Tải bản đầy đủ

Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạn

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG.............................................................................................................2
I.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH

KHÔNG LÀNH MẠNH................................................................................................................2
1.1

Khái niệm chung...........................................................................................................2

1.2

Đặc điểm của quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh...............................2

1.3

Phân loại quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh......................................3


II.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY..............................................4

2.1

Quảng cáo so sánh.........................................................................................................4

2.2

Quảng cáo bắt chước....................................................................................................4

2.3

Quảng cáo gây nhầm lẫn..............................................................................................5

2.4

Các hành vi trái pháp luật khác..................................................................................6

2.5

Hình thức xử lý đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh6

III. THỰC TIỄN..............................................................................................................8
3.1

Thực tiễn hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh...................8

3.2

Những bất cập và giải pháp kèm theo......................................................................12

IV.

HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở

MỘT SỐ NƯỚC..........................................................................................................................14
4.1


Thực tiễn ở một số nước.............................................................................................14

4.1.1 Tại Hòa Kỳ.....................................................................................................14
4.1.2 Tại Úc..............................................................................................................17
4.2

Học tập kinh nghiệm của một số nước.....................................................................18

KẾT LUẬN.......................................................................................................................21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................22


LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghệ số, quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng đối với việc kinh
doanh của các doanh nghiệp. Hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp có được khách hàng biết
đến và sử dụng hay không phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược quảng cáo của doanh nghiệp
đó. Xét dưới góc độ người tiêu dùng, quảng cáo giúp họ nắm bắt được sản phẩm, thông tin
thị trường để từ đó đưa ra những quyết định tiêu dùng hợp lý. Điều đáng tiếc là, hiện nay, vì
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, trên thị trường vẫn còn tồn tại một số quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh của số ít doanh nghiệp, gây thiệt hại đối với người tiêu dùng. Nguy
hiểm hơn là những lại quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn liên quan đến các loại hàng
hoá, dịch vụ trong lĩnh vực y tế như thuốc, mỹ phẩm, vaccine, thiết bị y tế, thực phẩm chức
năng và các dịch vụ khám chữa bệnh, phẫu thuật thẩm mỹ… Luật Cạnh tranh 2004 được
xem là một bước tiến quan trọng, từng bước tiệm cận với hệ thống pháp luật quốc tế, giải
quyết và hạn chế tối đa những hành vi phản cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh. Tuy
nhiên, sau khi Luật được áp dụng vào thực tiễn đã nảy sinh ra nhiều vấn đề gây tranh cãi,
đặc biệt là trong lĩnh vực quảng cáo, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu
dùng và các bên có liên quan. Để có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin
phép lựa chọn đề tài: “Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh”.
Trong quá trình làm bài, vì hiểu biết còn hạn chế nên bài làm chắc chắn sẽ không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
thầy cô để hướng nhìn và cách giải quyết vấn đề của chúng em được hoàn thiện em. Chúng
em xin chân thành cảm ơn.

1


PHẦN NỘI DUNG
I.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
1.1 Khái niệm chung
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả tiền để thực hiện việc giới thiệu thông tin
về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp
giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương
tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận
thông tin..
Đối tượng dùng để quảng cáo là những thông tin được thể hiện thông qua hình ảnh,
hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc ánh sáng… chứa đựng nội
dung quảng cáo. Quảng cáo có thể được thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng,
phương tiện truyền tin, các xuất bản phẩm, các loại bảng, biểu, pano, áp pích... ví dụ như:
quảng cáo trên truyền hình, Internet, các bến xe…Quảng cáo có tác động và ảnh hưởng rất
lớn đến tâm lý và định hướng hành vi lựa chọn hàng hóa hay dịch vụ của khách hàng nên
quảng cáo luôn được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp thu hút khách
hàng cũng như mở rộng thị phần.
1.2 Đặc điểm của quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
❖ Đặc điểm:
➢ Cũng giống như các loại quảng cáo thông thường khác, quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh cũng hướng tới lợi nhuân là chính, tuy nhiên việc quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh đôi khi còn nhằm làm xấu mặt đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Chủ
thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp tham gia trên thị
trường bao gồm: mọi tổ chức hay cá nhân tìm kiếm lợi nhuận.
➢ Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thường có tính chất đối lập, hoặc
đi ngược với các thông lệ tốt, các nguyên tắt đạo đức kinh doanh, đó là các nguyên tắt xử
sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và áp dụng lâu dài trên thị trường kinh doanh, các
quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh.
Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh cần được ngặn chặn khi nó gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến chủ thể kinh doanh khác.

2


1.3 Phân loại quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể được thực hiện thông qua nhiều
cách thức khác nhau, căn cứ vào từng hành vi cụ thể có thể phân thành các loại cơ bản sau:
Quảng cáo bắt so sánh, quảng cáo bắc chước và quảng cáo gây nhầm lẫn.
● Quảng cáo so sánh: thông thường hành vi này được được hiểu là sự quảng cáo trong
đó có nội dung so sánh giữa hàng hóa, dịch vụ, khả năng kinh doanh của một doanh nghiệp
hay người quảng cáo với đối tượng cùng loại của một hay một số doanh nghiệp cạnh tranh
khác, vì lợi ích của mình và nhằm cạnh tranh không lành mạnh với đối thủ mà bên đưa ra
quảng cáo sẽ tìm cách so sánh hàng hòa dịch vụ của dối thủ để hạ thấp hàng hóa dịch vụ của
đối thủ và thu hút hàng hóa, lợi nhuận về phía mình.
Một ví dụ về việc quảng cáo so sánh nhằm cạnh tranh không lành mạnh là việc so
sánh sản phẩm Bphone của Bkav với sản phẩm của Apple. Cụ thể trong ngày ra mắt mẫu
Bphone ngày 26/5/2015 Bkav đã tiến hành so sánh sản phẩm Bphone với Iphone 6, điện
thoại di động mới nhất nhất của Apple lúc bấy giờ về các thông số Chíp xử lý, Ram, Pin,
màn hình máy ảnh và đi đến khẳng định Bphone tốt hơn Iphone.
● Quảng cáo bắt chước hay còn gọi là lạm dụng uy tín: đơn giản được hiểu là làm theo
cách của người khác, là việc quảng cáo được thực hiện với nội dung, cách thức giống hêt
hoặc tương tự như quảng cáo của người khác.
Ví dụ: : Hãng bánh mỳ Hảo Hảo kiện Hảo Hạng. Hảo Hảo cho rằng Hảo Hạng đã cố
tình dùng hình ảnh trên bao bì giống với Hảo Hảo, việc làm này của Hảo Hạng đã vi phạm
bảo quyền hình ảnh trên bao bì sản phẩm từ đó khách hàng dễ nhầm lẫn với Hảo Hảo, đồng
thời tạo danh tiếng không tốt đối với Hảo Hảo
● Quảng cáo gây nhầm lẫn không trung thực: Quảng cáo gây nhầm lẫn không đưa ra
thông tin sai về sản phẩm, dịch vụ nhưng nội dung không đầy đủ không rõ ràng hoặc bỏ sót
một vài thông tin từ đó gây nhầm lẫn cho khách hàng. Quảng cáo gây nhầm lần được thực
hiện qua việc doanh nghiệp che dấu đi một vài thông tin về mình, đồng thời họ đưa ra những
thông tin, thiết kế những bao bì có nhiều đặc điểm tương đồng với sản phẩm của doanh
nghiệp khác từ đó tạo nhầm lẫn cho khách hàng.
Ví dụ: hiện nay trên thị trường xuất hiện nhiều loại nước uống đóng bình mang các
tên khác nhau như Aquacitia, Aquafsona… nhằm gây sự nhầm lẫn với sản phẩm Aquafina
của Pepsi.

