Tải bản đầy đủ

Phương pháp làm tốt bài thi THPT quốc gia môn vật lí

Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
MỤC LỤC
I – Mở đầu :
1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………. 2
2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………….. 3
3. Đối tượng nghiên cứu …………………………………………………. 3
4. Phương pháp nghiên cứu ………………………...……………………. 3
5. Tính mới của đề tài ……………………………………………………..3
II – Nội dung:
1. Cơ sở lí luận: ………………………………………………………….. 4
2. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………… 4
3. Các giải pháp giải quyết vấn đề:
3.1. Phương pháp làm tổng thể một bài thi trắc nghiệm………………. 5
3.2. Một số phương pháp vận dụng để giải các bài toán riêng biệt:
3.2.1. Thay số ở biểu thức cuối cùng …………………………………. 6
3.2.2. Phương pháp loại trừ ……………………………………………9
3.2.3. Phương pháp kiểm tra đáp án ………………………………….. 10
3.2.4. Phương pháp ước lượng thực tế ……………………………….. 10
3.2.5. Một số lưu ý trong quá trình ôn tập và làm bài thi …………….. 11
4. Kết quả thực hiện ………………………..…………………………….. 12
III – Tổng kết ……………………………….….…………………………… 13


-1-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
I – MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài:
- Năm học 2016 – 2017 là năm học có nhiều đổi mới trong giáo dục, đặc biệt
là trong vấn đề kiểm tra đánh giá học sinh hay cụ thể hơn là những đổi mới trong kì
thi Trung học phổ thông Quốc gia từ hình thức đến số lượng các môn thi, từ việc
chỉ phải thi ít nhất 4 và thêm 1 hoặc tối đa 2 môn tự chọn, nay học sinh phải thi ít
nhất 6 môn, và có thể là 9 môn nếu các em chọn hết cả hai bài khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến các em do phải tập trung cho
quá nhiều môn học.
- Hình thức thi mới ở bộ môn Toán học và các môn Khoa học xã hội, từ tự
luận chuyển sáng trắc nghiệm khách quan, khiến cho không chỉ học sinh mà ngay
cả giáo viên gặp nhiều lúng túng trong công tác ôn tập cho học sinh, điều này cũng
gây hoang mang ảnh hưởng đến tâm lí ôn tập của học sinh đối với các môn học
khác.
- Riêng môn Vật lí, mặc dù hình thức thi cũng như các năm qua nhưng chưa
bao giờ là một môn học dễ dàng cho học sinh, một minh chứng là trong các năm
qua tỉ lệ học sinh chọn thi môn Vật lí luôn thấp hơn các môn khoa học tự nhiên
khác như Hoá học và Sinh học. Lí do các em đưa ra là môn Vật lí có quá nhiều
công thức, và quá nhiều dạng bài tập. Kì thi năm 2016-2017 số lượng câu hỏi trong
đề thi có giảm nhưng đồng thời thời gian làm bài của thí sinh cũng giảm đáng kể 50
phút cho 40 câu, đây thực sự là một thách thức không nhỏ đối với học sinh, hơn
nữa các em phải làm 3 bài thi liên tục trong thời gian 150 phút với 120 câu hỏi cho
3 môn.
- Một vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến việc học sinh chưa học tốt môn Vật lí
đó là do tình trạng học sinh học vẹt, chưa đào sâu nghiên cứu dẫn đến tình trạng
hiện nay các em học sinh khối 12 có nhiều em không biết chuyển vế, không biết
thực hiện các phép tính về số mũ, nhân chia đa thức,… chưa nói đến kỹ năng vận
dụng nhiều công thức liên hệ để giải bài tập.
-2-

