Tải bản đầy đủ

Giới thiệu một số phương pháp tăng cường bổ sung nước dưới đất từ nguồn nước mưa và nước mặt khả năng áp dụng ở vùng đồng bằng ven biển nam trung bộ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
BAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
HỘI NGHỊ NCKH SINH VIÊN NĂM 2012

http://www.wru.edu.vn

BÁO CÁO NCKH SINH VIÊN-NĂM 2012
“GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TĂNG CƯỜNG BỔ SUNG
NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỪ NGUỒN NƯỚC MƯA VÀ NƯỚC MẶT
KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN
NAM TRUNG BỘ ”

Giáo viên hướng dẫn: Th.S Đỗ Tiến Khoa
Sinh viên thực hiện:

Bùi Xuân Khoa

Lớp: S11- 50 CTN – Chuyên ngành Cấp Thoát Nước
Trường Đại Học Thủy Lợi

TP. HỒ CHÍ MINH: 06 – 2012



TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 1

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề .........................................................................................................
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .........................................................................
3 .Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................
4. Phạm vi nghiên cứu ..........................................................................................
NỘI DUNG THỰC HIỆN: ...................................................................................
I. CÁC ĐIỀU KIỆN TÍCH TRỮ NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỪ NƯỚC MƯA: ..........
1. Các điều kiện lý tưởng để thu gom nước mưa ..................................................
2. Các khía cạnh cần cân nhắc khi tính toán thiết kế bổ cập nước dưới đất từ nước
mưa và nước mặt...................................................................................................
3. Các vùng có tiềm năng bổ cập .........................................................................
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP BỔ CẬP NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỪ NƯỚC MƯA VÀ
NƯỚC MẶT: ........................................................................................................
1. Bổ cập nước dưới đất bằng các phương pháp trực tiếp: ...................................
1.1. Các phương pháp ép nước lỗ khoan, hầm mỏ ...............................................
1.1.1. Ép nước qua lỗ khoan và hầm mỏ tự nhiên ................................................
1.1.2. Sử dụng các lỗ khoan ép nước ....................................................................
1.1.3. Bổ cập nước dưới đất trực tiếp bằng nguồn nước mưa dư thừa .................
1.1.3.1. Bổ cập nước mưa cho nước ngầm tại khu vực đô thị ..............................
a. Xây dựng các hố bổ sung nước mưa .................................................................
b. Hầm bổ cập thẳng có giếng phun .....................................................................
2. Các phương pháp bổ sung gián tiếp nước dưới đất ..........................................
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG PHÁP
BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI CÁC ĐỒNG BẰNG VEN
BIỂN NAM TRUNG BỘ .....................................................................................
1. Các yếu tố khí hậu và thủy văn ........................................................................
1.1. Đặc điểm khí hậu ........................................................................................
1.2. Đặc điểm thủy văn ......................................................................................

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa




TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 2

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

2. Các yếu tố địa hình ........................................................................................
3. Các yếu tố địa chất - địa chất thủy văn ..........................................................
3.1. Các yếu tố địa chất ......................................................................................
3.2. Các yếu tố địa chất thủy văn: ......................................................................
3.3. Các yếu tố khác ...........................................................................................
IV. LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG PHÁP BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI
ĐẤT CHO CÁC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ ....................
1. Vùng đá gốc nứt nẻ ........................................................................................
2. Vùng đồng bằng ven sông .............................................................................
3. Vùng các đồng bằng ven biển ........................................................................
KẾT LUẬN: ......................................................................................................

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 3

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TĂNG CƯỜNG BỔ SUNG
NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỪ NGUỒN NƯỚC MƯA VÀ NƯỚC MẶT
KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ
GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa
SVTH: Bùi Xuân Khoa
Chuyên ngành Cấp Thoát Nước
Trường Đại Học Thủy Lợi
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm vừa qua cùng với sự đô thi hóa là vấn đề bê tông hóa cũng
đang xảy ra ở nhiều thành phố lớn. Vấn đề sử dụng nước ở các đô thị cũng đang là vấn
đề bức thiết bởi tài nguyên nước được đánh giá không phải là tài nguyên vô hạn. Vấn
đề cấp nước và sử dụng nước an toàn đang được quan tâm hơn bao giờ hết. Bài toán
cấp nước lúc này không phải là chỉ lấy nước tại nguồn xử lý và đem ra sử dụng mà vấn
đề đặt ra ở chỗ lấy nước rồi cần phải bổ sung nước vào nguồn thì vấn đề cấp nước mới
thực sự an toàn và hiệu quả.
Hiện nay nguồn nước lấy làm nước thô cấp cho nguồn cũng có những lựa chọn
phong phú, nhưng vấn đề quan tâm nhất hiện nay là nguồn nước thô lấy từ nguồn nước
ngầm. Với quá trình sử dụng nước ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình hay các công ty
cấp nước đang sử dụng các giếng khoan tập trung hay giếng lẻ để lấy nước cấp cho
sinh hoạt, điều đó làm cho nguồn nước dưới đất bị cạn kiệt hoặc ô nhiễm gây ra những
hậu quả nghiêm trọng, nhất là thay đổi chế độ địa chất thủy văn của nền đất cũng như
gây ra tình trạng ô nhiễm nước và thiếu hụt nước trong tương lai.
Đề tài này dừng lại ở việc phân tích và giới thiệu các điều kiện để tích trữ và
một số phương pháp bổ cấp nước dưới đất bằng nguồn nước mặt và quan tâm nhất ở
đây và vấn đề bổ cập nước dưới đất từ nguồn nước mưa.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài thực hiện nhằm phân tích và giới thiệu một số phương pháp bổ cập
nguồn