3


II.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY
2.1 Quảng cáo so sánh
Thứ nhất, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001 không cấm quảng cáo so sánh nhưng quảng
cáo so sánh lại bị cấm theo quy định tại Nghị định 24/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
ngày 13/03/2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này (khoản 7 Điều 3): “7. Quảng cáo
nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của
người khác;…”
Thứ hai, Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004 thì cấm quảng cáo so sánh trực
tiếp hàng hóa, dịch vụ. Hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp thể hiện qua các nội dung quảng
cáo về một loạt hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh hoặc đối thủ cạnh tranh đã cung cấp dịch vụ
đó.
Thứ ba, quảng cáo so sánh nằm trong danh mục quảng cáo thương mại bị cấm theo
quy định tại khoản 6 Điều 109 Luật Doanh nghiệp năm 2005 theo đó: “Quảng cáo bằng việc
sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của
mình đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng loại của thương nhân
khác”
Thứ tư, Điều 37 Nghị định 37/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại năm 2005
quy định: “Thương nhân có quyền so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận của cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ để so sánh”.
Như vậy, ta có thể thấy hiện nay hành vi quảng cáo so sánh ở Việt Nam được điều
chỉnh bởi khá nhiều văn bản của pháp luật thương mại và pháp luật cạnh tranh.Tuy nhiên, thì
Luật Cạnh tranh năm 2004 vẫn là văn bản điều chỉnh có tính chất chuyên ngành nhất.
2.2 Quảng cáo bắt chước
Tại Khoản 2 Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2004 “Bắt chước một sản phẩm quảng cáo
khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng”. Tính chất không lành mạnh của quảng cáo bắt
chước thể hiện ở việc lợi dụng thành quả đầu tư lợi thế cạnh tranh của người khác gây hậu
quả tạo sự nhầm lẫn không đáng có cho khách hàng (người tiêu dùng). Nhầm lẫn có thể chia
ra thành nhiều loại khác nhau như nhầm lẫn về nguồn gốc, nhầm lẫn về liên hệ…

4


-

Nhầm lẫn về nguồn gốc: khi khách hàng tiếp nhận những quảng cáo gần giống nhau

-

gây nên sự ngộ nhận rằng hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo cùng thuộc một
chủ sản xuất.
Nhầm lẫn về liên hệ: khi hai loại hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo thuộc cùng một

nguồn gốc, người tiếp nhận quảng cáo vẫn cho rằng giữa hai nhà sản xuất có mối liên
quan, liên hệ, cùng thuộc một tập đoàn, có quan hệ đối tác hay ủy thác, nhượng
quyền. Hành vi này tạo dựng niềm tin không có thật cho người tiêu dùng nhằm thu
hút lợi nhuận cho doanh nghiệp tiến hành quảng cáo.
Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh còn xem xét quảng cáo bắt chước ở trường hợp
đặc biệt là bắt chước mù quáng: tính không trung thực, tính không thiện chí thể hiện ở chỗ
người bắt chước không có sự nghiên cứu, đầu tư, sáng tạo mà chỉ biết sao chép một cách đơn
giản thành quả của người khác.
2.3 Quảng cáo gây nhầm lẫn
Pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn là tổng thể các quy phạm pháp luật
do Nhà Nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn;
trách nhiệm pháp lý của những chủ thể thực hiện hành vi này; chế tài áp dụng và trình tự thủ
tục xử lý các vi phạm nhằm chống lại hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh,
bảo vệ người tiêu dùng và tạo môi trường kinh doanh công bằng.
❖ Đặc điểm quy định của pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn:
Thứ nhất, pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn mang tính tổng hợp,
chưa rõ ràng chi tiết bởi không có văn bản cụ thể nào quy định về vấn đề này mà được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật Cạnh tranh; Luật Quảng cáo; Luật Bảo về
quyền lợi người tiêu dùng; Luật Thương mại… trong đó, Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy
định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh có vai trò quan
trọng trong việc kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn tại nước ta.
Thứ hai, pháp luật xử lý hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn được tiến hành theo thủ tục tố
tụng cạnh tranh và chế tài áp dụng là biện pháp xử phạt hành chính.
❖ Nội dung cơ bản của pháp luật
Pháp luật nước ta không quy định chi tiết vụ thể về hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn mà
chỉ quy định trong các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh: Khoản 3 điều
45 Luật Cạnh tranh.
Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 cũng quy định về hành vi quảng cáo bị cấm: Quảng cáo
không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng
5


hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất
lượng, giá , công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục
vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm , hành hóa, dịch vụ đã đăng kí hoặc đã được công bố.
Ngoài ra, Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 cũng bảo vệ quyền
được được cung cấp đầy đủ thông tin của người tiêu dùng bằng các hành vi quảng cáo bị
cấm
 Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa dịch vụ.
Việc phân biệt rõ các hành vi như thế này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý
vi phạm. Tuy nhiên, chế tài áp dụng lại như nhau dẫn đến nhiều sự không công bằng với
những doanh nghiệp vô ý phạm lỗi. Do đó cần có quy định cụ thể đảm bảo công bằng cho
những trường hợp khác nhau.
2.4 Các hành vi trái pháp luật khác
Luật canh tranh không quy định cụ thể về các hành vi trái pháp luật khác trong quảng
cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh mà nó chỉ được đề cập đến tại Khoản 4 điều 45. Đây
là những hành vi quảng cáo được quy định hoặc trong tương lai được quy định ở những văn
bản pháp luật chuyên ngành khác nếu có mục đích cạnh tranh không lành mạnh thì cũng bị
cấm. Mục đích của quy định này là để điều chỉnh các hành vi mà luật chưa dự liệu được.
Khoản 12 điều 8 Luật Quảng cáo 2012 có quy định cấm đối với hành vi quảng cáo có
nội dung cạnh tranh không lành mạnh.
2.5 Hình thức xử lý đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Thực tiễn cho thấy việc cạnh tranh bằng hoạt động quảng cáo chứa đựng nhiều diễn
biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt
hại cho các chủ thể kinh doanh và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy, việc
Nhà nước đặt ra những chế tài buộc các chủ thể có hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh phải gánh chịu những hậu quả bất lợi là thật sự cần thiết.
Theo pháp luật hiện hành, các hình thức xử lý đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh bao gồm:

6




Chế tài hành chính
Căn cứ Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 của Chính Phủ có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 15/09/2014 Quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực cạnh tranh:
Theo Điều 33 Nghị định 71/2014/NĐ-CP đã quy định hình thức xử phạt đối với hành
vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như sau:
“1. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo sau
đây:
a) So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của
doanh nghiệp khác;
b) Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng.
2. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo đưa
thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung: Giá, số
lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử
dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; cách
thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; các thông tin gian dối hoặc gây
nhầm lẫn khác.
3. Ngoài việc bị phạt tiền quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp vi
phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc
phục hậu quả quy định tại Khoản 4 Điều 28 của Nghị định này.”
Trong đó, Khoản 4 Điều 28 của Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định như sau:
“Ngoài việc bị phạt tiền theo Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này, doanh nghiệp
vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc
phục sau đây:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm
cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;
b) Buộc cải chính công khai.”
● Chế tài dân sự
Theo Điều 6 Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định về việc bồi thường thiệt hại do
hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây ra:
“1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường.
2. Việc bồi thường thiệt hại quy định tại Khoản 1 Điều này được thực hiện theo các
quy định của pháp luật về dân sự.”
7


Việc bồi thường thiệt hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có
hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng theo các quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại chương XX Bộ
luật dân sự năm 2015.
● Chế tài hình sự
Nếu hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có dấu hiệu cấu thành tội
phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự thì chủ thể vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự.
Căn cứ Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, chủ thể có hành vi quảng
cáo nhằm tranh không lành mạnh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự dưới tội danh tại
Điều 168 - “Tội quảng cáo gian dối”:
“1. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án
tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo
không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
III.

THỰC TIỄN
3.1 Thực tiễn hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Để cạnh tranh với rất nhiều đối thủ trong cùng lĩnh vực kinh doanh để mở rộng thị
trường và thu lại nhiều lợi nhuận là vấn đề hết sức nan giải trong thị trường kinh doanh hiện
nay. Bởi lẽ, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh các loại mặt hàng trên thị trường ngày
càng gia tăng, tạo sức ép rất lớn giữa các doanh nghiệp với nhau. Chính vì thế, không phải
lúc nào các doanh nghiệp cũng sử dụng phương pháp cạnh tranh công bằng, lành mạnh.
Thay vào đó, nhiều trường hợp, doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng các thủ đoạn cạnh tranh bị
coi là “không lành mạnh”. Điều đó được thể hiện rõ qua thực tiễn quảng cáo những năm gần
đây.
Thực tế cho thấy, sau 8 năm đi vào cuộc sống, Luật Cạnh tranh 2004 vẫn thể hiện vai
trò một cách mờ nhạt và hiệu quả đem lại chưa được như kỳ vọng. Tính đến ngày
31/12/2015 Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra tiền tố tụng 46 vụ việc liên quan
đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, qua đó khởi xướng điều tra 28 vụ việc đồng thời
hoàn thành điều tra và ban hành quyết định xử lý đối với 2 vụ việc khởi xướng từ năm 2014.
Trong số 28 vụ việc khởi xướng điều tra trong năm 2015, Cục trưởng Cục QLCT đã ban
8


hành quyết định xử lý đối với 21 vụ việc, 7 vụ việc đang trong quá trình tiếp tục điều tra và
xử lý năm 2016. Cục Quản lý cạnh tranh cũng cho biết, các loại hành vi cạnh tranh không
lành mạnh được khởi xướng điều tra trong năm 2015 chủ yếu là: quảng cáo đưa thông tin
gian dối hoặc gây nhầm lẫn, quảng cáo so sánh trực tiếp, bán hàng đa cấp bất chính.Trong số
đó, hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn chiếm đa số. Đáng quan
tâm, theo số liệu do Cục QLCT tổng hợp, nhóm vụ việc liên quan đến hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các vụ việc được
điều tra, xử lý (chiếm tới 62%).
Nguyên nhân phần lớn là do các doanh nghiệp mặc dù nắm rõ luật pháp nhưng vẫn cố
tình vi phạm nhằm đạt được mục tiêu marketing của mình. Nghịch lý nữa là một khi các
doanh nghiệp lớn bị kiện hoặc điều tra về các vi phạm về cạnh tranh, các hệ thống thông tin
đại chúng thường được lôi vào cuộc. Cùng với việc rầm rộ đưa tin, thương hiệu và thông tin
về sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp bị kiện xuất hiện khắp mọi nơi. Người tiêu dùng
tăng mức độ nhận diện thương hiệu và sản phẩm của doanh nghiệp bị kiện. Lợi ích cho việc
marketing dưới hình thức này thường áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp có hành vi
quảng cáo so sánh hoặc bắt chước. Trong khi đó, chi phí phạt hành chính theo Điều 35, Nghị
định 120/2005/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh từ 15.000.000 đến
50.000.000 và phạt bổ sung như tịch thu lợi nhuận từ việc hành vi vi phạm, cải chính công
khai chưa đủ tính răn đe và thấp hơn rất nhiều so với chi phí marketing doanh nghiệp có thể
tiết kiệm được.
Hơn nữa, năng lực quản lý của Cục Quản lý cạnh tranh hiện vẫn còn yếu và thấp, cho
nên số lượng các vụ việc do Cục khởi xướng còn hạn chế. Thậm chí, sự nhận biết về các quy
định của Luật Cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng còn hạn chế do đó
những vụ vi phạm nhỏ, xuất hiện trên các kênh phát sóng địa phương sẽ bị bỏ ngỏ, thiếu sự
quản lý.
❖ Một số vụ việc về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nổi bật trong
những năm vừa qua:
Vụ việc 1: Năm 2008, Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam khiếu nại đến Cục Quản
lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) để Cục xử lý quảng cáo mì “Tiến Vua bò cải chua” của
Công ty Cổ phần Hàng tiêu dùng Masan. Khi khiếu nại đến Cục Quản lý cạnh tranh,
Acecook cho rằng quảng cáo mì gói “Tiến Vua bò cải chua” của Masan vi phạm quy định về
cạnh tranh. Cụ thể, đoạn quảng cáo đã đưa hình ảnh hai vắt mì, một vắt màu vàng nhạt là mì
Tiến Vua bò cải chua của Masan, một vắt màu vàng sậm của doanh nghiệp (DN) khác. Sau
đó cho nước vào tô mì để so sánh và đưa ra thông điệp nếu cho nước vào vắt mì mà “nước
9


