Tải bản đầy đủ

Đề cương nghiên cứu khoa học cấp cơ sở chuyên ngành nội khoa khảo sát tình trạng kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện năm 2018

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng
glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc
cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối
loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh và mạch
máu.
“Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hoá ”- Dự
báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở
thành hiện thực. Trong đó, đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm được WHO
quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Theo thống
kê của Liên đoàn đái tháo đường Quốc tế thì trên thế giới có khoảng 90% là Đái
tháo đường type 2, mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì bệnh đái tháo
đường trong đó khoảng 80% bệnh nhân tử vong do biến chứng tim mạch, nhất là
những trường hợp đái tháo đường type 2 phát hiện muộn. Nhiều bệnh nhân khi
phát hiện bệnh không được quản lý, theo dõi và điều trị đúng, dẫn đến biến
chứng nặng nề. Theo WHO, năm 1985 có khoảng 30 triệu người mắc đái tháo
đường trên toàn cầu, năm 2004 có khoảng 98,9 triệu người mắc, tới nay khoảng
230 triệu người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào
những năm 2030 . Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh.Một
nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008 cho

thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên
5% (năm 2008). Đái tháo đường đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ
cộng đồng. Hiện nay nhiều biện pháp được nêu ra nhằm giảm thiểu tỷ lệ biến
chứng và tử vong bệnh đái tháo đường ; một trong các vấn đề được đặt ra và đôi
khi trở thành thách thức là: Làm thế nào quản lý có hiệu quả bệnh nhân đái tháo
đường ngoại trú để có thể ngăn chặn sự tiến triển của các biến chứng mạn tính ?
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy có
mối liên quan chặt chẽ giữa kiểm soát lipid máu và giảm tần suất biến chứng của
bệnh đái tháo đường. Kết quả nghiên cứu DCCT (Diabetes Control and


2
Complication Trial) cho thấy kiểm soát lipid máu chặt đã giảm tần suất các biến
chứng ở bệnh nhân đái tháo đường xuống 3- 4 lần. Nghiên cứu UKPDS (United
Kingdom Prospective Diabetes Study ) đã kết luận kiểm soát lipid máu chặt chẽ
trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 bằng kết hợp nhiều phương pháp làm giảm
tỉ lệ tử vong và mức độ tàn phế tới 60-70%.
Tuy vậy thực tế mức độ kiểm soát các chỉ số trong đó có lipid máu, ở bệnh
nhân đái tháo đường type 2 vẫn còn đạt ở mức thấp, tỷ lệ các biến chứng vẫn
xuất hiện ngày càng tăng làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.Để tìm
hiểu thêm vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tình trạng
kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại
Bệnh viện B năm 2018 với mục tiêu:
Khảo sát tình trạng kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2
điều trị ngoại trú tại Bệnh viện B năm 2018.


3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
I. BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.1. Định nghĩa:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới 2002, “Đái tháo đường là một bệnh mạn tính
gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do
nguyên nhân mắc phải và/ hoặc do di truyền với hậu quả tăng Glucose máu.
Tăng glucose máu gây tổn thương nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là mạch
máu và thần kinh”.
Theo Hội đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2004: “ đái tháo đường lầ một nhóm
bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiets
insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn
tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều


cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh và mạch máu”.
1.2. Dịch tễ học:
30- 50% bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 không được chẩn đoán.
Tần suất bệnh đái tháo đường trên thế giới: trên thế giới đái tháo đường
chiếm khoảng 60- 70% các bệnh nội tiết. Trong năm 1995 các quốc gia có số
người mắc đái tháo đường nhiều nhất và số người dự đoán mắc đái tháo đường
vào năm 2025 lad Ana Độ ( 19 lên 57 triệu), Trung Quốc ( 16 lên 38 triệu), Hoa
kỳ ( 14 lên 22 triệu). Trong đó Ấn Độ là nước có tỷ lệ tăng cao nhất.
Theo WHO, Năm 2000 Việt Nam co hon 7 nghìn người mắc đái tháo
đường và tăng lên trên 3 triệu người mắc vào năm 2030.
1.3. Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháođường
1.3.1 Chẩn đoán:
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định: Theo WHO năm 1998 và được xác định lại
năm 2002. Chẩn đoán xác định đái tháo đường nếu có một trong ba tiêu chuẩn
dưới đây và phải có ít nhất hai lần xét nghiệm ở hai thời điểm khác nhau:
Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l. Kèm theo các triệu
chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân.