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 4

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

nước ngầm là điều kiện, tiền đề để đi sâu hơn vào nghiên cứu và lựa chọn được
phương pháp bổ cập nước dưới đất thích hợp tại mỗi địa phương tùy thuộc vào địa
hình, điều kiện khí tượng, địa chất và địa chất thủy văn. Đề tài cũng nêu lên một số
điền kiện có thể ứng dụng để bổ cập nước dưới đất cho khu vực ven biển Nam trung
bộ, nơi mà nguồn nước mặt thường xuyên khan hiếm cũng như nguồn nước ngầm có
độ nhiễm mặn cao.
-

Tận dụng nguồn nước sông hồ làm nước thô để bổ cấp cho nguồn nước ngầm khi

các biện pháp bổ cập tự nhiên không đáp ứng đủ nhu cầu khai thác nước cấp của con
người
-

Kiểm soát xâm ngập mặn tai những vùng ven biển, tăng cường dòng chảy trên

sông, giảm dòng chảy mặt và xói mòn đất, tận dụng nguồn nước mưa, nước lũ lụt để
giảm khả năng phá hoại của chúng và kiểm soát sụt lún mặt đất.
-

Cải thiện chất lượng nước trong các tầng chứa nước

-

Cải thiện lớp phủ thực vật

-

Nâng cao mực nước trong các giếng khai thác đã bị khô

-

Bổ cập nguồn nước ngầm từ nguồn nước mặt cũng là phương pháp tích trữ nước

mà không tốn diện tích chứa đựng trên bề mặt, bên cạnh đó lại giảm được khả năng
nhiễm bẩn của nguồn nước mặt do quá trình thấm lọc qua các lớp vật liệu lọc tự nhiên
qua các tầng địa chất.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-

Đề tài được thực hiện dựa trên việc tiếp cận và phân tích những tài liệu từ sách

báo, tạp chí có liên quan và xuất phát từ những ý tưởng cá nhân dựa trên những
nguyên tắc vận động của nguồn nước
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài không thực hiện trên một vị trí địa lý hay không gian hoặc thời gian
nào, mà chỉ phân tích, đánh giá và giới thiệu các phương pháp bổ cập nguồn nước
ngầm, từ đó dựa vào điều kiện địa lý tự nhiên, khí tượng, điều kiện địa chất, điều
kiện địa chất thủy văn, để chọn ra được phương pháp thực hiện tối ưu cho mỗi
vùng.

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 5

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

NỘI DUNG THỰC HIỆN
I. CÁC ĐIỀU KIỆN TÍCH TRỮ NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỪ NƯỚC MƯA.
1. Các điều kiện lý tưởng để thu gom nước mưa
- Nơi có lượng mưa bình quân hằng năm cao, khu vực hay bị bão, lũ..mà không đủ
không gian để xây các bể chứa trên mặt, đặc biệt đối với vùng đô thị
- Mực nước nằm đủ sâu thường là lớn hơn 8m và có sẵn không gian ngầm
- Địa tầng có tính thấm nằm nông hoặc sâu trung bình
- Nước dưới đất có chất lượng kém, và mục đích đặt ra là phải cải tạo chất lượng
nước
- Nơi có thể có sự xâm nhập của nước mặt, đặc biệt các vùng ven biển
- Tốc độ bốc hơi từ các khối nước mặt là cao
2.

Các khía cạnh cần cân nhắc khi tính toán thiết kế bổ cập nước dưới đất từ
nước mưa và nước mặt
- Đặc điểm ĐCTV của vùng, bao gồm bản chất và qui mô tầng chứa nước, lớp
đất phủ, địa hình, độ sâu mực nước ngầm, đặc điểm hóa học của nước dưới đất
- Nguồn nước để bổ cập cho nước dưới đất đây là một trong những đòi hỏi đầu
tiền để bổ cập cho nước dưới đất, được đánh giá dưới dạng dòng chảy mặt dư
thừa theo mùa
- Hiện trạng sử dụng đất, các khu công nghiệp, các vành đai xanh, diện tích mái
nhà, hình thái dòng chảy tại các sông, suối.
- Đặc điểm khí hậu như thời gian mưa, kiểu mưa và cường độ mưa

3.

Các vùng có tiềm năng bổ cập
- Vùng mực nước dưới đất thường xuyên bị giảm do cung vượt quá cầu
- Vùng có nhiều tầng chứa nước chưa bão hòa
- Vùng ven biển dễ bị xâm ngập mặn
- Vùng nước dưới đất không có đủ vào các tháng cạn kiệt

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 6

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

- Vùng đô thị hóa nhanh, thấm của nước mưa vào đất giảm mạnh và bổ cập cho
nước dưới đất bị cạn kiệt để đảm bảo nước lấy cấp cho sinh hoạt và kiểm soát
hiện tượng sụt lún nền trong các đô thị lớn hiện nay.
II. CÁC PHƯƠNG PHÁP BỔ CẬP NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỪ NƯỚC MƯA VÀ
NƯỚC MẶT
Các phương pháp bổ cập nước dưới đất hiện nay có thể được chia thành 2
nhóm:
-

Nhóm các biện pháp bổ cập trực tiếp bao gồm các phương pháp thấm
qua lỗ khoan, qua hầm mỏ, qua các hố nhân tạo

-

Nhóm các biện pháp bổ sung gián tiếp bao gồm các phương pháp thấm
qua đáy sông, đáy hồ.