chuyển sang vàng đục chứng tỏ sợi mì có nhuộm màu”. Phần đầu đoạn quảng cáo có nhắc
đến cụm từ “phẩm màu độc hại” nên càng gây ấn tượng xấu cho người tiêu dùng về mì màu
vàng sậm. Cục Quản lý cạnh tranh nhận định quảng cáo nói trên của Masan có dấu hiệu của
hành vi “quảng cáo nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ của người khác” bị cấm theo Nghị định 75/2010 hoặc hành vi “quảng cáo có nội
dung nói xấu, so sánh làm giảm uy tín, chất lượng hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác” bị
cấm theo Nghị định 02/2011.
Tuy nhiên, để giải thích cho khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh cấm "so sánh trực tiếp
hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của DN khác", thực tế không có
văn bản luật nào giải thích khái niệm "so sánh trực tiếp". Theo cách giải thích của Cục Quản
lý cạnh tranh, "so sánh trực tiếp"là phải "trực tiếp" mới vi phạm quy định theo khoản 1 Điều
45. Quảng cáo này không hề nhắc tới Acecook nên không được coi là "so sánh trực tiếp".
Song trên thực tế, rất hiếm khi DN vi phạm việc trực tiếp đề cập tới tên sản phẩm hoặc tên
một DN khác. Vì vậy, việc hiểu luật theo cách này khiến khoản 1 Điều 45 rất khó áp dụng
vào xử lý vi phạm trong thực tế.
Để giải thích cho Khoản 3, Điều 45, Cục Quản lý cạnh tranh giải thích thuật ngữ :
"Gian dối hoặc gây nhầm lẫn" chỉ áp dụng cho trường hợp doanh nghiệp gian dối hoặc gây
nhầm lẫn cho sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp mình (không áp dụng cho sản phẩm của
doanh nghiệp khác) và bác bỏ đơn kiện của Acecook. Mặc dù, cách giải thích của Cục Quản
lý cạnh tranh là hoàn toàn hợp lý trong trường hợp này. Tuy nhiên, trong thực tế, việc đưa
những thông tin sai bất kể đối với đối tượng nào hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến môi trường
cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp, và nằm trong sự điều chỉnh, mục tiêu quản lý của
Luật Cạnh tranh. Chính vì vậy, cần có những văn bản giải thích rõ hơn và phù hợp với thực
tế để có thể xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh trong môi trường cạnh tranh khốc
liệt của các doanh nghiệp hiện nay. Trong đa số trường hợp, thiệt hại cho người tiêu dùng do
hành vi quảng cáo nhằm mục tiêu cạnh tranh không lành mạnh rất khó để có thể ước lượng
và người tiêu dùng phải tự chịu thiệt hại trong trường hợp này.
Vụ việc 2: Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng của
nhãn hiệu điều hòa Envio của Panasonic Nhật Bản, Cục Quản lý cạnh tranh đã điều tra và
đưa đến kết luận rằng: Quảng cáo của Panasonic với tính năng "bất hoạt đến 99,9% vi khuẩn
và nấm mốc" là không đúng thực tế, trong khi doanh nghiệp mới chỉ thử nghiệm tác động
kháng khuẩn với đối với 02 loại vi khuẩn là Staphylocccus và Escherichia Coli. Tuy nhiên,
nếu người tiêu dùng đã đưa ra quyết định là mua tủ lạnh của Panasonic thay vì LG, thì mức
10


thiệt hại của người tiêu dùng sẽ là mức kỳ vọng về sản phẩm và không thể đưa ra được phép
định lượng để tính toán cụ thể cho tất cả người tiêu dùng bị vi phạm.
Trong quy định về xử lý vi phạm, tại Điều 35 của Luật Cạnh tranh, đối với hành vi
"Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng", chế tài xử lý là phạt hành
chính từ 15.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu
được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; Buộc cải chính công khai, nhưng không có quy định
cụ thể về việc bồi thường cho người tiêu dùng trong trường hợp này.
Khi đó, người tiêu dùng muốn được bồi thường thiệt hại thì phải khiếu nại dẫn chiếu
đến Luật Bảo vệ người tiêu dùng hoặc kiện ra tòa theo quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng (quy định tại Chương XXI, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005).
Tuy nhiên, như đã nêu ở trên đây, mức thiệt hại trong trường hợp quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh là rất khó chứng minh và mức thiệt hại cho một cá nhân là nhỏ so
với toàn bộ người tiêu dùng.
Vụ việc 3: Tháng 07/2003, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã công bố
Quyết định số 20/2003/HĐTP-DS ngày 23/06/2003 về vụ án hai Công ty Vạn Thành và Ưu
Việt kiện công ty Kymdan yêu cầu công ty Kymdan chấm dứt hành vi quảng cáo và xin lỗi
công khai. Vụ kiện nảy sinh khi tháng 7/2001, Kymdan đăng quảng cáo với nội dung: “Đối
với nệm lò xo, do tính chất không ưu việt của nguyên liệu sản xuất nên chất lượng nệm sẽ
giảm dần theo thời gian. Nếu độ đàn hồi của lò xo cao, lò xo dễ bị gãy, gây nguy hiểm cho
người sử dụng. Đối với nệm nhựa tổng hợp poly-urethane (nệm mút xốp nhẹ) tính dẻo ưu
việt nên không có độ đàn hồi, mau bị xẹp. Chính vì những lý do đó mà Kim đan hoàn toàn
không sản xuất nệm lò xo cũng như nệm nhựa poly-urethane. Tất cả các sản phẩm của Kim
đan đều được làm từ 100% cao su thiên nhiên, có độ bền cao và không xẹp lún theo thời
gian...”. Ngay sau khi mẫu quảng cáo trên phát hành, 2 công ty sản xuất nệm lò xo và nệm
mút đã khởi kiện Kim Đan ra toà với lý do quảng cáo của Kim Đan không có căn cứ, gây
thiệt hại đến uy tín sản phẩm của họ. Có thể thấy, trong vụ án này, sản phẩm quảng cáo của
công ty Kymdan chỉ đưa ra thông tin so sánh giữa sản phẩm đệm mút và sản phẩm đệm lò
xo. Qua thông tin đó, khách hàng đã nhận dạng và khoanh vùng loại sản phẩm và nhóm
doanh nghiệp có sản phẩm bị so sánh, các loại đệm này là cùng loại vì cùng đáp ứng cho
một nhu cầu của người tiêu dùng.

