phí thuế là chi phí thể hiện thực hiện nghĩa vụ thuế trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
d. Chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ
- Chi phí sản phẩm là các chi phí liên quan đến sản xuất sản phẩm hay mua
hàng và cấu tạo nên giá vốn sản phẩm.
- Chi phí thời kỳ là các khoản chi phí gắn liền với từng thời kỳ kinh doanh và
không cấu thành nên giá vốn sản phẩm.
Chi phí sản phẩm hay chi phí thời kỳ thể hiện quan hệ giữa chi phí đầu vào
với kết quả đầu ra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
e. Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp
- Biến phí là các chi phí có tổng số thay đổi tỉ lệ thuận theo mức hoạt động.
Tổng biến phí tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại. Còn nếu tính trên một
đơn vị mức độ hoạt động thì biến phí lại không biến đổi trong phạm vi phù hợp.
Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động.
Biến phí bao gồm các chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
bao bì đóng gói, chi phí hoa hồng,...
Xét về tính chất tác động, biến phí được chia làm hai loại là biến phí tỷ lệ và
biến phí cấp bậc, trong đó:
Biến phí tỷ lệ là loại biến phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động


của mức hoạt động căn cứ. Biến phí tỷ lệ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí hoa hồng, chi phí nhân công trực tiếp (doanh nghiệp tính lương theo sản
phẩm)
Biến phí cấp bậc là loại biến phí chỉ thay đổi khi mức hoạt động thay đổi
nhiều và rõ ràng. Nói cách khác biến phí cấp bậc cũng có quan hệ tỷ lệ nhưng
không tuyến tính với biến động của mức độ hoạt động. Biến phí cấp bậc bao gồm
chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì,.... Chiến lược của nhà quản trị trong việc
ứng phó với biến phí cấp bậc là phải nắm được toàn bộ khả năng cung ứng của từng
bậc để tránh khuynh hướng huy động quá nhiều so với nhu cầu, vì điều này sẽ gây
khó khăn khi nhu cầu lại giảm đi.
- Định phí là các chi phí có tổng số gần như không thay đổi theo mức độ hoạt
động trong phạm vi phù hợp, tuy nhiên nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động
thì định phí có quan hệ tỷ lệ nghịch với biến động của mức hoạt động, khi mức hoạt
động tăng thì định phí tính cho một đơn vị giảm và ngược lại. Định phí bao gồm chi
phí khấu hao, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí lãi vay,... Trong các chi phí này, định
phí cũng được phân làm hai loại:
Thứ nhất, loại định phí có bản chất sử dụng lâu dài và không thể cắt giảm
đến không cho dù mức độ hoạt động bị giảm xuống hoặc sản xuất bị gián đoạn,
định phí này được gọi là định phí bắt buộc. Đó là chi phí khấu hao, chi phí bảo
hiểm, tiền lương của các thành viên trong cơ cấu tổ chức cơ bản của doanh nghiệp.
Do định phí bắt buộc có bản chất lâu dài và có ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh
nghiệp nên khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định, nhà quản lý cần cân nhắc kỹ
lưỡng vì một khi đã quyết định đầu tư thì doanh nghiệp buộc phải gắn chặt với
quyết định đó trong thời gian dài.
Thứ hai, loại định phí có bản chất ngắn hạn và trong những trường hợp cần
thiết, nhà quản lý có thể cắt giảm. Mỗi năm các doanh nghiệp phải có báo cáo hoạch
định cho một kế hoạch tài chính. Trong đó, có hoạch định một khoản nhất định cho
các khoản chi thường niên tùy thuộc vào tình hình tài chính và chiến lược kinh
doanh của các công ty. Tuy nhiên chiến lược có thể thay đổi trong trường hợp cần