4
Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc bệnh nhân
đã nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn.
Hoặc: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng
glucose máu ≥ 11,1 mmol/l.
1.3.2.Phân loại bệnh đái tháođường
* Đái tháo đường type1:
Đái tháo đường type 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân đái
tháo đường thế giới. Đặc trưng bởi sự hủy hoại tế bào beta của đảo tụy
Langherhans ( tự miễn hoặc vô căn) và thiếu hụt gần như tuyệt đối insulin, vì thế
dễ bị nhiễm toan ceton nếu không được điều trị. Đái tháo đường type 1 phụ
thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi. Thường
phối hợp với một số bệnh tự miễn khác như Basedow, viêm tuyến giáp
Hashimoto, bệnh Addison. Người bệnh đái tháo đường type 1 sẽ có đời sống phụ
thuộc insulin hoàn toàn.
* Đái tháo đường type2:
Thường gặp nhất đái tháo đường type 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% đái tháo
đường trên thế giới. Đặc trưng bởi rối loạn hoạt động hay tiết insulin: thay đổi từ
đề kháng insulin chiếm ưu thế với thiếu hụt insulin tương đối đến khiếm khuyết
tiết insulin chiếm ưu thế kèm đề kháng insulin hay không.
Thường không được chẩn đoán trong nhiều năm vì mức độ tăng glucose
không trầm trọng, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện tình cờ. Thường xảy
thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi, nhưng đôi khi cũng xảy ra ở trẻ
nhỏ, có tính gia đình, nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, do có sự
thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, đái tháo đường type 2 ở
lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh.
Đa số trường hợp có kèm béo phì và bản thân béo phì lại làm trầm trọng
thêm tình trạng đề kháng insulin. Nhiều bệnh nhân không được xem là béo phì
dựa trên tiêu chuẩn kinh điển nhưng lại có sự tích tụ mỡ nhiều ở vùng bụng.
Hiếm khi nhiễm toan ceton ngoại trừ có stress hoặc nhiễm trùng.
Nồng độ insulin máu bình thường hoặc cao trong trường hợp đề kháng


5
insulin chiếm ưu thế; hoặc nồng độ insulin giảm trong trương hợp có khiếm
khuyết khả năng tiết insulin.
Có yếu tố gia đình rõ rệt. Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường type 2 bao
gồm: tuổi lớn, béo phì, ít hoạt động, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tiền sử gia
đình có người mắc đái tháo đường, tiền sử đái tháo đường thai nghén và một số
nhóm chủng tộc có nguy cơ cao mắc đái tháo đường.
Đặc điểm lớn nhất trong sinh bệnh của đái tháo đường type 2 là có sự
tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người
mắc bệnh đái tháo đường type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết
hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện
không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.
* Đái tháo đường thai kỳ:
Đái đường thai kỳ thường là tình trạng rối loạn dung nạp glucose máu với
các mức độ khác nhau, khởi phát hay được phat hiện đầu tiên khi có thai; dù
dùng insulin hay chỉ điều chỉnh chế độ ăn để điều trị và ngay cả khi đái tháo
đường vẫn còn tồn tại sau khi sinh. Định nghĩa này không loại trừ tình trạng rối
loạn chuyển hóa glucose đã xảy ra cùng lúc khi có thai mà không được nhận biết
trước đó. Sự tiến triển của đái tháo đường thai nghén sau đẻ theo 3 khả năng: Bị
đái tháo đường, giảm dung nạp glucose, bình thường.
Các thể đái tháo đường khác (hiếm gặp) Nguyên nhân liên quan đến một số
bệnh, thuốc, hoá chất. Khiếm khuyết chức năng tế bào beta. Khiếm khuyết gen
hoạt động của insulin. Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinom
tụy… Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp…
1.4. Biến chứng bệnh đái tháo đường:
ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển
nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh nhân có thể tử
vong do các biến chứng này.
1.4.1 Biến chứng cấp tính:
Biến chứng cấp tính đặc hiệu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 là tăng
thẩm thấu do tăng glucose máu , hạ glucose máu, nhiễm toan lactic; đái tháo