11


3.2 Những bất cập và giải pháp kèm theo
Kể từ khi luật Cạnh tranh được ban hành năm 2004, đến nay đã hơn mười năm triển
khai thực hiện, tuy nhiên các quy định về “Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh”
vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.
Thứ nhất, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một trong 9 (chín) hành vi
cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh. Nhưng văn bản
luật này không đưa ra định nghĩa thế nào là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh mà chỉ liệt kê các hành vi cụ thể tại Điều 45. Vì vậy, có thể hiểu, hành vi quảng cáo
nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh theo khái niệm “là hành vi cạnh tranh của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”. Vấn đề cốt lõi và cần thiết để khẳng
định một hành vi cạnh tranh không lành mạnh là phải làm rõ hành vi đó có “trái với các
chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” hay không? Thế nhưng, chuẩn mực thông
thường về đạo đức kinh doanh hiện nay cũng là một vấn đề chưa được làm rõ ở Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp đã bàn nhiều về các quy tắc, chuẩn mực đạo
đức trong kinh doanh nói chung và trong hoạt động quảng cáo nói riêng nhưng chúng ta
chưa có bộ quy tắc đạo đức cụ thể làm căn cứ điều chỉnh hành vi cho các chủ thể kinh
doanh, để họ nhận thức được sự đúng/sai trong hành vi của mình, đồng thời, là căn cứ để cơ
quan nhà nước giải quyết các vụ việc có dấu hiệu vi phạm.
Thứ hai, Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê tương đối đầy đủ các nội dung cấm
các doanh nghiệp quảng cáo như giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, bao bì, …
Tuy nhiên pháp luật cạnh tranh và các văn bản liên quan khác nhau không làm rõ cách thức
biểu hiện của của hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn. Bên cạnh loại quảng cáo gây nhầm lẫn
đơn giản thông thường, trên thực tế còn tồn tại nhiều dạng quảng cáo làm sai lệch nhận thức
người xem. Chẳng hạn: Quảng cáo bỏ sót thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng. Cách thức
quảng cáo này được thể hiện thông qua việc mô tả không đầy đủ hoặc sự tiết lộ thông tin
một cách nửa vời. Người quảng cáo phải đảm bảo rằng những tuyên bố mang tính chất loại
trừ trách nhiệm của người quảng cáo hoặc những điều kiện loại trừ những ưu đãi được đề
cập trong quảng cáo có thể được nhìn thấy hoặc nghe thấy. Đối với những thông tin được
trình bày nhỏ, mờ hoặc ở những vị trí mà người tiêu dùng không để ý thì sẽ coi như không
có thông tin này.
Do vậy, cần phải bổ sung các tiêu chí xác định tính chất khả năng gây nhầm lẫn.
Những tiêu chí này có thể bao gồm:
12


- Thông tin không trung thực, sai lệch so với thực tế
- Thông tin không đầy đủ, tạo ấn tượng cho người xem quảng cáo nhận thức sai lệch
so với thực tế
- Quảng cáo tạo nhận thức sai lệch cho những khách hàng tiềm năng trong điều kiện
tiếp nhận quảng cáo bình thường
- Quảng cáo gây nhầm lẫn có tác động thực tế đến quyết định mua hàng hóa, sử dụng
dịch vụ của người xem
Thứ ba, tại khoản 1 điều 45 Luật Cạnh tranh cấm “so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ
của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác”. Thực tế, không có văn
bản luật nào giải thích khái niệm “so sánh trực tiếp”. Theo cách giải thích của Cục Quản lý
cạnh tranh, “so sánh trực tiếp” là phải “trực tiếp” mới vi phạm quy định theo khoản 1 điều
45. Do vậy trong một vụ việc Acebook kiện Masan lên Cục Quản lý cạnh tranh với hành vi
công ty Masan cho phát sóng một đoạn quảng cáo với hình ảnh so sánh một vắt mì màu
vàng nhạt (sản phẩm của Masan) với một vắt mì màu vàng sậm (của một doanh nghiệp
khác) cùng với thông điệp nếu cho nước vào vắt mì mà “nước chuyển sang màu vàng đục
chứng tỏ sợi mì có nhuộm màu”. Do quảng cáo này không hề nhắc tới Acebook nên đã
không được coi là “so sánh trực tiếp”.Cũng do luật chỉ cấm so sánh trực tiếp mà không phân
định các mức độ so sánh bằng, so sánh hơn và so sánh nhất. Vì vậy, khi xuất hiện nội dung
so sánh tuyệt đối trong các mẫu quảng cáo “dầu gội trị gầu tốt nhất”, “sản phẩm số 1 của thế
giới”, … thì toàn bộ các doanh nghiệp cùng ngành sản xuất lại bị hạ thấp nhưng vì không
xác định được rõ đối thủ cạnh tranh nên pháp luật không can thiệp được. Hơn nữa, Luật cạnh
tranh vẫn có bất cập khi chỉ cấm quảng cáo so sánh trực tiếp nên để lọt hành vi quảng cáo so
sánh ám chỉ. Tức là việc đưa ra những thông tin làm cho khách hàng có khả năng xác định
được loại sản phẩm dù không nêu chính xác tên hay nhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh, nhóm
doanh nghiệp bị so sánh. Vì bỏ sót hành vi quảng cáo so sánh theo kiểu ám chỉ này nên
không ít doanh nghiệp đã lợi dụng để bôi nhọ và làm giảm uy tín của các doanh nghiệp kinh
doanh, sản xuất cùng mặt hàng để nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ tư, phương thức xử lý và mức xử phạt đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo hiện nay là chưa thật sự phù hợp. Tại điều 33 NĐ
71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lí vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh
thì mức phạt cao nhất cũng chỉ lên đến 80 triệu đồng cho hành vi quảng cáo không lành
mạnh. Mức phạt này xét trên thực tế chưa đủ sức răn đe và ngăn ngừa vi phạm so với mức
lợi nhuận mà các doanh nghiệp có thể thu được, đặc biệt khoản tiền phạt này càng mất ý
nghĩa nếu tính cả mức độ trượt giá như hiện nay khi mà lợi nhuận từ hành vi cạnh tranh
13


không lành mạnh từ hoạt động quảng cáo lại lớn hơn gấp nhiều lần mức tiền nộp phạt, các
doanh nghiệp sẵn sàng vi phạm và chịu phạt. Bên cạnh đó, biện pháp truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh chưa được chú ý
nhiều. Đồng thời, trong thời gian qua, việc khởi kiện chủ thể hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ra Tòa án nhân dân để đòi bồi thường thiệt hại dân sự cũng
dường như không có trường hợp nào…
Chính vì thế cần phải tăng khung hình phạt tiền để có thể răn đe các doanh nghiệp và
phù hợp với thực trạng quảng cáo tại Việt Nam hiện nay.
Thứ năm, về nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại. Theo quy định tại Điều 74
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004 thì nghĩa vụ
chứng minh một vụ việc cạnh tranh thuộc về bên khiếu nại. Quy định này đã gây khó dễ cho
bên khiếu nại là doanh nghiệp và người tiêu dùng. Bởi cơ quan quản lý cạnh tranh khi tự tiến
hành điều tra hoàn toàn có quyền yêu cầu bên bị khiếu nại cung cấp các chứng cứ chứng
minh các thông tin mình đưa ra trong quảng cáo là đúng sự thật, nhưng đối với doanh nghiệp
và người tiêu dùng thì việc chứng minh hành vi vi phạm của bên bị khiếu nại là khó khả thi.
Bởi chỉ có bên bị khiếu nại mới là người nắm rõ các thông tin về chất lượng, nguồn gốc, cấu
thành sản phẩm… Cho nên, cần quy định bên bị khiếu nại chứng minh tính trung thực của
quảng cáo sẽ khả thi và hiệu quả hơn. Quy định như vậy cũng phù hợp với trách nhiệm
thông tin trung thực của người quảng cáo được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác như
Luật Thương mại, Luật Quảng cáo và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
IV.

HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở MỘT SỐ
NƯỚC
4.1 Thực tiễn ở một số nước
4.1.1 Tại Hòa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia có thị trường dịch vụ quảng cáo thương mại phát triển hàng đầu thế
giới. Năm 2014, doanh thu của ngành công nghiệp quảng cáo Hoa Kỳ đã đạt đến con số 40
tỷ USD. Sự phát triển của thị trường này đòi hỏi Hoa Kỳ phải có các quy định cụ thể, ở cả
cấp độ liên bang và cấp độ từng tiểu bang, để điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ có
liên quan. Toàn bộ các quy định này được tập hợp tại Chương 2 về Ủy ban Thương mại Liên
bang; khuyến khích xuất khẩu và phòng ngừa các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh,
Quyển 15 của Bộ luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về Kinh doanh và Thương mại (Commerce
and Trade). Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về quảng cáo thương mại có thể được chia
14


ra thành hai nhóm: các quy định về hình thức quảng cáo thương mại và các quy định về kinh
doanh dịch vụ quảng cáo thương mại thương mại.
Pháp luật Hoa Kỳ không đưa ra khái niệm về quảng cáo thương mại. Tuy nhiên, trong
bộ quy tắc về giải quyết tranh chấp của Phòng Quảng cáo Quốc gia định nghĩa “Quảng cáo
quốc gia (national advertising) bao gồm bất kỳ thông điệp thương mại trả tiền nào, trên
bất kỳ phương tiện nào (bao gồm cả nhãn hàng), nếu thông điệp đó có mục đích thúc đẩy
việc bán hàng hoặc trao đổi thương mại khác hoặc thuyết phục khán giả về các giá trị
hoặc tính hữu dụng của một công ty, sản phẩm hoặc dịch vụ; và nếu thống điệp đó được
phổ biến trên toàn quốc hoặc một phần đáng kể của lãnh thổ Hoa Kỳ, hoặc là quảng cáo
thử nghiệm chuẩn bị cho chiến dịch quốc gia và nếu nội dung của chúng được kiểm soát
bởi các nhà quảng cáo”.
Hoa Kỳ có một môi trường kinh doanh năng động và thúc đẩy sự sáng tạo, do đó,
quảng cáo có thể được tiến hành với bất kỳ hình thức nào, trên bất kỳ phương tiện nào, miễn
nội dung quảng cáo không vi phạm vào các hình thức quảng cáo bị cấm. Ngoài ra, pháp luật
Hoa Kỳ cũng bao gồm một số quy định để điều chỉnh một số hình thức quảng cáo thương
mại cụ thể như telemarketing, qua thư điện tử, qua điện thoại, qua internet…
Mặc dù được tự do chọn hình thức quảng cáo, nhưng pháp luật Hoa Kỳ vẫn đưa ra
nguyên tắc chung, theo đó, “bất kỳ phương thức cạnh tranh không lành mạnh trong hoặc
ảnh hưởng đến thương mại; bất kỳ hành vi hay thực tiễn không lành mạnh hoặc gây
nhầm lẫn trong hoặc ảnh hưởng đến thương mại đều bị coi là hành vi vi phạm pháp
luật”. Căn cứ vào quy định kể trên, để một quảng cáo không bị khiếu kiện, quảng cáo đó
phải đáp ứng được ba điều kiện: quảng cáo phải có nội dung trung thực và không gây nhầm
lẫn; người quảng cáo phải có bằng chứng chứng minh cho nội dung quảng cáo và quảng cáo
phải lành mạnh. Nói cách khác, nếu quảng cáo bị coi là gây nhầm lẫn hoặc không lành mạnh
hoặc không trung thực sẽ bị coi là phạm pháp và bị điều tra.
Về quảng cáo gây nhầm lẫn (deceptive advertising), một quảng cáo bị coi là gây
nhầm lẫn nếu nó hàm chứa nội dung liên quan đến một sự đại diện, thực tiễn hoặc một thiếu
sót có khả năng lừa dối người tiêu dùng hành động một cách hợp lý và sự đại diện, thực tiễn
hoặc thiếu sót đó là cơ bản đối với sự lựa chọn của khách hàng. Quy định này đưa ra hai tiêu
chí để xác định một quảng cáo gây nhầm lẫn: thứ nhất, quảng cáo đó phải hàm chứa một nội
dung liên quan đến “sự đại diện, thực tiễn hoặc thiếu sót” làm cho người tiêu dùng không thể
hành động một cách hợp lý; thứ hai, “sự đại diện, thực tiễn hoặc thiếu sót” đó phải là cơ bản,
nói cách khác, là có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm.
15


Có thể thấy việc cấm hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn là nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu
dùng. Do đó, khi người tiêu dùng thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng bởi một quảng cáo
có nội dung gây nhầm lẫn, họ có quyền khiếu nại tới và cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét
vụ việc để đưa ra quyết định.
Về quảng cáo không lành mạnh (unfair advertising), pháp luật Hoa Kỳ đã đưa ra ba
tiêu chí: quảng cáo đó phải gây thiệt hại cho người tiêu dùng; quảng cáo đó vi phạm trật tự
công; quảng cáo đó bị coi là “vô đạo đức”. Ba tiêu chí này không cần được áp dụng đồng
thời, nghĩa là, chỉ cần quảng cáo bị khiếu kiện rơi vào một trường hợp nêu trên thì đều có thể
bị coi là không lành mạnh.
Về quảng cáo so sánh được khuyến khích được định nghĩa: “quảng cáo so sánh các
nhãn hiệu có thể thay thế trên cơ sở các thuộc tính khách quan đo lường được hoặc giá cả, và
xác định nhãn hiện thay thế bằng tên, hình minh họa hoặc các thông tin đặc biệt khác”. Các
chính sách của quảng cáo so sánh được khuyến khích này hướng đến lợi ích của người tiêu
dùng, bởi vì một quảng cáo so sánh trung thực và không gây nhầm lẫn là một kênh thông tin
quan trọng giúp người tiêu dùng có sự lựa chọn thích hợp khi mua sản phẩm.
Tình huống thực tiễn: Vụ tranh chấp Bates v. State Bar of Arizona
Năm 1972, John Bates và Van O’steen được kết nạp vào Đoàn luật sư Bang Arizona.
Sau đó, họ làm việc cho Công ty trợ giúp pháp lý hạt Maricopa. Hai năm sau, họ đã thành
lập văn phòng luật của riêng mình để cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý cho những khách hàng
không thể hưởng các dịch vụ của chính phủ vì thu nhập thấp. Cả hai người đã quyết định,
thay vì tính phí tư vấn cao, thì sẽ tập trung thu hút số lượng khách hàng lớn nhờ vào phí tư
vấn thấp cho các vụ việc đơn giản như ly dị, nhận con nuôi, thay đổi tên… Để giới thiệu các
dịch vụ của mình, họ đã quyết định quảng cáo trên báo Arizona Republic ngày 22/2/1976.
Phản ứng lại việc này, Đoàn luật sư bang Arizona đã đình chỉ tư cách thành viên của John
Bates và Van O’steen trong vòng sáu tháng, theo Quy tắc hành nghề của tổ chức. John Bates
và Van O’steen đã khởi kiện quyết định này tại Tòa án bang Arizona vì cho rằng nó đã vi
phạm Luật Chống độc quyền Sherman và Tu chính án số 1. Tòa án bang Arizona đã bác bỏ
cả hai luận điểm trên nhưng lại đưa ra phán quyết giảm thời gian đình chỉ tư cách thành viên
của hai người vì cho rằng việc hai luật sư quảng cáo cho hoạt động của mình là một cách
thức để kiểm tra tính hợp hiến của lệnh cấm quảng cáo trong lĩnh vực tư vấn pháp lý.
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã quyết định kháng nghị phán quyết nêu trên của Tòa án bang
Arizona. Thẩm phán Warren E. Burger, dựa vào án lệ trong vụ Goldfard a. Virginia State Bar
theo đó hoạt động tư vấn pháp lý mà các luật sư tiến hành không bị loại trừ ra khỏi phạm vi
16