Dương Văn Mới



Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
2. Mục đích nghiên cứu:
- Với những điều đổi mới trong kì thi THPT quốc gia, học sinh khó có thể
hoàn thành tốt bài thi nếu không có một phương pháp làm bài hiệu quả, khoa học.
- Xuất phát từ lí do đó, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra sáng kiến:
“PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM VẬT LÍ THPT” nhằm giúp
học sinh nắm được các kỹ năng cần thiết để giải bài tập Vật lí, đồng thời có thể
định hướng được phương pháp làm bài thi một cách khoa học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu dựa vào việc thống kê kỹ năng làm bài của học
sinh mà tác giải trực tiếp giảng dạy. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là phương pháp
làm bài thi THPT quốc gia môn Vật lí.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp đối chiếu so sánh kết quả ứng dụng thử nghiệm
đề tài ảnh hưởng đến kết quả nhận thức của học sinh thông qua việc thống kế kết
quả học tập của học sinh. Từ đó rút ra được kết luận về hiệu quả của đề tài trong
việc áp dụng vào thực tiễn.
5. Tính mới của đề tài:
Đề tài được nghiên cứu và ứng dụng trong việc làm bài thi THPT năm 2017.
Do kì thi có rất nhiều thay đổi nên đề tài được nghiên cứu để ứng dụng trong kì thi
THPT năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đảm bảo tính mới mẻ và khả năng áp
dụng thực tiễn cao, không chỉ cho kì thi THPT quốc gia mà ngay cả trong các kì
kiểm tra định kì của học sinh.

-3-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
II – NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận:
- Năm hoc 2016 – 2017 là năm học tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29NQ/TW và Kế hoạch hành động số 1594/KH – SGDĐT ngày 13/10/2014 của
SGDĐT triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
29.
- Nhiệm vụ trọng tâm của ngành là tăng cường nề nếp kỷ cương và chất
lượng hiệu quả trong công tác giáo dục trung học. Thực hiện có hiệu quả các cuộc
vận động, các phong trào thi đua của ngành bằng các hoạt động thiết thực gắn với
việc đổi mới phương pháp giáo dục của nhà trường.
- Năm 2016 – 2017 là năm học với chủ đề “Chủ động, tích cực đổi mới quản
lí giáo dục và hoạt động dạy học”. Đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo trong công
tác quản lí và tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lí và chất lượng dạy học.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Cũng như các môn học khác, học Vật lí lại càng cần phát triển tư duy, năng
lực tích cực của học sinh để không chỉ biết mà còn phải hiểu để giải thích hiện
tượng Vật lí cũng như áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các hoạt động trong cuộc
sống gia đình và cộng đồng.
- Thực tiễn nhìn nhận đề thi THPT quốc gia môn Vật lí trong các năm gần
đây cho thấy các bài tập trắc nghiệm được đưa ra không quá phức tạp, nhưng bao
trùm cả chương trình, đôi khi chỉ những ý rất nhỏ ở những phần lưu ý cũng có thể
đưa ra thành một bài tập trắc nghiệm. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những dạng
bài tập mặc dù không phức tạp nhưng đòi hỏi quá trình giải tìm kết quả mất nhiều
thời gian của học sinh và đây là điều tối kỵ trong việc làm bài thi trắc nghiệm
khách quan.
- Trong quá trình dạy học môn Vật lý, việc giải bài tập Vật lý có tầm quan
trọng đặc biệt giúp củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức cơ bản của bài giảng, xây
-4-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
dựng củng cố kĩ năng kĩ xảo vận dụng kiến thức vào thực tiễn, là biện pháp quý báu
để phát triển năng lực tư duy của học sinh, có tác dụng sâu sắc về mặt giáo dục tư
tưởng, đạo đức lớn. Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa và
dạy học theo phương pháp đổi mới có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu làm tốt bài
thi THPT Quốc gia, thì việc hướng dẫn học sinh biết phân loại, nắm vững phương
pháp và làm tốt các bài tập trong chương trình sách giáo khoa đã góp phần không
nhỏ trong việc thực hiện thành công công tác dạy học theo phương pháp đổi mới.
3. Các giải pháp giải quyết vấn đề:
3.1. Phương pháp làm tổng thể một bài thi Trắc nghiệm:
Để có thể làm tốt một bài thi gồm 40 câu trắc nghiệm trong thời gian 50
phút, học sinh cần nắm được cách làm tổng thể một bài thi. Nếu xét về hoạt động
giáo dục, chúng ta thường chia các câu hỏi làm 4 cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận
dụng và vận dụng cao. Tuy nhiên đối với học sinh, ta có thể chia các câu hỏi thành
3 mức độ:
- Mức độ 1: Câu hỏi, bài tập dễ. Đây là những dạng câu trắc nghiệm mà học
sinh có thể chọn ngay đáp án, hoặc có thể tìm ra đáp án sau một hoặc hai phép tính
đơn giản. Các câu hỏi này thường gặp ở dạng lý thuyết, hoặc kiểm tra kiến thức các
công thức, tính các đại lượng có sẵn trong công thức.
- Mức độ 2: Câu hỏi trung bình. Học sinh đọc và biết hướng làm bài song
cần nhiều thời gian tính toán để tìm ra kết quả. Đây thường là các dạng toán vận
dụng nhiều kiến thức liên hệ, qua nhiều phép toán biến đổi mới tìm ra được kết
quả.
- Mức độ 3: Câu hỏi khó. Học sinh đọc xong không biết hướng giải.
Điểm cho mỗi câu hỏi là 0,25 điểm/1 câu, không phân biệt khó dễ. Do đó học
sinh nên bắt tay vào làm từng câu. Đọc câu hỏi nhanh và cẩn thận. Để làm được
điều này các em cần luyện tập bằng cách làm nhiều đề thì sẽ thành quen, khi làm ta
nên ước lượng thời gian và tiến hành qua ba vòng như sau:

-5-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
- Vòng 1: Làm hết các câu hỏi dễ: Nếu gặp câu hỏi dễ thì chọn ngay đáp án,
những câu này cần cẩn thận để đáp án chắc chắn đúng, khi chọn đáp án cần chú ý
tới đơn vị của đại lượng vật lý cần tính. Đánh dấu lại dưới ký hiệu (+) phía trước
câu hỏi và ta không cần phải xem lại ở các vòng sau. Những câu hỏi thuộc mức độ
2 ta đánh dấu dưới ký hiệu (-), những câu hỏi thuộc mức độ 3 đánh dấu dưới kí
hiệu (*).
- Vòng 2: Làm hết các câu hỏi trung bình, mức độ 2. Các câu hỏi này khi gặp
ở vòng 1 tạm thời bỏ qua.
- Vòng 3: Làm các câu khó. Các câu hỏi khó khi gặp ở vòng 1, 2 tạm thời bỏ
qua. Khi đọc ở vòng 1 và 2 không có hướng giải, nhưng biết đâu đọc lại, cẩn thận
hơn ta thấy nó không khó như ta nghĩ thì cố làm cho ra đáp án đúng.
Nếu đã sắp hết thời gian mà vẫn chưa giải xong thì các câu còn lại bằng phương
pháp thống kê đáp án chắc chắn đúng. Ví dụ: Đã chọn 9 đáp án A, 8 đáp án B, 6
đáp án C, 8 đáp án D. Tức là với 40 câu trắc nghiệm các em còn lại 9 câu chưa rõ
đáp án nào thì xác xuất vào đáp án C là cao nhất, và các em nên chọn đáp án C cho
các câu không thể làm ra.
3.2. Một số phương pháp vận dụng để giải các bài toán riêng biệt:
Với mỗi dạng câu trắc nghiệm ta có một phương pháp riêng để giải nhanh
các câu hỏi. Sau khi nghiên cứu, tác giải đưa ra được một số phương pháp như sau:
3.2.1. Thay số ở biểu thức cuối cùng:
Có nhiều bài tập Vật lí, để giải được thì học sinh cần vận dụng rất nhiều
kiến thức, nhiều phép tính toán đôi khi mất khoảng 3 – 4 phút mới có được đáp án,
vì vậy các em cần nhớ các công thức đã được chứng minh để có thể vận dụng
nhanh vào việc giải bài tập.
-6-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
Ví dụ 1: Đặt điện áp xoay chiều u = U 2 cos100πt (U không đổi, t tính
bằng s) vào hai đầu đoạn mạch mắc nối tiếp gồm điện trở thuần R, cuộn cảm thuần
có độ tự cảm L =

1
H và tụ điện có điện dung C thay đổi được. Điều chỉnh điện


dung của tụ điện để điện áp hiệu dụng giữa hai bản tụ điện đạt giá trị cực đại. Giá
trị cực đại đó bằng U 3 . Điện trở R bằng bao nhiêu?
A.20 Ω.

B.10

Ω.

C.20

Ω.

D.10 Ω.