thiết. Thuộc loại chi phí này gồm có chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo phát triển,...
- Chi phí hỗn hợp là chi phí với hỗn hợp các thành phần biến phí và định phí.
Chi phí hỗn hợp vừa mang đặc tính của biến phí, vừa mang đặc tính của định phí
nên về mặt quản trị, chi phí hỗn hợp phải được phân tích thành biến phí và định phí.
f. Chi phí hữu ích và chi phí không hữu ích
- Chi phí hữu ích là chi phí gắn liền gắn liền với hoạt động hữu ích hay hoạt
động tạo nên giá trị hữu dụng thỏa mãn nhu cầu khách hàng và được khách hàng
trao đổi bằng lợi ích kinh tế
- Ngược lại là chi phí không hữu ích
Chi phí hữu ích và chi phí không hữu ích thể hiện tính hữu ích chi phí, là
thước đo quan hệ và sự phù hợp của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để cắt
giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh.
g. Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là các khái niệm
chi phí phản ánh phạm vi quyền hạn của nhà quản trị đối với những khoản chi phí
phát sinh trong phạm vi quyền hạn của mình. Một khoản chi phí là kiểm soát được
đối với một cấp quản lý nào đó khi cấp quản lý đó có quyền quyết định về khoản
chi đó và ngược lại. Nhà quản lý ở cấp bậc càng cao thì phạm vi kiểm soát chi phí
càng rộng.
k. Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất đi vì lựa chọn phương án và hành động này
thay vì phương án hành động khác. Phương án khác ở đây là phương án tối ưu có
sẵn đã bị bỏ qua. Như vậy ngoài những chi phí kinh doanh đã được tập hợp, phản
ánh trên sổ sách kế toán, trước khi ra quyết định, nhà quản lý còn phải xem xét đến
chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh đó có thể sử dụng theo cách
khác mà cách này cũng mang lại lợi nhuận.
l. Chi phí chìm và chi phí chênh lệch
- Chi phí chìm là các chi phí đã phát sinh, sẽ chắc chắn phát sinh và luôn


luôn tồn tại trong tất cả sự lựa chọn, tình huống và các phương án kinh doanh.
- Chi phí khác biệt là các chi phí phát sinh khác biệt giữa các tình huống,
phương án hoạt động sản xuất kinh doanh hay còn gọi là chi phí khác biệt.
Chi phí chìm và chi phí khác biệt thể hiện sự khác biệt về chi phí trong quan
hệ so sánh, thay đổi hoạt động kinh doanh.
1.2.3.3 Báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Trong giai đoạn này, nội dung của KTQT chi phí còn báo cáo về chi phí sản
xuất và tính giá thành từng loại sản phẩm nhằm cung cấp thông tin tình hình phát
sinh và phân bổ chi phí sản xuất cho sản phẩm đầu ra để tính giá vốn sản phẩm.
Trong sản xuất, theo phương pháp tính giá hàng tồn kho, tính sản lượng hoàn thành
tương đương được thực hiện theo hai phương pháp chủ yếu là phương pháp trung
bình và phương pháp nhập trước xuất trước
1.2.3.4 Nội dung kế toán quản trị trong giai đoạn kiểm tra đánh giá
Trong quá trình thực thi các quyết định, nhà quản trị phải thường xuyên giám
sát, kiểm tra đánh giá để đảm bảo rằng các mặt hoạt động của doanh nghiệp đang đi
đúng theo chiến lược đề ra. Trong giai đoạn này, nội dung KTQT chi phí gồm:
- Phân tích biến động chi phí
- Kiểm soát chi phí thông qua các trung tâm quản lý chi phí
Phân tích biến động chi phí
Chi phí phát sinh thực tế có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với định mức ban
đầu, điều này tạo nên sự biến động chi phí so với định mức. Biến động có thể là bất
lợi khi chi phí thực tế cao hơn chi phí định mức hoặc có lợi khi chi phí thực tế thấp
hơn chi phí định mức. Mục đích phân tích biến động chi phí nhằm đánh giá tình
hình thực hiện kế hoạch chi phí để xác định rõ các nguyên nhân ảnh hưởng bất lợi
đến quá trình tạo ra giá trị của doanh nghiệp. KTQT chi phí cần phân tích một số
khoản mục chi phí như sau:
a. Phân tích các biến động chi phí NVLTT
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là một loại biến phí, khi chi phí nguyên vật


liệu thực tế khác với định mức chi phí nguyên vật liệu thì ta gọi mức chênh lệch đó
là biến động chi phí nguyên vật liệu. Sự biến động này gồm biến động lượng sử
dụng và biến động giá nguyên vật liệu. Trong thực tế, sự biến động giá phụ thuộc
vào cả nguyên nhân khách quan như quan hệ cung cầu trên thị trường, sự thay đổi
chính sách của Nhà nước,… và nguyên nhân chủ quan như chất lượng hàng mua,
phương pháp tính trị giá nguyên liệu xuất kho,…. Biến động về lượng nguyên vật
liệu sử dụng phụ thuộc vào trình độ quản lý nguyên vật liệu, tay nghề của công
nhân trực tiếp sản xuất, tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị, điều kiện nơi sản
xuất,…
Sự phân tích các biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phải được tiến
hành càng sớm càng tốt, nhằm phát hiện kịp thời những bất hợp lý để điều chỉnh
nhằm tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi
phí nguyên vật liệu.
b. Phân tích các biến động chi phí NCTT
Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp bao gồm biến động năng suất
lao động, biến động thời gian nhàn rỗi, biến động đơn giá tiền lương, trong đó:
+ Biến động năng suất lao động phụ thuộc vào công nhân phải mất thời gian