điều chỉnh của Luật chống độc quyền Sherman, đã thấy rằng việc cấm quảng cáo hoàn toàn
trong lĩnh vực tư vấn pháp lý là vi phạm Luật chống độc quyền. Đồng thời, Tòa án Tối cao
Hoa Kỳ cũng khẳng định lệnh cấm của Đoàn luật sư bang Arizona “cản trở dòng chảy tự do
của thông tin và khiến công chúng rơi vào tình trạng vô minh.
Nguồn tham khảo: Pháp luật về quảng cáo thương mại của Hoa Kỳ và bài học cho Việt
Nam; TS. Nguyễn Ngọc Hà, ThS. Võ Sỹ Mạnh; Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, trường ĐH
Ngoại thương.
4.1.2 Tại Úc
Tại Australia thì Bộ Luật Cạnh tranh và tiêu dùng 2010 mà tiền thân là Đạo luật
Thương Mại 1974 quy định về những hành vi phản cạnh tranh nhằm đảm bảo tính công bằng
và hiệu quả cạnh tranh ở Úc. Về hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh hay ở
Australia còn bằng cái tên “unfair practices” được quy định tại Chương 3 – Phụ lục 2 thuộc
Quyển 3 của Bộ Luật Cạnh tranh và tiêu dùng 2010. Cụ thể như sau:
Quảng cáo dụ dỗ (Bait Advertising): cấm quảng cáo tại một mức giá cụ thể nếu:
a. Có lí do hợp lý để tin rằng người đưa ra thông tin quảng cáo không thể cung cấp
được hàng hóa hoặc dịch vụ tại mức giá đó trong một khoảng thời gian và với số
lượng hợp lý có liên quan tới:
- Bản chất của thị trường mà người đó đang kinh doanh sản phẩm/dịch vụ.
- Bản chất của quảng cáo.
Người đưa ra quảng cáo nhận thức được hoặc phải nhận thức được các lí do hợp lý
này.
b. Việc các doanh nghiệp quảng cáo hàng hóa ở một mức giá đặc biệt nếu doanh
nghiệp nhận thức hoặc cần phải nhận thức rằng họ không thể cung cấp số lượng
hợp lý trong một thời gian hợp lý. Hành vi này được gọi là hành vi quảng cáo dụ
dỗ.
Quảng cáo dụ dỗ liên quan đến việc doanh nghiệp sử dụng “Giá đặc biệt” trong các
quảng cáo để thu hút người tiêu dùng vào cửa hàng của họ. Khi người tiêu dùng cố gắng để
mua các mặt hàng có giá đặc biệt mà doanh nghiệp đã nói với họ được bán ra và thay vì
cung cấp một một mức giá theo quy định.
Nếu một doanh nghiệp không thể chứng minh rằng họ đã cung cấp đặc biệt với phương
tiện hợp lý đáp ứng nhu cầu mong đợi, đó cũng chính là quảng cáo dụ dỗ.

17


Hình phạt đối với các hành vi trên:

Mức xử phạt đối với đối tượng vi phạm là công ty:
1,100,000 $ ~ 24 tỉ VNĐ đồng

Mức xử phạt đối với đối tượng vi phạm không phải là công ty:
220,000 $. ~ 5 tỉ VNĐ đồng
 Với mức xử phạt như vậy sẽ mang tính răn đe hơn rất nhiều so với mức phạt trung
bình 60 – 80 triệu VNĐ đồng của Luật Cạnh tranh Việt Nam.
4.2 Học tập kinh nghiệm của một số nước
Muốn kiểm soát và xử lý được những vấn đề về quảng cáo nhằm cạnh tranh không
lành mạnh thì trước hết cần phải hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo.
Vấn đề này đòi hỏi cần phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với các chế định pháp luật khác,
phải phù hợp với quan điểm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể
kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, coi trọng công tác thực hiện pháp luật…
Thứ nhất: Quy định chặt chẽ từ hình thức vi phạm
Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC – The Federal Trade Commission) của
Hoa Kỳ quy định nguyên tắc chung khi tiến hành quảng cáo, theo đó, để một quảng cáo
không bị khiếu kiện, quảng cáo đó phải đáp ứng được ba điều kiện: quảng cáo phải có nội
dung trung thực và không gây nhầm lẫn; người quảng cáo phải có bằng chứng chứng minh
cho nội dung quảng cáo và quảng cáo phải lành mạnh. Nếu quảng cáo bị coi là gây nhầm lẫn
hoặc không lành mạnh hoặc không trung thực sẽ bị coi là phạm pháp và bị điều tra.
Ở Pháp cấm mọi hành vi quảng cáo gian dối. Người cung cấp thông tin quảng cáo gian
dối sẽ bị xử lý, còn các kênh truyền hình có thể bị xử lý về trách nhiệm trong khâu kiểm
duyệt thông tin. Chế tài do Hội đồng quốc gia về quảng cáo áp dụng. Nếu thông tin đã được
Hội đồng này cho phép lưu hành thì các kênh truyền hình được loại trừ nghĩa vụ.
Có thể nói rằng, quảng cáo sai sự thật là bất kỳ dạng quảng cáo nào lừa dối người tiêu
dùng. Thậm chí cả những quảng cáo mới chỉ có nguy cơ làm cho khách hàng hiểu lầm.
Tương tự ở Áo cũng có một hội đồng thẩm định độc lập kiểm duyệt quảng cáo trước
khi được đăng, phát trên báo, đài.