Đề tài sẽ đi giới thiệu và phân tích 2 nhóm phương pháp bổ cập nước dưới đất như
trên:
1. Bổ cập nước dưới đất bằng các phương pháp trực tiếp
1.1 Các phương pháp ép nước lỗ khoan, hầm mỏ
1.1.1 Ép nước qua lỗ khoan và hầm mỏ tự nhiên
Phương pháp này được áp dụng tại những vùng có sẵn hầm mỏ hoặc các moong
khai thác sỏi, đá, sét, quặng sắt… đã bỏ trống hoặc nơi cần thiết đặc biệt cho
bảo vệ môi trường. Do điều kiện chênh áp nên nước được thấm xuống lòng đất
và bổ cập cho nguồn nước ngầm mạch nông, hoặc trung nông. Tuy nhiên để
tránh hiện tượng tắc nghẽn tại các lỗ hổng thấm nước thì nước phải được sơ
lắng, đặc biệt đối với nước mưa mùa bão lũ..Phương pháp này lượng nước bổ
cập nhanh so với tự nhiên tuy nhiên chất lượng nước dưới đất dễ bị nhiễm bẩn
do hàm lượng chất lơ lửng, các hóa chất trên mặt đất và cả các vi sinh vật.
1.1.2 Sử dụng các lỗ khoan ép nước
Phương pháp này cho phép ép nước mặt vào đất thông qua các lỗ khoan ép
nước và được khai thác thông qua các lỗ khoan nước khác.

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 7

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

Hình vẽ trên cho ta thấy nước được bổ cập trực tiếp thông qua các lỗ khoan có
sẵn. Nước sau khi được bổ cập được chứa trong các tầng xung quanh lỗ khoan
và được khai thác tại cùng một lỗ khoan để sử dụng. Theo phương pháp này ta
gọi là hệ thống chứa và khai thác tầng chứa nước ( ASR). Hoặc nước được ép
vào một lỗ khoan và được khai thác tại 1 lỗ khoan khác gần lỗ khoan bổ cập để
tăng thời gian di chuyển và tận dụng khả năng tự xử lý nước của tầng chứa
nước. Phương pháp này gọi là phương pháp Chứa – Vận chuyển – Khai thác (
ASTR ). Phương pháp này cho chất lượng nước khai thác lên tốt hơn phương
pháp ( ASR ) do có thời gian di chuyển và tận dụng được khả năng tự xử lý của
tầng chứa.
Phương pháp bổ cập nước trực tiếp từ các giếng khoan được áp dụng tại địa
chất tầng chứa bị phủ một lớp thấm yếu và cũng áp dụng tại những nơi diện tích
đất nhỏ hẹp nhưng nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức. Tuy nhiên phương
pháp này yêu cầu chất lượng nước bổ cập cao hơn phương pháp ép nước từ hầm
mỏ tự nhiên.
Đặc điểm của phương pháp này là có thể áp dụng cho từng hộ gia đình
đang sử dụng các lỗ khoan để khai thác nước ngầm hoặc các lỗ khoan đã bị bỏ
hoang. Nước mưa được dẫn từ máng thu nước tới ống PVC sau đó được nối với
ống hút của máy bơm. Khi mưa tới mở van khóa nối giữa ống dẫn nước mưa và
nước theo ống hút của máy bơm bổ cập trực tiếp vào nguồn: Theo mô hình sau

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 8

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 9

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 10

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

1.1.3 Bổ cập nước dưới đất trực tiếp bằng nguồn nước mưa dư thừa.
Công nghệ chứa và thu gom nước mưa hợp lý để sử dụng cho mục đích trước
mắt đã trở thành quên thuộc và được áp dụng hầu hết ở các địa phương . Tuy
nhiên thu gom nước mưa để bổ cấp cho tài nguyên nước dưới đất hiện nay đang
bị khai thác mất an toàn là một bài toán mới và không hề đơn giản. Các biện
pháp thu gom và bổ sung nhân tạo nước dưới đất từ nước mưa được trình bày
trong đề tài bao gồm: Các hố bổ sung, các hào rãnh, các giếng đào, các lỗ khoan
bỏ hoang trong các hộ gia đình, các hầm thẳng đứng, các hào ngang kết hợp lỗ
khoan, các đạp chắn, hồ thấm và đập đất….
1.1.3.1 Bổ cập nước mưa cho nước ngầm tại khu vực đô thị
a. Xây dựng các hố bổ sung nước mưa.
Trong các vùng địa chất ven sông có tính thấm nằm ở độ sâu không lớn, ta thu
gom nước mưa và có thể thực hiện bổ cập cho nước ngầm thông qua các hố bổ cập.
2

Công nghệ này thích hợp cho các toà nhà có diện tích mái 100 m , trong đô thị
có thể được xây dựng tại các khu chung cư, hội trường, nhà thi đấu, sân vận
động…Nước được thu trên mái nhà và dẫn xuống các hố bổ cập xây dựng tại khu vực

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 11

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

xung quanh mà vẫn không ảnh hưởng tới diện tích hữu ích của ngôi nhà. Và phương
pháp này được xây dựng để bổ cập cho các tầng chứa nước nằm nông.

Các hố bổ cập có hình dạng và kích thước bất kỳ ( có thể là tiết diện tròn,
vuông, chữ nhật ) và thường có chiều rộng 1 đến 2 m và chiều sâu 2 đến 3m được lấp
bằng cuội (kích thước 5 đến 20cm), sỏi (kích thước 5 đến 10mm) và cát thô (kích
thước 1,5 đến 2mm) dưới dạng chọn lọc. Cuội ở đáy hố, sỏi ở giữa và cát ở trên cùng
để hàm lượng bột trong dòng chảy mặt sẽ lắng đọng trên mặt của lớp cát thô và có thể
loại bỏ dễ dàng. Đối với diện tích mái nhà nhò, các hố này có thể được lấp bằng gạch,
đá vỡ và diện tích cũng có thể nhỏ hơn.
Nên phủ một tấm lưới trên mái nhà để ngăn cản lá cây hoặc chất thải rắn đi vào
hố, cũng nên có một bể lắng ở mặt đất để ngăn cản các hạt mịn đi vào hố bổ cập. Nên

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 12

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

định kỳ vệ sinh bề mặt của lớp cát trên cùng để dy trì tốc độ bổ cập. Cũng nên có bộ
phận xả trước hố bổ cập để loại bỏ các cơn mưa đầu tiên.
Ta có thể hình dung rõ nguyên tắc hoạt động của hố bổ sung thông qua hình vẽ
mô phỏng các hệ thống thu gom và bổ cập nước mưa:

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 13

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

b. Hầm bổ cập thẳng có giếng phun.
Thích hợp với mực nước ngầm sâu, tầng nước nằm dưới lớp đất sét dày không thể
thấm qua được dẫn đến bổ cập tự nhiên kém
Giếng phun có thể có hoặc không có các bộ phận lắp ráp đi kèm, khi không có bộ
phận lắp rắp được đổ thêm lớp sỏi giúp nước liên tục bổ cập vào tầng nước
Giếng phun không có bộ phận lắp rắp có thể mang lại hiệu quả cao hay không phụ
thuộc vào lượng nước cần được bổ cập.