sản xuất nhiều hay ít hơn so với định mức. Nhà quản lý cần đặc biệt quan tâm về
biến động năng suất bất lợi, và xác định rõ người chịu trách nhiệm và lý do vì sao
thời gian sản xuất lại kéo dài. Năng suất lao động tăng hay giảm có thể thường do
ảnh hưởng của các nguyên nhân: Sự thay đổi cơ cấu lao động, năng suất lao động cá
biệt, tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị, chất lượng của nguyên liệu được sử
dụng, các biện pháp quản lý sản xuất, chính sách trả lương cho công nhân,….
+ Biến động thời gian nhàn rỗi hay còn gọi là biến động chi phí thời gian xảy
ra khi thời gian công nhân không có công việc để làm lâu hơn so với dự kiến.
+ Biến động lương xảy ra khi doanh nghiệp phải trả lương thực tế cho công
nhân cao hơn hoặc thấp hơn so với dự kiến. Đơn giá tiền lương tăng do nhiều
nguyên nhân, có thể tổng hợp thành hai nguyên nhân:
+ Do đơn giá tiền lương của các bậc thợ tăng lên


+ Sự thay đổi về cơ cấu lao động: Tiền lương tăng lên khi cơ cấu lao động thay đổi
theo hướng tăng tỷ trọng công nhân bậc cao và giảm tỷ trọng công nhân bậc thấp
tính trên tổng số giờ lao động được sử dụng.
c. Phân tích biến động chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là một loại chi phí khá phức tạp, bởi nó là một chi phí
gián tiếp với nhiều loại chi phí khác nhau về tính chất và được tính vào giá thành
các sản phẩm thông qua sự phân bổ, vì vậy sẽ không có một mô hình duy nhất về
phương pháp để phân tích chung cho các doanh nghiệp. Thông thường phân tích
biến động chi phí sản xuất chung được thực hiện như sau:
+ Phân tích biến động biến phí sản xuất chung: Sự tăng giảm biến phí sản
xuất chung giữa thực tế và định mức (hay dự toán) có thể chia thành hai loại biến
động: Biến động giá và biến động năng suất. Mặc khác, do chi phí sản xuất chung
có nhiều khoản mục nên doanh nghiệp cần lập một bảng tính toán tổng hợp các biến
động và xem đó là báo cáo thực hiện biến phí sản xuất chung.
+ Phân tích biến động định phí sản xuất chung: đặc điểm cơ bản của chi phí
bất biến là không thay đổi cùng với những thay đổi của các mức độ hoạt động. Do
vậy, khi phân tích chi phí sản xuất chung bất biến cần lưu ý một số điểm sau:
Mọi sự chia nhỏ định phí đều có bản chất giả tạo vì chúng không phụ thuộc
vào mức hoạt động.
Xây dựng đơn giá phân bổ định phí sản xuất chung là cần thiết cho quá trình
tính toán biến động nhưng không có giá trị đối với việc kiểm soát chi phí
đặt trong mối quan hệ với mức hoạt động.
Vì những lý do này nên biến động chi phí sản xuất chung bất biến thường
được biểu hiện dưới dạng vật chất thay vì tiền tệ. Sự thể hiện các biến động dưới
hình thái vật chất sẽ cung cấp cho nhà quản lý một cách rõ ràng và cụ thể hơn
nguyên nhân biến động, từ đó sẽ có biện pháp kiểm soát biến động hữu hiệu hơn.
d. Phân tích biến động chi phí bán hàng và quản lý: Phân tích biến động đối
với hai khoản mục chi phí này tương tự như chi phí sản xuất chung