6
đường type1 là toan ceton. Thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm
khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Ngay cả khi điều trị đúng, hôn mê
nhiễm toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng
nguy hiểm. Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid
do thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton
gây toan hóa tổ chức. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn
chuyển hóa glucose nặng, đường huyết tăng cao.
1.4.2 Biến chứng mạn tính:
* Biến chứng vi mạch:
Bệnh lý võng mạc đái tháo đường:
Là nguyên nhân chính gây mù, gồm 2 giai đoan: bệnh lý võng mạc đái tháo
đường không tăng sinh và bệnh lý võng mạc đái tháo đường tăng sinh.
Bệnh võng mạc ĐTĐ là nguyên nhân thường gặp gây mù loà. Tần xuất các
nước Âu châu là 52%, Bắc Âu là 44 - 77%. Thái Hồng Quang (1989) thấy biến
chứng mắt 43,16% trong đó bệnh lý võng mạc mắt là 20%. Tỷ lệ bệnh võng mạc
đái tháo đường týp 2 tăng theo thời gian mắc bệnh đái tháo đường. Để hạn chế
phát triển bệnh võng mạc do đái tháo đường điều quan trọng là kiểm soát tốt
glucose máu, nghiên cứu UKPDS cho thấy nếu giảm 1% HbA1c sẽ giảm được
21% biến chứng bệnh võng mạc ĐTĐ.
Ngoài biến chứng vi mạch võng mạc, tại mắt còn có các biến chứng sau:
rối loạn chiết quang nên nhìn khi tỏ khi mờ, rối loạn mầu sắc, đục thủy tinh thể,
viêm thần kinh thị, liệt cơ vận nhãn, glaucome.
Bệnh lý vi mạch thận. Thường xảy ra đồng thời với bệnh lý võng mạc, là
nguyên nhân hàng đầu gây suy thận mạn tiến triển. Triệu chứng ưu thế ở giai
đoạn sớm là protein niệu xuất hiện sau 10- 15 năm khởi bệnh đái tháo đường,
mà biểu hiện giai đoạn đầu là albumin niệu vi thể.
*Biến chứng thần kinh đái tháo đường:
Định nghĩa bệnh lý thần kinh đái tháo đường theo ADA năm 2005: “ Sự
hiện diện của các triệu chứng và/ hoặc dấu hiệu của rối loạn chức năng thần kinh
ngoại biên ở người đái tháo đướng sau khi đã loại trừ các nguyên nhân khác”.


7
Thường phối hợp với bệnh lý võng mạc, bệnh lý thận tạo thành “ tam bệnh” đặc
hiệu của đái tháo đường.
* Biến chứng mạch máu lớn:
Biểu hiện xơ vữa nhiều mạch máu lớn: thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim,
viêm tắc động mạch chi dưới, tắc mạch bàn chân, tai biến mạch máu não, tắc
mạch thận...
Người đái tháo đường có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim
mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường. THA thường gặp ở bệnh nhân đái
tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh chung của tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường
gấp đôi so với người bình thường. Trong ĐTĐ type 2, 50% BN ĐTĐ mới được
chẩn đoán có THA. Người mắc ĐTĐ type 2 thường kèm theo các rối loạn
chuyển hoá và tăng lipid máu . Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân
ĐTĐ gấp 1,5 - 2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình
thường. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, khoảng 80% BN ĐTĐ
mắc thêm các bệnh liên quan đến tim mạch.
* Một số biến chứng khác
Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường: Tổn thương bàn chân ĐTĐ là hậu quả
của bệnh lý thần kinh ngoại biên do giảm nhậy cảm và rối loạn thần kinh tự
động, và thiếu máu do xơ vữa mạch của các mạch máu ở chân. Loét bàn chân ở
người đái tháo đường là biến chứng nặng nề và cũng thường gặp.
* Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân đái tháo đường: Viêm phổi, lao phổi thường
găp bệnh nhân ĐTĐ. Đặc biệt nhiễm trùng đường tiết niệu hay gặp bệnh nhân
nữ viêm bàng quang cấp và mạn tính, đây chính là nguyên nhân dẫn đến suy
thận sớm. Nhiễm trùng răng lợi gây tụt lợi đẫn đến lung lay và rụng răng sớm,
tổn thương da thường phối hợp trên bệnh nhân đái tháo đường như viêm da,
nấm, á sừng, vẩy nếnvv... ngày càng gặp nhiều.