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 14

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

Với phương pháp bổ cập bằng hầm bổ cập có giếng tiêm, ta có thể bổ cập cho
nguồn nước dưới đất một lượng nước lớn, gần như tức thì và có thể kiểm soát được
chất lượng nước bổ cập nhờ vào hệ thống lọc được sử dụng trong hầm bổ cập. Đồng
thời có thể tăng lượng nước bổ cập bằng cách mở rộng hầm và tăng thêm số lượng
giếng tiêm hay tăng thêm số lượng các hầm trong khu vực cần bổ cập
Nguồn nước dùng để bổ cập đa dang hơn có thể là nguồn nước mặt, nước mưa hay
nước thải sinh hoạt sau khi qua xử lý.
2. Các phương pháp bổ sung gián tiếp nước dưới đất
Thấm qua đáy sông là phương pháp bổ sung nước dưới đất gián tiếp được thực
hiện bằng cách bố trí các công trình khai thác gần các con sông, hồ, kênh, suối. Khi
các công trình khai thác hoạt động sẽ tạo ra nguồn bổ sung từ nước sông, hồ, kênh,
suối và tham gia một phần vào lượng nước được khai thác ( Theo như hình minh họa
dưới đây )
Trong phương pháp này, ngoài các đặc điểm địa chất thủy văn không thể thay đổi,
nguồn bổ sung cho tầng chứa nước bị chi phối bởi hai yếu tố:
-

lưu lượng khai thác từ hành lang khai thác Q

-

khoảng cách L giữa hành lang khai thác và sông.

Bổ sung nhân tạo nước dưới đất bằng phương pháp này thường gặp các vấn đề như:

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

-

Trang 15

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

Nước sông, hồ, kênh suối có thể bị nhiễm bẩn do nước thải công nghiệp,
do các sự cố tràn dầu

-

Các chất lơ lửng như bột và các chất hữu cơ, các chất bẩn như sắt,
mangan bị giữ lại hình thành một lớp tắc nghẽn ở đáy và bờ sông

-

Sự pha trộn giữa nước thấm từ sông và nước dưới đất có thành phần hóa
lý khác nhau có thể gây ra tắc nghẽn .

Hình 2 - Thấm qua trầm tích đáy sông

III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG
PHÁP BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI CÁC ĐỒNG
BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ
Lựa chọn các phương pháp bổ sung nhân tạo bị chi phối bởi các yếu tố khí hậu, thủy
văn, địa chất và địa chất thủy văn, địa hình địa phương, số lượng và chất lượng nguồn
nước.
III.1 - Các yếu tố khí hậu và thủy văn
Các điều kiện khí hậu và thủy văn ảnh hưởng tới khả năng ứng dụng các phương pháp
bổ sung nhân tạo vì chúng quyết định lượng nước sẵn có để tàng trữ.
III.1.1 - Đặc điểm khí hậu.
 Nhiệt độ
Khu vực Nam Trung Bộ có nhiệt độ cao quanh năm, nhiệt độ trung bình năm dao động
từ 26,5 đến 27,5 oC. Nhiệt độ trung bình thấp nhất thường xảy ra vào tháng 1 (24,2 -

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 16

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

25,3 oC), sau đó tăng dần và thường đạt cực đại vào tháng 6, tháng 7 ở Khánh Hòa;
tháng 4, tháng 5 ở Ninh Thuận và tháng 5, tháng 6 ở Bình Thuận, sau đó lại giảm dần
đến tháng 1 năm sau. Nhiệt độ tối cao trung bình hàng năm đạt tới 30,5-31,5 oC; cao
nhất xảy ra vào tháng 6, 7 và 8, đạt 33,6-34,6 oC, riêng Bình Thuận xảy ra vào tháng 5
hoặc tháng 6 đạt 32,5-33,5 oC; thấp nhất xảy ra vào tháng 12 và tháng 1, đạt 26,5-29,5
C. Nhiệt độ tới thấp trung bình năm dao động trong khoảng 23,5-25 oC; với tỉnh

o

Khánh Hòa là 20,5-24,5 oC, với tỉnh Ninh Thuận là 24,5-26 oC, với tỉnh Bình Thuận là
21,5-25 oC
 Lượng mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm trong toàn khu vực phổ biến từ 1150-1950mm; riêng
tỉnh Ninh Thuận lượng mưa trung bình năm từ 700-800mm. Những tháng có lượng
mưa lớn và cường độ mưa cao là những khoảng thời gian có thể thu gom nguồn nước
mưa để bổ sung cho nước dưới đất. Ngoài ra mưa có tác dụng pha loãng, vì vậy vào
mùa mưa tổng độ khoáng hóa của nước dưới đất thường nhỏ hơn vào mùa khô, các
vùng có khí hậu khô tổng độ khoáng hóa của nước dưới đất lớn hơn ở những vùng khí
hậu ẩm ướt.
 Bốc hơi
Tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm đạt từ 1120-1920mm , phân bố không đều
trong các tháng. Lượng bốc hơi tiềm năng hàng năm thường cao hơn lượng mưa trung
bình năm. Bốc hơi có tác dụng cô đặc muối trong nước. Vào mùa khô tổng độ khoáng
hoá của nước dưới đất cao hơn mùa mưa.
III.1.2 - Đặc điểm thủy văn
Các sông ở khu vực Nam Trung Bộ đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn
đông dãy Trường Sơn. Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất
lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn. Ở đoạn đồng bằng, lòng sông
rộng và nông, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn, nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập
mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình
che chắn nên thoát lũ kém. Các sông đều là sông vừa và nhỏ với diện tích lưu vực nhỏ
hơn 10.000km2 Dòng chảy năm của các sông khu vực Nam Trung Bộ phân phối
không đều trong năm do sự phân phối không đều của lượng mưa và hình thành hai