18


Thứ hai: Chế tài xử phạt nghiêm minh
Năm 2007, Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC – The Federal Trade
Commission) đã ra lệnh phạt các công ty phân phối 4 loại thuốc giảm cân (Xenadrine EFX,
One A Day Weight Smart, Cortislim và TrimSpa) tổng số tiền 25 triệu USD vì quảng cáo sai
sự thật với những dòng chữ quảng cáo lừa gạt người tiêu dùng. Một phần trong tổng số tiền
phạt sẽ được dùng để bồi thường cho người tiêu dùng.
Ở Nga, những quảng cáo vi phạm pháp luật sẽ bị các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng
cho vào “sổ đen” và đăng tải thông tin vi phạm trên các trang web có uy tín.
Hiệu chỉnh quảng cáo cũng như cân nhắc thiệt hại là những việc mà các nhà quảng cáo,
cũng như các tổ chức có trách nhiệm trong việc quảng cáo không trung thực ở nước ta chưa
làm được. Trong khi đó, những điều này lại được đưa vào trong hệ thống pháp luật của nhiều
nước và đặc biệt được coi trọng ở Mỹ.
Việc chỉnh sửa quảng cáo có thể được thực hiện theo cách phổ biến nhất là toà án sẽ
yêu cầu bị đơn tiến hành chiến lược quảng cáo hiệu chỉnh, để xác nhận và sửa lại nội dung bị
sai.
Cách thứ hai, tòa án có thể quyết định cho bên nguyên đơn (người tiêu dùng) một
khoản bồi thường để bên này tự tiến hành một chiến lược quảng cáo hiệu chỉnh ngược lại
với quảng cáo sai sự thật của bị đơn.
Để tính toán thiệt hại, nguyên đơn thường phải chỉ ra rằng, người tiêu dùng đã thực sự
bị lừa hoặc bên bị đơn đã cố tình quảng cáo sai sự thật. Bốn loại thiệt hại sẽ được bồi thường
là: lợi nhuận mà nguyên đơn bị mất doanh số được chuyển sang nhà quảng cáo, lợi nhuận
mà bên nguyên đơn bị mất do phải giảm giá bán từ hậu quả của quảng cáo sai sự thật, chi
phí thực tế và hợp lý của chiến dịch quảng cáo hiệu chỉnh.
Thứ ba: Độc lập trong tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Tính độc lập của các cơ quan cạnh tranh luôn luôn là mục tiêu hàng đầu cần hướng tới
để xây dựng về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh. Đây
là nội dung rất quan trọng đảm bảo cho những cơ quan này có thể thực hiện chức năng xử lý
một cách công minh, vì mục tiêu thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Để đạt được
mục tiêu này, pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới đều quy định nguyên tắc tối
cao là các cơ quan cạnh tranh hoàn toàn độc lập trong các hoạt động của mình mà không bị
chi phối hay can thiệp của bất kỳ cơ quan thứ ba nào.
19


Nhằm tạo lập sự độc lập về mặt tổ chức và tài chính, một số nước như Italia, Hoa Kỳ
đã thành lập cơ quan cạnh tranh của mình trực thuộc Quốc hội, độc lập với các cơ quan hành
pháp và tư pháp. Một số cơ quan cạnh tranh khác lại được tổ chức như một Bộ hay cơ quan
ngang Bộ, độc lập với các bộ ngành khác (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc). Một số trường
hợp khác mặc dù đặt trong một bộ ngành nào đó nhưng lại duy trì một chế độ độc lập rất cao
trong hoạt động (Pháp). Các cơ quan này chỉ bị phụ thuộc cơ quan chủ quản về mặt hành
chính.
Cùng với yêu cầu về tính độc lập, pháp luật cạnh tranh của các quốc gia nói trên cũng
quy định rất chặt chẽ về những yêu cầu phải công bố công khai các hoạt động của cơ quan
cạnh tranh (tính minh bạch). Các bên liên quan có quyền yêu cầu các cơ quan cạnh tranh cho
phép tiếp cận thông tin liên quan tới vụ việc. Trên thực tế, các cơ quan cạnh tranh cũng luôn
đề cao tiêu chí minh bạch (transparency) trong các hoạt động cụ thể, từ việc công khai các
chính sách, pháp luật cũng như các quy trình xử lý công việc… cho đến nội dung các quyết
định cụ thể trên các website của mình. Tuy nhiên, cơ quan cạnh tranh phải có trách nhiệm
bảo mật các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra liên qua đến bí mật kinh doanh
của các doanh nghiệp là đối tương bị điều tra. Đây là những vấn đề rất đáng để Việt Nam
học tập khi nghiên cứu cải tổ cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh ở nước ta.

20


KẾT LUẬN
Pháp luật cạnh tranh đã và đang ngày càng đi vào thực tế đời sống kinh tế - xã hội, là
công cụ đắc lực điều chỉnh mối quan hệ trong hoạt động kinh tế của đất nước. Những hành
vi đi ngược lại cạnh tranh, làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh lành mạnh đều
được Nhà nước điều chỉnh thông qua các quy phạm pháp luật. Theo quy định của Luật Cạnh
tranh, hành vi quảng cao nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một trong những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, minh bạch và công bằng nên bị cấm thực hiện. Chính vì vậy là cần
thiết cho sự ra đời của pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh.
Ngày nay, sự phát triển của kinh tế tự do và sự cạnh tranh bình đẳng của các doanh
nghiệp đã tạo điều kiện cho hoạt động quảng cáo phát triển. Hơn nữa, đặc thù các quy định
về quảng cáo không tập trung và rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật nên việc
kiểm soát các hành vi vi phạm chưa thực sự hiểu quả. Mặc dù Luật Cạnh tranh ra đời và
ngày càng đi vào thực tế các hoạt động kinh tế, là một công cụ đắc lực điều chỉnh một mặt
cạnh tranh của các doanh nghiệp do đó cần phải có những chế tài cụ thể, phù hợp để đảm
bảo môi trường quảng cáo lành mạnh vẫn không mất đi sự cạnh tranh, sáng tạo của doanh
nghiệp. Như vậy, để hiện thực hóa mục tiêu này, trước tiên là trách nhiệm của các cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng và thực thi pháp luật. Bên cạnh đó,
nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong xã hội là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ đồng thời ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn, làm lành mạnh
môi trường cạnh tranh nói chung và quảng cáo nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

21


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục của thầy Tăng Văn Nghĩa
2. Cục Quản lý cạnh tranh, “Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt
Nam”.
3. Cục Quảng lý cạnh tranh, “Báo cáo thường niên năm 2012, Bảng Thống kê điều tra
các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh từ 2006 – 2012”.
4. Báo điện tử Pháp luật và Xã hội, “Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
nhiều nhất trong số các vụ việc được điều tra”
5. Luật canh năm 2004
6. Báo điện tử VTV.vn
7. Luật quảng cáo 2012
8. Quốc hội (2010), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội.
9. Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Cạnh tranh
10. Nghị định 71/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/07/2014 Quy định chi tiết Luật
Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
11. Bộ luật Dân sự năm 2015
12. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
13. Chuyên mục Nghiên cứu trao đổi tại Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp
14. Pháp luật về quảng cáo thương mại của Hoa Kỳ và bài học cho Việt Nam; TS.
Nguyễn Ngọc Hà, ThS. Võ Sỹ Mạnh; Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, trường ĐH Ngoại
thương

22




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×