8
1.5. Điều trị bệnh đái tháo đường type 2
1.5.1 Mục tiêu điều trị
Làm biến mất triệu chứng, tránh biến chứng lâu đà, bằng cách kiểm soát
glucose máu tốt, với HbA1c dưới 7%, kết hợp điều chỉnh rối loạn lipid, protide
tốt, trọng lượng ổn định bình thường, và tránh nhiễm toan. Tránh phat triển biến
chứng thoái hóa.
Tránh tai biến do điều trị và giáo dục bệnh nhân biết về bệnh của họ.
Các hướng dẫn điều trị đối với đái tháo đường type 2 của Châu Âu, Hội đái
tháo đường Mỹ, tổ chức y tế thế giới cũng như của khu vực Châu Á- Thái Bình
Dương là đưa ra các mục tiêu cần đạt được cho việc kiểm soát các chỉ số tim
mạch, chuyển hóa. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát glucose máu đó
là : chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, thuốc điều trị đái tháo đường và tự
chăm sóc (tự theo dõi glucose máu, thay đổi lối sống). Các yếu tố trên đều đóng
vai trò quan trọng trong kiểm soát glucose máu và mỗi yếu tố là một mắt xích
góp phần vào giảm tỷ lệ biến chứng của bệnh ĐTĐ type 2.
1.5.2. Điều trị bệnh đái tháo đường type 2
* Chế độ ăn:
Chế độ ăn uống là một phần trong điều trị đái tháo đường type 2. Không
thể điều trị có hiệu quả ĐTĐ type 2 nếu không thực hiện tốt chế độ ăn hợp lý,
cung cấp đầy đủ các thành phần thức ăn đảm bảo cho cân nặng ổn định, phù
hợp. Chế độ dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến các yếu tố nguy cơ tim mạch như
tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và béo phì. Mục tiêu của việc thực hiện chế độ
ăn uống hợp lý là:
+ Kiểm soát glucose máu sau ăn và lipid máu.
+ Đạt và duy trì cân nặng lý tưởng.
+ Đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cá nhân.
+ Làm giảm các nguy cơ tim mạch, ngăn ngừa và làm chậm các biến
chứng.


9
Bảng 1: Tỷ lệ các thành phần dinh dưỡng trong chế độ ăn của bệnh nhân
ĐTĐ theo khuyến cáo ADA 2006
Thành phần
Protein

Mức độ cho phép
15 – 20%
Đặc biệt 10-35%

Lipid

BC thận 0,8g/kg/ngày
25 – 35%

Carbonhydrat

45 - 65% nhưng không dưới 130g/ngày

Chất xơ

≥ 5 g chất xơ/khẩu phần ăn

* Hoạt động thể lực và luyện tập:
Hoạt động thể lực và luyện tập đóng vai trò quan trong trong điều trị ĐTĐ
type 2.
Hoạt động thể lực làm tăng độ nhạy cảm của insulin, nhờ đó cải thiện kiểm
soát mức glucose và có thể làm giảm cân. Khi điều trị bằng chế độ ăn và luyện
tập thể lực không đạt được mục tiêu kiểm soát glucose máu. Tiếp theo là bằng
thuốc uống hạ glucose máu đơn trị liệu hoặc điều trị phối hợp đa trị liệu, hoặc
điều trị bằng insulin đơn thuần để đạt được mục tiêu kiểm soát glucose máu.
* Điều trị tăng glucose máu bằng thuốc:
Điều trị bằng thuốc nhằm điều chỉnh hai rối loạn chính trong cơ chế bệnh
sinh của đái tháo đường type 2 đó là tình trạng kháng insulin và giảm tiết insulin
hậu quả của suy giảm tế bào beta của đảo tụy. Mỗi loại thuốc hạ glucose máu sẽ
nhằm vào một trong hai mục tiêu này.
Thuốc có tác dụng tăng tiết insulin
Nhóm Sulfonyl Urease: chuyển hóa ở gan, t1/2 khác nhau, thải theo đường
mật hay thận, liên kết proteine máu cao, nguy cơ hạ glucose máu vì kích thích
tụy tiết insulin.
Tác dụng của Sulfonyl Urease ( S.U), có tác dụng chủ yếu là kích thích tụy
tiết insulin.