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 17

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Lượng dòng chảy 4 tháng mùa lũ chiếm khoảng từ 6575% lượng dòng chảy cả năm. So sánh với nhu cầu dùng nước, sự phân phối dòng
chảy hai mùa như trên rất bất lợi cho sản xuất: trong khi nhu cầu nước trong các tháng
1-8 (mùa cạn) rất cao thì dòng chảy trên sông nhỏ, trái lại nhu cầu dùng nước trong các
tháng 9-12 (mùa lũ) không cao lắm thì phần lớn nước tập trung trong những tháng này.
Vì vậy trữ nước để bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất trong mùa lũ để phục vụ nhu
cầu nước trong mùa cạn là hết sức cần thiết. Ngoài ra, vào mùa mưa nước sông cung
cấp cho nước dưới đất, thành phần hóa học của nước sông có ảnh hưởng trực tiếp đến
thành phần hóa học của nước dưới đất và vào mùa khô nước dưới đất không chịu tác
động của nước sông cũng là những điểm cần chú ý khi xây dựng các công trình bổ
sung nhân tạo. Trong những năm gần đây khu vực Nam Trung bộ có diễn biến thời tiết
hết sức phức tạp, hạn hán kéo dài làm cho lưu lượng các dòng sông xuống thấp, các
hoạt động kinh tế-xã hội ven sông phát triển mạnh mẽ làm cho nguồn nước các sông bị
ô nhiễm và nhiễm mặn.
 Tình hình xâm nhập mặn
Tại tỉnh Khánh Hòa, tại các sông Dinh (sông Cái Ninh Hòa), sông Cái Nha
Trang về mùa mưa nước thường đục, độ tổng khoáng hóa của nước sông thấp (0,05
đến 0,1 g/l), về mùa khô phần hạ nước sông bị nhiễm mặn bởi thủy triều. Ranh giới
nhiễm mặn sâu về phía thượng lưu từ 3km (sông Dinh) đến 10 km (sông Cái Nha
Trang).
Tại tỉnh Ninh Thuận, xâm nhập mặn đáng chú ý tại sông Cái Phan Rang, ngay
cả vào mùa mưa nước sông bị nhiễm mặn khoảng 1 km từ cửa sông, vào mùa khô ranh
giới mặn tiến sâu vào đất liền 4,6km.
Tại tỉnh Bình Thuận, tại sông Lũy vào mùa khô ranh giới mặn tiến sâu vào đất
liền tới 4,2km, tại sông Lòng Sông chảy qua vùng Tuy Phong vào mùa khô lưu lượng
giảm rất mạnh nên nước mặn đã xâm nhập vào phía thượng nguồn >3km. Tại sông Cái
Phan Thiết vào mùa khô lưu lượng sông chỉ còn 0,025m3/s tạo điều kiện cho xâm
nhập mặn vào rất sâu trong đất liền, tuy nhiên do có đập chắn (cách cửa sông 7,6km,
nên nước mặn đã bị chặn lại ở đây.
 Tình hình ô nhiễm

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 18

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

Theo kết quả quan trắc của các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Khánh Hòa,
Ninh
Thuận và Bình Thuận cho thấy tại tỉnh Khánh Hòa nhìn chung các chỉ tiêu đều thấp
hơn tiêu chuẩn cho phép, riêng chỉ tiêu COD và Coliform đều vượt hàm lượng cho
phép. Tại tỉnh Ninh Thuận nước sông đã bị ô nhiễm BOD, COD và Coliform và có
dấu hiệu ô nhiễm nhẹ mangan và thủy ngân. Tại tỉnh Bình Thuận các sông chính đã bị
ô nhiễm vượt cả tiêu chuẩn loại B đối với các thông số BOD, COD, mangan, nitơrit và
có dấu hiệu ô nhiễm nhẹ thủy ngân và mangan.
III.2 - Các yếu tố địa hình
Địa hình của các đồng bằng ven biển Nam trung bộ có các dạng địa hình với
những đặc điểm sau :
Địa hình núi trung bình: Phát triển dọc theo bờ biển dưới dạng các núi sót điển
hình. Ở đây quá trình trao đổi nước xảy ra mạnh, nước mưa và nước mặt cung cấp cho
tầng chứa nước, thành phần hóa học của nước dưới đất được hình thành trong quá
trình hòa tan, rửa lũa. Tổng khoáng hóa của nước thường nhỏ, loại hình nước ít thay
đổi
Địa hình đồng bằng bóc mòn - tích tụ: Đây là các dải đồng bằng trước núi.
Trong vùng có các đồng bằng Diên Khánh, đồng bằng Ninh Sơn. Trong địa hình này,
nước mặt và nước mưa cung cấp cho nước dưới đất. Các quá trình hoà tan chiếm ưu
thế, nước dưới đất có độ tổng khoáng hóa cao hơn ở miền núi.
Địa hình đồng bằng và cồn cát ven biển: Phân bố kéo dài dọc theo bờ biển. như
đồng bằng Vạn Ninh - Ninh Hoà, Nha Trang - Cam Ranh, Phan Rang và đồng bằng
Phan Thiết - Hàm Tân. Trong loại địa hình này xảy ra các quá trình bốc hơi, hoà tan
các muối và quá trình xâm nhập mặn do ảnh hưởng của khai thác. Tổng khoáng hóa và
thành phần hóa học của nước có sự biến đổi phức tạp. Một điểm nổi bật về địa hình
vùng Nam Trung Bộ là tồn tại những dãy cồn cát kéo dài từ vài chục đến hàng trăm
km, rộng từ 5 đến 10km. Xen kẹp giữa những cồn cát cao có nhiều trũng lòng chảo
rộng. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để tạo ra những bồn thấm ở trên những dải
cồn cát cao, nước sau khi thấm qua các tầng cát có thể chảy bằng trọng lực ra những
vùng thấp hơn ở xung quanh và được khai thác phục vụ cấp nước tại các vị trí gần các