Bài giải:
Tính trước các giá trị ZL = 20 Ω .
Hiệu điện thế hai đầu cuộn cảm:
U C = I .Z C =

R 2 + ( Z L − ZC )

2

 =
R2  ZL
+ 
− 1
2
ZC
 ZC


2


R2  ZL
y
=
+ 
− 1
Với
2
ZC
 ZC


Khai triển y ta được:

U

=

U .Z C

U
y

2

1

1

2
2
y = ( R + Z L ) Z 2 − 2.Z L . Z + 1
C

1

Đặt x = Z ta được:
C

C

y = (R2 + ZL2).x2 – 2.ZL.x + 1

Do a = (R2 + ZL2) > 0
b

Z

L
Nên y = min khi x = − 2a = R 2 + Z 2
L

Kết quả ta tìm được: Z C =

R 2 + Z L2
ZL

Và U C max

U R 2 + Z L2
=
R

(*)

Thay giá trị U C max = U 3 và ZL = 20 Ω vào biểu thức (*) ta được R = 10
2 Ω . Đáp án B.

Như vậy ở dạng bài tập này học sinh chỉ cần nhớ hai công thức cuối cùng
mà không cần lập luận để tìm ra hai công thức đó.

-7-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
Ví dụ 2: Đặt điện áp u = U 0 cos(ωt ) (U0 và ω không đổi) vào hai đầu mạch R, L, C
không phân nhánh. Biết độ tự cảm và điện dung được giữa không đổi. Điều chỉnh
trị số của R để công suất của mạch cực đại. Khi đó hệ số công suất có giá trị bao
nhiêu?
A. 1.

B. 0,5.

C.

2
.
2

D.

3
.
2

Bài làm
Công suất của mạch R, L, C:
U2
P = RI = R. 2
R + (Z L − Z C ) 2
2

U2
= 2
R + (Z L − Z C ) 2
R
=

U2
(Z − Z C ) 2
R+ L
R

Để công suất cực đại thì theo bất đẳng thức Cosi ta có:
(Z L − Z C ) 2
R=
R
⇒ R = Z L − ZC
R

Hệ số công suất: cos ϕ = Z =
=

R
R + ( Z L − ZC )
2

R
R +R
2

2

=

2
.
2

2

Đáp án C.

Như vậy nếu học sinh nhớ được điều kiện để công suất của mạch cực đại khi
thay đổi giá trị của R là R = Z L − Z C thì có thể giải nhanh bài toán trong chưa đầy 1
phút.

-8-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
3.2.2. Phương pháp loại trừ:
Đây là một phương pháp phổ biến giúp các em giải nhanh rất nhiều câu trắc
nghiệm lý thuyết, lẫn trắc nghiệm bài tập.
Ví dụ: Một vật thực hiện đồng thời hai dao động điều hoà cùng phương
cùng tần số có biên độ lần lượt là 8 cm và 12 cm. Biên độ dao động tổng hợp có giá
trị nào sau đây?
A. 3 cm.

B. 15 cm.

C. 21 cm.

D. 25 cm.

Với dạng bài tập này học sinh cần nắm được giá trị của biên độ dao động
tổng hợp nằm trong khoảng A1 − A2 ≤ A ≤ A1 + A2 ⇔ 4 cm ≤ A ≤ 20 cm . Đáp án B.
Ví dụ 3: Một vật nhỏ dao động điều hòa có biên độ A, chu kì dao động T.
Quãng đường lớn nhất mà vật đi được trong thời gian
A.

A
.
2

B. A .

C. 2A .

T

4

D. A 2 .

Với bài tập này học sinh dễ nhầm lẫn quãng đường vật đi trong 1 chu kì là
A. Tuy nhiên nếu học sinh nắm vững kiến thức thì có thể loại ngay cả 3 phương án,
vì quãng đường lớn nhất vật đi được trong

T
phải lớn hơn A nên ta loại đáp án A
4

và B, còn quãng đường 2A vật phải đi trong thời gian

T
nên ta loại đáp án C. Đáp
2

án D chính xác.
Ví dụ 4: Hai nguồn kết hợp S1 và S2 trên mặt thoáng chất lỏng, cách nhau
18cm, dao động cùng pha với tần số 20 Hz. Tốc độ truyền sóng là 1,2 m/s. Giữa S 1
và S2 có số gợn sóng hình hypebol mà tại đó dao động cực tiểu là
A. 4.