10
S.U giảm đề kháng insulin và giảm glucose máu sau ăn do giảm độc tính
glucose, và tăng tiềm lực trực tiếp trên gan, khi glucose máu giảm thì tế bào gan
nhạy cảm hơn với insulin.
S.U còn có tác dụng làm tăng tính nhạy cảm sau thụ thể.
Các nhóm thuốc S.U:
Thế hệ I:
Hiên nay ít dùng.
Chlorpropamide: Diabénèse 500mg/viên (thời gian 1/2 đời là 36 giờ).
Carbutamide: Glucidoral, viên 500mg, Tác dụng 1/2 đời là 45 giờ. Tác
dụng kéo dài 24 - 60 giờ. Liều dùng 1/2 - 1 viên/ng, dùng 1 liều duy nhất.
Thế hệ II:
Gliclazide: Diamicron 80 mg, Prédian, Glucodex, Clazic, viên 80mg. Tác
dụng 1/2 đời là 12 giờ. Tác dụng kéo dài 12 - 24 giờ. Liều dùng 1-3 viên/ng.
Dùng 2 lần/ng (trước hoặc trong bữa ăn sáng và trong bữa ăn tối). Đối với người
lớn tuổi, giảm 1/2 liều.
Diamicron MR 30 mg, Clazic SR 30mg, tác dụng chậm, uống 1 lần buổi
sáng, liều 1-2 viên/lần
Glibenclamide: Daonil 5mg, Hémi-Daonil 2,5mg, Daonil faible 1,25mg (5
giờ). Tác dụng 1/2 đời 6 - 16 giờ. Tác dụng kéo dài 12 - 24 giờ. Liều dùng thông
thường 1 - 2viên/ng, có thểø tăng 3v/ng. Uống ngay trước bữa ăn chính. 1 - 3
lần/ng
Glipizide: Glibénèse, Minidiab: tác dụng 1/2 đời là 3-7 giờ; tác dụng kéo
dài 6 - 12 giờ; 5mg/viên; liều 5 - 20mg/ngày, 2 lần/ng.
Thế hệ III:
Glimepiride (Amaryl*, Amarel*) viên 1mg, 2mg, 3mg. Tác dụng 1/2 đời
là 5 - 8 giờ. Tác dụng kéo dài 12-24 giờ, Liều dùng là 1mg/ng, có thể tăng dần
theo bậc cấp 1mg, 2mg, 3mg, 4mg, 6mg, thời gian tăng theo khoảng cách 1-2
tuần; thông thường liều 1 - 4 mg/ng. Uống trước bữa ăn điểm tâm hoặc bữa ăn
chính, uống một liều duy nhất trong ngày.
Glinide: Có tác dụng kích thích tiết insulin khi glucose máu cao, nên điều