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 19

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

khu dân cư, ngoài ra các vùng trũng giữa các cồn cát là những vị trí lý tưởng để thu
gom và chứa nước mưa hoặc nước sông với thể tích lớn vào mùa mưa để bổ sung cho
nước dưới đất.
III.3 - Các yếu tố địa chất - địa chất thủy văn
III.3.1 - Các yếu tố địa chất
Các yếu tố địa chất có sự ảnh hưởng sâu sắc đến sự lựa chọn các phương pháp bổ sung
nhân tạo nước dưới đất. Phục vụ cho mục đích lựa chọn các phương pháp bổ sung
nhân tạo nước dưới đất thích hợp, có thể chia các đồng bằng Nam Trung Bộ thành các
vùng : vùng đá gốc nứt nẻ, vùng các đồng bằng ven sông và vùng các đồng bằng ven
biển
Vùng đá gốc nứt nẻ
Trong vùng này có các tầng chứa nước khe nứt trong các đá Paleozoi, Mezozoi, phun
trào
Bazan và trầm tích Neogen. Vùng này phân bố khá rộng, thường nằm ở các phía bắc
và tây của các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Đây là các vùng núi thấp,
gò đồi có độ cao từ 15m đến hàng trăm mét. Lớp phủ trên mặt mỏng, mực nước dưới
đất nằm trong khoảng 10 đến 15m, và dao động theo mùa. Nguồn nước chính có thể sử
dụng cho các công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất là nước mưa.
Vùng các đồng bằng ven sông
Trong vùng này có các tầng chứa nước lỗ hổng trong các thành tạo Pleistocen và
Holocen có nguồn gốc sông, sông-biển, phân bố ở các thung lũng sông, có cao độ từ 5
đến 15m. Thường là vùng tập trung phát triển các khu dân cư, đô thị, thị xã của các
tỉnh ven biển Nam Trung Bộ. Mực nước dưới đất ở vùng này dao động theo mùa và
thay đổi trong khoảng từ 1,5 đến 5m. Nguồn nước chính có thể sử dụng cho các công
trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất là nước mưa và nước sông.
Vùng các đồng bằng ven biển
Trong vùng này có các tầng chứa nước lỗ hổng thuộc các trầm tích gió, biển, phân bố
dọc theo bờ biển, tạo thành các cồn cát, dải cát ven biển. Cao độ từ 5 đến 25m, đôi khi
tới 50m. Là vùng phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng của các tỉnh ven biển Nam
Trung Bộ. Mực nước dưới đất thay đổi trong khoảng từ 2 đến 5m. Nguồn nước chính

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 20

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

có thể sử dụng cho các công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất là nước mưa, nước
sông và nước hồ.
III.3.2 - Các yếu tố địa chất thủy văn
Các tầng chứa nước lỗ hổng.
Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen
Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen phân bố chủ yếu ở các thung lũng
sông lớn và ở các vùng đồng bằng trong vùng. Bề dày thường gặp từ 5,0 đến 10 m.
Nước trong tầng thuộc loại nước ngầm, có mực nước thay đổi từ 1,0 m đến 1,5m. Kết
quả hút thí nghiệm tại các lỗ khoan và giếng dân dụng cho thấy: lưu lượng thay đổi
trong khoảng rộng từ 0,18 đến 4,4 l/s, thường gặp từ 0,5 đến 1,0 l/s. Thành phần hóa
học nước thuộc loại bicarbonat clorur natri, clorur bicarbonat natri. Độ khoáng hóa của
nước từ 0,12 đến 10,5 g/l, giá trị thường gặp từ 0,2 đến 0,5g/l, thuộc loại nước nhạt.
Vùng ven các cửa sông và vùng thấp ven biển, nước trong tầng chứa này thường bị
nhiễm mặn, độ khoáng hóa từ 1,5 đến 10 g/l.
Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen
Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen lộ ra ở phía tây Ninh Hòa, tây
thành phố Nha Trang và thị xã Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa; thung lũng sông
Kinh Dinh, bắc Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận; Phan Rí Cửa, Phan Thiết và Hàm
Tân thuộc tỉnh Bình Thuận và phần lớn phân bố ở đáy các đồng bằng ở độ sâu từ 3 đến
30 m. Bề dày trầm tích 10 đến 20m.
Nước trong tầng này chủ yếu là nước ngầm, có mực nước tĩnh thay đổi từ 0,0
đến 7,0 m, thường gặp 1,0 đến 3,0 m. Đôi nơi gặp nước áp lực khá mạnh, nước phun
cao từ
+ 0,93 đến + 3,6 m. Nhìn chung tầng này có khả năng chứa nước trung bình. Tổng độ
khoáng hoá thay đổi rất lớn theo diện. Vùng bắc Khánh Hòa (Ninh Hòa) thường là
nước nhạt, có tổng độ khoáng hóa thay đổi từ 0,17 đến 0,89 g/l, loại hình hóa học nước
chủ yếu là clorur bicarbonat, bicarbonat clorur; còn lại ở Nha Trang Cam Ranh (Khánh
Hòa) và Ninh Thuận nước trong chúng thường bị nhiễm mặn, có tổng độ khoáng hóa
từ 1,62 đến 11,0 g/l, với loại hình hóa học chủ yếu là Clorurrur - natri. Một số khu vực