Kiểm soát chi phí thông qua các trung tâm quản lý chi phí.
Sự xuất hiện của trung tâm chi phí gắn liền với sự phân cấp về quản lý, mà ở
đó người quản lý có quyền và chịu trách nhiệm đối với kết quả của hoạt động thuộc
phạm vi mình quản lý.
Quan niệm các trung tâm quản lý chi phí ở đây không có nghĩa là tập hợp
toàn bộ các bộ phận hoặc các phòng ban trong doanh nghiệp làm trung tâm quản lý
chi phí. Chỉ bộ phận nào mà nhà quản lý muốn tính và kiểm soát chi phí hoạt động
của nó thì chúng ta mới nên thành lập trung tâm quản lý chi phí. Trung tâm quản lý
chi phí là nơi giúp chúng ta xác định, tập hợp chi phí và gắn với một đơn vị tính phí.
Trung tâm quản lý chi phí có thể là: Một phòng ban trong một doanh nghiệp, một
nơi làm việc, một dây chuyền máy, một người hay một bộ phận cụ thể.
Việc phân chia chi phí ra thành nhiều trung tâm quản lý chi phí sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác thu thập thông tin về chi phí dễ dàng hơn, qua đó cung cấp
thông tin về chi phí phát sinh ở nhiều bộ phận khác nhau của doanh nghiệp. Hơn
nữa, người quản lý của một trung tâm chi phí nào đó có thể được cấp khoản ngân
sách và thông qua đó giúp họ có thể kiểm soát được chi phí.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, trung tâm chi phí thường tổ chức gắn liền với
các bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh và có thể chia thành
các trung tâm: trung tâm cung ứng, trung tâm sản xuất, trung tâm tiêu thụ, trung tâm
quản lý.
- Đối với trung tâm cung ứng
Báo cáo về tình hình cung ứng các yếu tố đầu vào, giá thực tế mua vào, chi
phí vận chuyển, bốc dỡ ... cũng như chất lượng của từng loại vật tư. Trong báo cáo
phản ánh số liệu dự toán và số liệu thực tế, phân tích sự biến động của đơn giá mua
nhằm đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch, nổ lực trong việc tiết kiệm các yếu tố
đầu vào. Qua đó dự đoán được xu hướng biến động của giá, tình hình cung ứng vật
tư giúp DN chủ động trong sản xuất, tiết kiệm chi phí.
- Đối với trung tâm sản xuất


Báo cáo chi phí sản xuất bao gồm chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí
SXC theo số liệu thực tế và dự toán để làm cơ sở đánh giá trách nhiệm. Tuy nhiên,
báo cáo kết quả của trung tâm sản xuất phải được lập chi tiết theo từng công đoạn
sản xuất, từng phân xưởng sản xuất để kiểm soát chi phí gắn với trách nhiệm quản
lý của từng bộ phận.
- Đối với trung tâm tiêu thụ
Báo cáo về chi phí bán hàng, cơ sở để đánh giá so sánh giữa chi phí thực tế
với kế hoạch đặt trong mối quan hệ tương quan với mức tăng doanh số bộ phận tiêu
thụ.
- Đối với trung tâm quản lý
Báo cáo về chi phí quản lý DN đặt trong mối quan hệ so sánh chênh lệch
giữa thực tế và dự toán nhằm đánh giá tình hình thực hiện dự toán, kiểm soát chi phí
của từng phòng ban chức năng thuộc bộ phận quản lý DN.
- Đối với trung tâm đầu tư
Ngoài việc báo cáo về tình hình chi phí, doanh thu, lợi nhuận; nhà quản lý
còn chịu trách nhiệm báo cáo về các khoản vốn đầu tư, khả năng huy động và sử
dụng các nguồn tài trợ. Số liệu đánh giá dựa trên thực tế so với dự toán.
1.2.3.5 Nội dung KTQT chi phí trong giai đoạn ra quyết định
Đây là chức năng quan trọng nhất, xuyên suốt các khâu quản trị doanh
nghiệp từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra, ra quyết định. Sau
khi lập dự toán, kiểm soát quá trình phát sinh chi phí thực tế, KTQT chi phí sẽ tiến
hành phân tích chi phí một cách linh hoạt để đưa ra các quyết định sách lược như
quyết định chấp nhận hay tư chối đơn đặt hàng, quyết định mua ngoài hay tự sản
xuất,....Nội dung KTQT chi phí trong giai đoạn này gồm:
- Thông tin chứng minh quyết định dựa vào kỹ thuật phân tích CVP
- Thông tin chứng minh quyết định dựa vào phương pháp phân tích thông tin
thích hợp.
Thông tin chứng minh quyết định dựa vào kỹ thuật phân tích CVP


Phân tích mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận sẽ cung cấp thông tin
cho nhà quản trị có những quyết định tốt hơn trong việc lựa chọn kết cấu sản phẩm,
mức sản lượng sản xuất để đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong những điều
kiện giới hạn như: sự ổn định về cơ cấu mặt hàng sản xuất, về giá bán sản phẩm và
định phí là cố định.
Để có ý kiến tư vấn cho doanh nghiệp trong loại quyết định này kế toán quản
trị chi phí phải xử lý thông tin theo qui trình sau (Hình 1.2):
Bước 1

Phân loại chi phí, toàn bộ chi phí được phân thành 2 loại
là chi phí biến đổi và chi phí cố định.