11
hoà được glucose trong bữa ăn, kiểm soát được đường máu sau ăn. Gồm:
Répaglinide (Novonorm*, Prandin*): viên 0,5mg, 1mg, 2mg; liều
4mg/ngày chia hai, uống trước ăn 15 phút. Kéo dài 3 giờ.
D-phenylalanine (Natéglinide). Starlix*, viên 60 - 120mg, liều 60120mg/lầnx 3 lần/ngày, cho trước ăn; kéo dài 1 giờ 30 phút.
Biguanides:
Metformin (Dimethylbiguanide):
Metformine tác dụng nhanh: Glucophage, Siofor, Fordia, viên 500mg,
Metformine tác dụng chậm: Glucophage retard (Metformine HCL) 850mg;
Siofor 850mg; Fordia 850mg
Glucophage cho liều đầu tiên 500mg, 2-3 lần/ng; uống trong lúc ăn hoặc
sau khi ăn; sau 10 - 15 ngày có thểø thay Glucophage retard 850mg, 2 lần/ng.
Glucinan, Stagid: liều 2 - 3 viên/ng, uống trong lúc ăn.
Tác dụng: Không kích thích tiết insulin, nên không có tác dụng phụ hạ
đường máu. Tuy vậy do nhiều cơ chế tác dụng nó vẫn làm giảm tác dụng đường
máu lúc đói, đặc biệt là sau ăn; thuốc có tác dụng ưu thế trên gan, giảm tân sinh
đường ở gan, cải thiện đáp ứng sau thụ thể, tăng tiêu thụ glucose ở tế bào đích,
điều hoà được rối loạn lipde máu, giảm ngưỡng ngon miệng. Chỉ định ưu tiên
cho đái tháo đường týp 2 béo
Thuốc ức chế ức chế hấp thu glucose ở ruột:
Acarbose: Glucobay, Glucor*. Viên 50mg, 100mg. Liều cho tăng dần 50
mg (3 lần/ng, uống ngay khi bắt đầu ăn.
Voglibose (Basen*) Thểú hệ thứ 2. Viên 0.2mg, 0.3mg. Liều 0.2mg, 3
lần/ng, ngay trước ăn
Benfluorex: (Mediator):
Tác dụng: tác dụng giống Metformine, viên 150 mg. Liều: 1 - 3 viên/ngày
(tăng dần liều), bắt đầu 1 - 2, 3 viên/ngày.
ThiazolidineDione:
Chỉ định tốt trong đái tháo đường týp 2 không béo có đề kháng insulin.
Tác dụng: Tăng tính nhạy cảm insulin, Giảm glucose, TG, tăng HDL.


12
Các nhóm thuốc mới:
Glitazones tác dụng lên thụ thể, giảm được tính đề kháng insulin một cách
trực tiếp ở mô đích, giảm glucose máu, nhưng dễ tăng cân. Gồm Rosiglitazone
(Avandia) và Pyoglitazone bắt đầu dùng tại Pháp năm 2000.
Avandia (Rosiglitazone maleate): liều 4mg/ngày, sau 12 tuần nếu cần kiểm
soát đường huyết tốt hơn, có thể tăng 8 mg/ngày. Dùng lúc đói hoặc no. Chỉ
định:
Đái tháo đường týp 2 không kiểm soát đường huyết tốt sau tiết thực và tập
thể dục.
Phối hợp với SU hoặc metformine khi đái tháo đường 2 được điều trị bằng
tiết chế và thuốc SU hoặc metformine mà chưa ổn định glucose máu tốt
Chống chỉ định trong suy tim độ 3 - 4 (NYHA), suy gan hoặc bệnh gan có
ALT >2,5 lần BT. Tác dụng phụ: phù do giữ muối, nước, thiếu máu, rụng trứng
trở lại trong giai đoạn tiền mãn kinh.
* Điều trị insulin trong đái tháo đường type 2:
Điều trị insulin tạm thời (còn gọi là đái tháo đường týp 2 cần insulin hoặc
viện đến insulin (insulino-nécessitant, insulinorequérant):
Điều trị insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 khi:
Triệu chứng nặng ra, mặc dù được điều trị tiết thực và thuốc uống hạ
glucose máu.
Dấu 4 nhiều: khát, tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và gầy rõ.
Có cetone niệu (+++).
Tăng glucose máu nhiều và trường diễn (>3g/l), (HbA1c >7% mặc dù điều
trị thuốc uống tối đa (gây tăng độc tính đường).
Đau nhiều chi dưới.
Các tình huống cần insulin:
Các bệnh nhiễm trùng.
Can thiệp phẫu thuật.
(Mục đích nhằm tránh sự mất quân bình glucose máu do phối hợp với một
số bệnh trầm trọng như nhiễm trùng hoặc can thiệp phẩu thuật).