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 21

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

của tỉnh Bình Thuận nước trong tầng này có độ khoáng hóa cao từ 1,0 đến 2,73 g/l,
không phải do sự xâm nhập mặn của nước biển, mà do sự xâm nhập của nước khoáng
bicarbonat. Động thái của nước thay đổi theo mùa, biên độ dao động mực nước thay
đổi từ 0,5 - 1,5 m. Nguồn cung cấp cho chúng là nước mưa ở phần lộ và nước ngấm từ
các tầng chứa nước lỗ hổng Holocen và nước mặt.
Các tầng chứa nước khe nứt
Tầng chứa nước trầm tích Neogen
Tầng chứa nước này lộ ra ở Mộ Tháp (Nam Phan Rang) và phân bố ở đáy đồng
bằng Phan Thiết. Thành phần bao gồm: cát kết, cuội sạn kết, sét bột kết, gắn kết yếu.
Bề dày tầng chứa nước thay đổi từ 10 đến 15 m. Nước trong chúng chủ yếu là nước
ngầm và áp lực yếu. Mực nước tĩnh thay đổi từ 1,21 m đến 37,7 m. Lưu lượng các lỗ
khoan từ 0,18 đến 2 l/s, thường gặp 1,0 đến 1,5 l/s. Hệ số thấm trung bình 2 đến 5
m/ngày. Mức độ giàu nước trung bình. Động thái của nước trong các tầng Neogen biến
đổi theo mùa, biên độ dao động giữa hai mùa từ 0,5 m đến 1,5, bình quân 1,0 m.
Nguồn cung cấp cho tầng chủ yếu thấm từ các tầng chứa nước phía trên.
Tầng chứa nước khe nứt trầm tích Creta
Tạo nên tầng chứa nước này là các đá thuộc hệ tầng Đăk Rium . Chúng lộ ra ở
Hòn Một (Ninh Hòa) và rải rác một số nơi khác. Thành phần là cuội kết, sạn kết cát
kết, bột kết. Bề dày > 100m. Thành tạo này nhìn chung có mức độ chứa nước kém.
Tuy nhiên, trong các đới phá hủy kiến tạo chúng lại có khả năng tàng trữ nước. Lỗ
khoan LK810 đã khoan vào đới nứt nẻ cho lưu lượng Q = 2,72 l/s, mực nước phun cao
trên mặt đất + 0,25 m. Nước thuộc loại bicarbonat – natri - magne, độ khoáng hóa 0,46
g/l.
Tầng chứa nước khe nứt trầm tích Jura (j)
Tầng chứa nước khe nứt trầm tích Jura phân bố rộng rãi ở diện tích phần phía
tây của 3 tỉnh, trong đó phổ biến ở 2 tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận. Nước trong tầng
này thuộc loại nước ngầm, mực nước tĩnh thay đổi từ 1,0 đến 5,0m. Tính thấm của đá
từ kém đến trung bình, thay đổi từ 0,05 đến 2,86 m/ngày, thường gặp <1,0 m/ngày.
Lưu lượng các lỗ khoan từ 0,09 đến 0,57 l/s, nơi gặp các đới phá hủy kiến tạo có thể
đạt tới 5 - 6 l/s.

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 22

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

Nước trong tầng chứa nước khe nứt Jura có độ khoáng hóa từ 0,43 đến 9,31 g/l,
có nơi đạt tới 58,2 g/l (Ninh Hòa - Khánh Hòa). Đối với trầm tích Jura phân bố ven
biển thường có tổng khoáng hóa > 1,0 g/l do sự xâm nhập mặn của nước biển vào tầng
chứa nước và liên quan đến nước khoáng (Hàm Tân - Bình Thuận). Những khu vực
giáp biển, nước trong tầng này thường bị nhiễm mặn (ven biển Ninh Hòa, đồng bằng
Nha Trang)
Còn lại các khu vực phía tây nước trong chúng thường nhạt, có thể khai thác
cung cấp nước cho nhân dân trong vùng với quy mô không lớn. Động thái mực nước
thay đổi theo mùa, với biên độ dao động không lớn khoảng 0,3 - 0,4 m. Nguồn cung
cấp cho tầng là nước mưa, nước sông suối và nước từ các tầng chứa nước nằm trên
ngấm xuống và được thoát theo các mạng xâm thực địa phương. Có thể tóm tắt rằng
về mặt địa chất thủy văn các tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Holocen và
Pleistocene đều là các tầng chứa nước không áp, lộ ra trên mặt hoặc nằm rất nông,
thành phần thạch học bao gồm các loại cát thạch anh hạt từ mịn đến trung, có tính
thấm cao, có mực nước dưới đất nằm sâu, bề dày không bão hòa khá lớn. Những yếu
tố này rất thích hợp cho phương pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất bằng các bồn
thấm và cho phép nghĩ đến một khả năng tàng trữ nước được bổ sung rất lớn.
III.3.3 - Các yếu tố khác
Khai thác nước dưới đất
Tại Bình Thuận: Số lượng lỗ khoan tay khá lớn, khoảng 3.769 lỗ khoan. Trong
đó, các lỗ khoan trong chương trình UNICEF là 1.437 lỗ khoan, chiếm 38,5%. Chất
lượng các lỗ khoan nhìn chung còn thấp. Việc cung cấp nước cho các đô thị ở Bình
Thuận hiện tại chủ yếu dựa vào các nguồn nước mặt. Khai thác nước ngầm được thực
hiện ở những vùng đơn lẻ như Đại Hoà (Tuy Phong), thị trấn Sông Mao (Bắc Bình),
nhà máy nước Hoà Phú và một vài nơi khác bằng những trạm khai thác nhỏ với lưu
lượng không quá 500 m3/ngày. Tại các lỗ khoan khai thác vào mùa khô thường không
có đủ nước hoặc chất lượng nước khai thác kém (nhiễm mặn). Nguồn cung cấp nước
chính vẫn dựa vào nước mặt tại các hồ chứa.
Tại Ninh Thuận: Năm 1933, tại thị xã Phan Rang, công trình cấp nước gồm 3 lỗ
khoan nông 8m, công suất 2.200m3/ngày và chất lượng nước kém (nhiễm mặn). Một