Bước 2

Sử dụng khái niệm SDĐP, ĐBKD, … để phân tích
các phương án với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.

Bước 3

Lựa chọn phương án và đề xuất ý kiến tư vấn

Hình 1.2. Quy trình phân tích CVP
Nội dung của phân tích CVP gồm:
- Phân tích điểm hòa vốn: Là bước đầu của phân tích CVP. Mặc dầu điểm
hòa vốn không phải là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhưng phân tích điểm
hòa vốn sẽ chỉ ra mức hoạt động cần thiết để doanh nghiệp tránh lỗ. Ngoài ra nó còn
cung cấp thông tin có giá trị liên quan đến cách ứng xử chi phí tại các mức tiêu thụ
khác nhau.
- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lãi mong muốn.
- Phân tích sự ảnh hưởng của thay đổi chi phí đối với lợi nhuận.
- Phân tích sự ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng đối với sự thay đổi lợi nhuận.
- Phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi tức và sự thay đổi dự tính về
biến phí và định phí.
Để phân tích CVP, KTQT thường sử dụng các công cụ phân tích sau:
- Số dư đảm phí: Là phần chênh lệch giữa doanh thu với biến phí sản xuất
kinh doanh. Chỉ tiêu số dư đảm phí có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng mối


quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận, do đó nó được sử dụng nhiều trong việc ra
các quyết định kinh doanh của nhà quản trị.
- Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu thể hiện bằng số tương đối quan hệ tỷ lệ
giữa tổng số dư đảm phí với doanh thu, hoặc giữa phần đóng góp với giá bán. Khi
đạt mức sản lượng trên điểm hòa vốn, doanh thu tăng lên lợi nhuận sẽ tăng một mức
bằng tỉ lệ số dư đảm phí. Có nghĩa là khi tăng cùng một lượng doanh thu, sản phẩm
nào có tỷ lệ số dư đảm phí lớn hơn sẽ đạt mức lợi nhuận cao hơn.
- Kết cấu chi phí: Kết cấu chi phí là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ
giữa tỷ lệ định phí và biến phí chiếm trong tổng chi phí kinh doanh. Kết cấu chi phí
có ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch lợi nhuận tại doanh nghiệp, những doanh
nghiệp nào có tỷ lệ biến phí cao trong tổng chi phí thì tỷ lệ số dư đảm phí sẽ thấp
hơn doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao trong tổng chi phí.
- Đòn bẩy kinh doanh: Đòn bẩy kinh doanh đo lường mức độ sử dụng định
phí trong đơn vị, nó là lớn nhất khi định phí chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí và
ngược lại. Một công ty sử dụng độ lớn đòn bẩy cao thì lợi nhuận rất nhạy cảm trước
sự thay đổi của doanh thu, chỉ một sự thay đổi nhỏ về doanh thu sẽ gây ra sự biến
động lớn về lợi nhuận.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu phân tích này có một số hạn chế vì nó dựa trên giả
thuyết kết cấu sản phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy móc thiết
bị không đổi, giá trị đồng tiền ổn định... Vì vậy, tính khả thi và sự chính xác khi ra
quyết định dựa vào quan hệ CVP cần phải xem xét trong những điều kiện nhất định.
Trong khi đó các nhà quản trị lại phải thường xuyên đưa ra các quyết định phức tạp,
khó khăn trước sự biến động của những thông tin phức tạp liên quan hoạt động sản
xuất kinh doanh. Do đó, cần có một phương pháp khoa học tổng hợp, phân tích và
báo cáo ngắn gọn, nhanh chóng những thông tin cần thiết đảm bảo cho việc ra các
quyết định của nhà quản trị chính xác hơn, đó là phương pháp phân tích thông tin
chi phí thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh.
Thông tin chứng minh quyết định dựa vào phương pháp phân tích thông tin
thích hợp