B. 3

C. 5.

D. 6.

Khi 2 sóng cùng pha giao thoa thì số điểm đứng yên (dao động cực tiểu) luôn
là số chẵn, học sinh có thể loại ngay đáp án B và C, như vậy nếu phải khoanh bừa
-9-

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
đáp án thì xác suất đúng của các em là 50 % thay vì chỉ 25 %. Tuy nhiên chỉ nên
khoanh bừa nếu không có thời gian vì đây là một câu hỏi mà học sinh có thể dễ
dàng lấy điểm.
3.2.3. Kiểm tra đáp án:
- Trong nhiều bài tập trắc nghiệm, việc giải bài tập tìm ra đáp án đôi khi
mất nhiều thời gian của các em nhưng nếu dùng đáp án để kiểm tra thì các em có
thể rất nhanh chọn được đáp án đúng.
π

Ví dụ 5: Một vật dao động điều hòa theo phương trình x = 5 cos 4πt − 
6



(cm). Thời điểm đầu tiên vật qua vị trí cân bằng kể từ thời điểm t = 0 là
A.

1
s.
24

B.

1
s.
12

C.

5
s.
24

D.

5
s.
12

Với bài tập này học sinh chỉ cần thay đáp án vào phương trình, nếu đáp án
nào thoã điều kiện x = 0 thì đó là đáp án chính xác, học sinh dễ dàng tìm được đáp
án D.
Ví dụ 6: Một chất điểm dao động điều hoà theo phương trình x = 4cos

2πt
3

(x tính bằng cm, t tính bằng s). Kể từ t = 0, chất điểm đi qua vị trí có li độ x = -2 cm
lần thứ 2015 tại thời điểm là bao nhiêu?
A. 3021s.

B.3022 s.

C.6042 s.

D.6043 s.

Với bài tập này sau khi kiểm tra đáp án học sinh có thể nhận biết đáp án là
B hoặc D. Kết hợp với phương pháp loại trừ khi qua lần thứ 2015 thì thời gian
không thể ít hơn 1007 T (vì 1 chu kì vật qua 1 vị trí 2 lần), vậy thời điểm t phải lớn
hơn và gần với giá trị 3021 s => đáp án B.
3.2.4. Phương pháp ước lượng thực tế:
- Thông thường các bài tập Vật lí được tính toán sao cho kết quả phải sát
với thực tế. Ví dụ vận tốc của electron rất lớn nhưng giá trị không thể vượt quá
3.108 m/s. Dựa vào giá trị thực tế của đại lượng cần tìm, học sinh có thể tìm được
đáp án của nhiều bài tập phức tập mà không cần thực hiện một phép tính nào.
- 10 -

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
Ví dụ 7: Cho biết

238
92

U và

235
92

U là các chất phóng xạ có chu kì bán rã lần

lượt là T1 = 4,5.109 năm và T2 = 7,13.108 năm. Hiện nay trong quặng urani thiên
nhiên có lẫn U238 và U 235 theo tỉ lệ 160 : 1. Giả thiết ở thời điểm tạo thành Trái
đất tỉ lệ 1:1. Cho ln10 = 2,3. Tuổi của Trái đất là bao nhiêu?
A. 4,91.109 năm

B. 5,48.109 năm

C. 6,20.109 năm

D. 7,14.109 năm

Với bài tập này, học sinh chỉ cần nhớ tuổi của Trái đất khoảng 6 tỉ năm thì
có thể chọn ngay đáp án C mà không cần thực hiện phép tính. Tuy nhiên, sau khi
làm xong bài thi nếu còn thời gian ta cũng cần kiểm tra lại tính đúng đắn của đáp
án bằng phép tính.
Ví dụ 8: Một người bước đều tay xách 2 xô nước mà chu kì dao động riêng
của nước trong xô bằng 0,9 s. Khi người đó di với vận tốc 2,4 km/h thì xô nước bắn
tung té mạnh nhất ra ngoài. Vậy mỗi bước đi của người đó dài bao nhiêu?
A. 60 cm.