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 23

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

tổ chức tư nhân đã xây dựng một trạm cấp nước ở cảng cá Đông Hải gồm 3 lỗ khoan
khai thác thường xuyên 250 – 300m3/ngày. Theo thống kê của chương trình nước sạch
sinh hoạt nông thôn Ninh Thuận đến năm 1996 trong toàn tỉnh đã thi công được 255 lỗ
khoan tay, 595 giếng sục bùn, đào được 802 giếng khơi, cải tạo được 567 giếng khơi
và 5 hệ thống nước tự chảy. Năm 1997 Công ty cấp nước Ninh Thuận bắt đầu thi công
7 lỗ khoan sâu 15 –17m dọc quốc lộ 1 khai thác nước trong trầm tích Đệ tứ ở vùng
Phước Dân (Ninh Phước) với tổng công suất dự kiến 2.100m3/ngày. Trong chương
trình chống hạn năm 2005, khoảng 50 lỗ khoan khai thác với công suất 15m3/ngày đã
được khoan tại 13 xã ven biển.
Tại Khánh Hoà: ở Nha Trang công suất khai thác 7000m3/ngày, ở Cam Ranh
khai thác được 500m3/ngày. Chương trình UNICEF có 335 lỗ khoan máy, 625 lỗ
khoan tay tổng lượng khai thác khoảng 19.000 m3/ngày.
Rõ ràng là hiện nay tại các tỉnh Nam Trung Bộ, lượng khai thác nước dưới đất
phục vụ mục đích cấp nước chưa lớn do đặc điểm là các tầng chứa nước thường bị cạn
kiệt trong mùa khô. Một khi các công nghệ bboor sung nhân tạo nước nước đất được
áp dụng, trữ lượng các tầng chứa nước sẽ được tăng cường đáng kể, chất lượng nước
sẽ được cải thiện, nguồn nước dưới đất sẽ góp phần giảm nhẹ áp lực thiếu nước vào
mùa khô do chất lượng của các nguồn nước mặt không có lợi.
Sử dụng đất
Diện tích đầm hồ nuôi tôm: Ninh Hòa (1313 ha), Cam Ranh (729ha), Vạn Ninh
(323 ha), Nha Trang (282ha). Tốc độ khai phá đất làm đầm hồ nuôi tôm đặc biệt tăng
trưởng nhanh trong vòng 10 năm trở lại đây. Việc khai phá làm hồ nuôi tôm dẫn nước
mặn lấn sâu vào đất liền làm mặn hóa các tầng chứa nước ven biển, muối hóa đất.
IV - LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG PHÁP BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI
ĐẤT CHO CÁC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ
Tuỳ thuộc mục đích bổ sung nhân tạo nước dưới đất, vị trí, đặc điểm khí hậu,
thủy văn, địa chất và địa chất thủy văn có các phương pháp bổ sung nhân tạo khác
nhau thích hợp cho từng vị trí. Dưới đây là sự lựa chọn các phương pháp bổ sung nhân
tạo nước dưới đất thích hợp cho từng vùng khác nhau tại các đồng bằng ven biển Nam
Trung Bộ.

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

Trang 24

HỘI NGHỊ NCKH SV NĂM 2012

IV.1 - Vùng đá gốc nứt nẻ
Vùng này thường bao gồm tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Đệ tứ
không phân chia có bề dày không lớn nằm trên tầng chứa nước khe nứt trong các loại
đá gốc.
Phương pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất thích hợp nhất cho vùng này là sử
dụng phương pháp bồn thấm (thông qua các hố móng, moong khai thác) hoặc phương
pháp bồn thấm kết hợp với các lỗ khoan ép nước. Các bồn thấm có thể xây dựng trong
tầng chứa nước lỗ hổng Đệ tứ không phân chia.
Một phương pháp khác cũng có thể áp dụng có hiệu quả trong vùng này là xây
những đập và rãnh thấm kề nhau trên cùng một đường đẳng độ cao địa hình, trên bờ
các rãnh thấm này trồng các loại cây thích hợp. Công trình loại này, ngoài mục tiêu
tăng cường bổ sung cho nước dưới đất, còn giảm thiểu hiện tượng xói mòn và cải thiện
môi trường lớp phủ.
Một điểm hạn chế khi áp dụng các phương pháp bổ sung nhân tạo nước dưới
đất trong vùng này và nguồn nước để bổ sung không nhiều, dựa chủ yếu vào nước
mưa, tập trung từ tháng 7 đến tháng 10. Do vậy khả năng cung cấp nước sẽ hạn chế.
IV.2 - Vùng đồng bằng ven sông
Vùng này thường bao gồm các tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích bở
rời Holocene và Pleistocene. Các tầng chứa nước trong vùng này thường có quan hệ
thủy lực với nước sông. Nguồn nước để bổ sung cho các tầng chứa nước ngoài nước
mưa còn từ nước sông, đôi khi chiếm một tỷ lệ đáng kể.
Phương pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất thích hợp nhất là thấm qua đáy
sông. Các bãi lỗ khoan khai thác nên được bố trí thành hình vòng cung cạnh sông ở
khoảng cách sao cho thời gian di chuyển của nước sông đến lỗ khoan bảo đảm trong
khoảng từ 50-60 ngày là thời gian được coi là đủ để loại bỏ hết các vi trùng gây bệnh
trong nước bổ sung. Việc bố trí theo hình vòng cung để tránh trường hợp nước sông bị
nhiễm bẩn sẽ phải ngưng toàn bộ bãi giếng ngay lập tức. Trong các lòng sông có thể

Sinh viên thực hiện: Bùi Xuân Khoa

GVHD: Th.S Đỗ Tiến Khoa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×