Phương pháp phân tích thông tin chi phí thích hợp sẽ hỗ trợ cho các nhà quản
trị trong việc lựa chọn các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định kinh
doanh. Qúa trình ra quyết định là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau, mỗi
phương án bao gồm rất nhiều thông tin kế toán. Trong đó thông tin về chi phí luôn
là yếu tố quan trọng mà các DN cần xem xét để lựa chọn khi ra các quyết định thích
hợp.
Quá trình phân tích thông tin chi phí thích hợp bao gồm các bước (Hình 1.3):
Bước 1
Bước 2
Bước 3

Tập hợp chi phí liên quan đến các phương án bao gồm cả
chi phí ước tính, chi phí cơ hội, chi phí tiềm ẩn
Loại bỏ chi phí chìm và các chi phí phát sinh như
nhau ở các phương án, chi phí còn lại là thông tin
khác biệt
Thiết kế thông tin chi phí thích hợp
theo các dạng báo cáo phục vụ cho nhà
quản trị ra các quyết định.

Hình 1.3. Quy trình phân tích thông tin chi phí thích hợp
Thông tin chi phí thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh lựa chọn các phương án
kinh doanh khác ở những điều kiện và môi trường kinh doanh khác nhau. Tuy
nhiên, tùy theo từng mục đích mà kế toán sử dụng thông tin thích hợp cho việc ra
quyết định. Các nhà kế toán quản trị chi phí phải phân loại và nhận diện chi phí một
cách đúng đắn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị chi phí. Mô hình phân tích thông tin
chi phí thích hợp giúp nhà quản trị có được thông tin cần thiết nhanh hơn nhưng vẫn
đảm bảo tính khoa học và chính xác.
1.3 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Kế toán quản trị đã hình thành, phát triển vô cùng nhanh chóng về lý luận,
thực tiễn trong các doanh nghiệp trên thế giới. Môi trường cạnh tranh buộc các DN
phải tìm mọi biện pháp mở rộng và phát triển thị trường. KTQT chi phí là công cụ
hữu hiệu cho phép các DN kiểm soát chi phí, đánh giá hiệu quả của từng bộ phận để
có quyết định hợp lý và hữu hiệu. Quá trình phát triển của KTQT chi phí vừa mang


những điểm chung, vừa tạo nên nhữngkhuynh hướng riêng ở từng quốc gia. Để tìm
hiểu về sự hình thành và phát triển của KTQT chi phí ở các nước trên thế giới.
1.3.1 KTQT chi phí trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ
Anh và Mỹ là những nước có nền KTQT chi phí tiên phong trên thế giới với
kỹ thuật cung cấp thông tin hữu ích cho các quyết định quản lý bằng những mô
hình, kỹ thuật định lượng thông tin.
Với sự xuất hiện lâu đời của nền kinh tế thị trường, KTQT chi phí ban đầu
được tổ chức trong DN sản xuất có quy mô nhỏ dưới hình thức kế toán chi phí. Sau
đó, để đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ thông tin, KTQT chi phí tiếp tục phát triển với nhiều nội dung phong
phú. Quá trình đó, KTQT chi phí đã trải qua bốn giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1 - Thông tin để kiếm soát và định hướng chi phí, sản xuất.
Giai đoạn 2 - Thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính hoạt động
SXKD.
Giai đoạn 3 - Thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế sử dụng
của quy trình SXKD.
Giai đoạn 4 - Thông tin để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế tạo ra
giá trị.
Ngày nay, KTQT chi phí trong DN sản xuất ở Anh, Mỹ vẫn thịnh hành
những nội dung là: Phân loại chi phí nhận thức cách ứng xử chi phí, kế toán chi phí
và tính giá thành sản phẩm theo công việc hoặc theo quy trình sản xuất, phân tích
mối quan hệ chi phí- khối lượng- lợi nhuận, đinh lượng ảnh hưởng phương pháp chi
phí toàn bộ và phương pháp chi phí trực tiếp trong thiết lập công cụ quản lý, kế toán
chi phí trên cơ sở hoạt động, chi phí tiêu chuẩn và sự cân bằng các nguồn lực kinh
tế, dự toán chi phí linh hoạt và phân tích biến động chi phí sản xuất chung, báo cáo
bộ phận và các sự phân quyền trong một tổ chức, chi phí thích hợp cho quyết định
kinh doanh ngắn hạn, dự toán vốn đầu tư dài hạn, định giá sản phẩm dịch vụ, phân
tích báo cáo tài chính. Với sự đề cao vai trò cá nhân, vai trò của những nhà quản lý
cao cấp, KTQT chi phí được xem như một công cụ bổ khuyết thông tin quản lý nên


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x