B. 2,16 m.

C. 2,16 cm.

D. 30 cm.

Với bài tập này học sinh có thể loại ngày 2 phương án vô lí B và C, sau đó
có thể suy xét để thấy rằng bước chân của một người khoảng 60 cm và chọn
phương án A.
3.2.5. Một số lưu ý trong quá trình ôn tập và làm bài thi:
- Dù áp dụng phương pháp giải bài tập nào học sinh cũng cần nắm vững kiến
thức môn học mới có thể làm được các câu hỏi. Do đó học sinh cần nắm vững hiện
tượng Vật lí có liên quan đến kiến thức mà đề bài yêu cầu.
- Đọc kỹ đề bài để tìm các dữ kiện, học sinh thường có thói quen đọc lướt
nhanh câu hỏi để tìm các dữ kiện bằng số và tóm tắt, không quan tâm đến các dữ
kiện bằng chữ của câu hỏi, điều này dẫn đến học sinh không thể giải được các bài
tập do thiếu dữ kiện.

- 11 -

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
- Sử dụng thành thạo máy tính cầm tay. Đây là một dụng cụ hỗ trợ rất hữu ích
cho thí sinh, vì vậy khai thác tốt các tính năng của máy tính sẽ giúp các em một
phần không nhỏ trong việc giải quyết các bài tập.
- Cần tỉnh táo, tập trung đễ phát hiện các “bẫy” trong câu hỏi, chú ý đơn vị
của đáp án có phù hợp hay chưa, ví dụ khi tính toán tìm khối lượng ta được 0,05
kg, nhưng đáp án đúng đề bài lại ghi dưới dạng 50 mg. Chú ý các từ “ĐÚNG”,
“KHÔNG ĐÚNG”, “SAI”,…
- Chuẩn bị kỹ tâm lí và sức khoẻ trước khi vào vòng thi, hạn chế việc thức
khuya ôn bài để hôm sau thi, nhiều thí sinh đã sai lầm khi nghĩ rằng ôn bài lúc cận
thi sẽ tốt hơn, nhớ bài tốt hơn.
4. Kết quả thực hiện:
Đề tài đã được đưa vào thử nghiệm thực dạy ở lớp 12A2 năm học 2016-2017.
Việc ứng dụng đề tài đã giúp học sinh nắm vững phương pháp giải bài tập, kết quả
học sinh áp dụng và thực hiện rất tốt bài thi học kì 1 và đạt được thành tích khả
quan.
Kết quả cụ thể dựa trên kì kiểm tra kết thúc học kì 1:
STT

Lớp

Sỉ số

1

12A1

36

Kém

Yếu

0

0

- 12 -

Kết quả
T Bình

Khá

Giỏi

4

8

24

11,1%

22,2%

66,7%

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
III – TỔNG KẾT:
Mục tiêu cuối cùng của việc dạy học bộ môn là học sinh nắm vững được kiến
thức được truyền đạt và vận dụng được các kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống,
hoàn thành tốt bài kiểm tra trong kì thi Quốc gia là một thước đo chính xác thành
quả học tập của các em, qua đó cũng đánh giá được mức độ thành công của người
trực tiếp truyền thụ kiến thức cho học sinh.
Để đạt được điều này, đòi hỏi người giáo viên cần phải theo sát, tìm hiểu những
thuận lợi và khó khăn của học sinh trong quá trình học môn vật Lí, từ đó tìm ra
những hướng đi, những giải pháp giúp các em vượt qua được những khó khăn đó,
tiến tới tự tin lĩnh hội tri thức. Từ đó tạo được lòng tin để học sinh chủ động học
tập, đảm bảo đúng theo tinh thần của việc đổi mới phương pháp dạy học, lấy học
sinh làm trung tâm. Mặt khác, giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu
để tìm ra nhiều giải pháp hiệu quả giúp học sinh học tập tốt hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm tôi rút ra từ thực tiễn của bản thân và của một số
đồng nghiệp thông qua những tiết dạy. Rất mong nhận được sự đóng góp quý báu
của quý đồng nghiệp để bản thân ngày càng tiến bộ hơn và hoàn thành nhiệm vụ
thiêng liêng mà xã hội giao phó.
An Lạc Thôn, ngày 18 tháng 02 năm 2017.
Người viết

Dương Văn Mới

- 13 -

Dương Văn Mới


Phương pháp làm bài thi trắc nghiệm Vật lí THPT
Xác nhận của hội đồng thi đua cơ sở
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
…………………………………………………………………….
Xác nhận của Sở Giáo Dục và Đào Tạo Sóc Trăng
……………………………………………………………………..
……………………………………………………………………..
……………………………………………………………………..
……………………………………………………………………..
……………………………………………………………………..
……………………………………………………………………..

- 14 -

Dương Văn Mới



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×