13
Hoặc ở những bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang điều trị bằng các loại
thuốc làm tăng glucose (như corticoides..).
Hoặc đái tháo đường thai nghén.
Trong phần lớn các trường hợp này, sự sử dụng insulin được thực hiện tại
bệnh viện hay tại nhà, glucose máu được theo dõi đều đặn để thích nghi liều
insulin. Tùy đáp ứng mà bác sĩ sẽ quyết định ngưng insulin và trở lại điều trị
thuốc uống chống đái tháo đường.
Chỉ định insulin trong trường hợp này có thểø đơn độc hoặc cùng phối hợp
với thuốc uống chống đái tháo đường.
Nếu insulin < 40UI, Glucophage 2 viên/ngày, buổi sáng và buổi tối, rồi
3v/ng, insulin giảm từ 2 - 4 UI mỗi 2 ngày.
Điều trị insulin lâu dài (sau cùng): Được chỉ định trong những trường hợp
sau:
Bệnh thận, gan, tim hoặc biến chứng mắt, không thểø tiếp tục điều trị các
loại thuốc uống chống đái tháo đường đươc.
Hoặc vì bệnh đái tháo đường tiến triển nhiều năm, mất cân bằng glucose
máu trường diễn. Tụy không sản xuất đủ insulin.
Cách sử dụng insulin trong đái tháo đường type 2: Insulin có thểø thay thểú
thuốc viên hoặc phối hợp 2 loại insulin và thuốc uống gọi là điều trị hổn hợp.
Liều insulin thích nghi theo glucose máu. Số lần tiêm giống như trong type 1.
II. LIPID MÁU
Lipid máu hay còn được gọi nôm na là « mỡ máu », là một thành phần
quan trọng trong cơ thể. Trong thực tế, lipid máu bao gồm nhiều thành phần
khác nhau, trong đó quan trọng nhất là cholesterol. Các bạn đừng nghĩ là
cholesterol là xấu, bởi nó là một chất quan trọng có mặt ở nhiều cơ quan, bộ
phận cơ thể cũng như trong các hormon của cơ thể, giúp cho cơ thể phát triển và
hoạt động bình thường khỏe mạnh. Vấn đề đặt ra là sự rối loạn của giữa các loại
cholesterol dẫn đến bệnh lí mà đặc trưng là xơ vữa động mạch. Có hai loại
cholesterol chính là loại “tốt” và loại “xấu”. Chúng ta cần hiểu rõ sự khác nhau
giữa hai loại này và hiểu biết về nồng độ của chúng trong máu của bạn như thế


14
nào là tối ưu. Nếu loại xấu tăng nhiều quá hoặc mất cân đối giữa hai loại là nguy
cơ gây ra các bệnh tim mạch như : nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não...
Cholesterol có từ hai nguồn: do cơ thể bạn tổng hợp và từ thức ăn. Nguồn từ cơ
thể (tổng hợp từ gan và các cơ quan khác) chiếm khoảng 75% tổng số lượng
cholestrol trong máu của bạn, còn lại từ nguồn thức ăn. Hiện nay, cholesterol chỉ
thấy ở trong thức ăn có nguồn gốc từ động vật. Bên cạnh đó, một thành phần
khác của lipid máu cần được quan tâm là triglycerid.
Các loại thành phần chính của lipid máu bao gồm LDL – Cholesterol (loại
xấu) Đây là thành phần được coi là “xấu” của cholesterol, khi lượng LDL này
tăng nhiều trong máu dẫn đến sự dễ dàng lắng đọng ở thành mạch máu (đặc biệt
ở tim và ở não) và gây nên mảng xơ vữa động mạch. Mảng xơ vữa này được
hình thành dần dần gây hẹp hoặc tắc mạch máu hoặc có thể vỡ ra đột ngột gây
tắc cấp mạch máu dẫn đến những bệnh nguy hiểm như: nhồi máu cơ tim hoặc tai
biến mạch não. LDL cholesterol được coi là một trong những chỉ số quan trọng
cần theo dõi khi điều trị. LDL tăng có thể liên quan đến yếu tố gia đình, chế độ
ăn, các thói quen có hại như hút thuốc lá/lười vận động hoặc liên quan các bệnh
lí khác như tăng huyết áp, đái tháo đường…
HDL - Cholesterol (loại tốt) Loại này chiếm khoảng 1/4- 1/3 tổng số
cholesterol trong máu của bạn. HDL - cholesterol được cho là loại tốt bởi vì nó
vận chuyển cholesterol từ máu trở về gan, cũng vận chuyển cholesterol ra khỏi
mảng xơ vữa thành mạch máu và do vậy, làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch
cũng như các biến cố tim mạch trầm trọng khác. Những nguy cơ làm giảm HDL
là hút thuốc lá, thừa cân/béo phì, lười vận động... Do vậy, để làm tăng HDL cần
bỏ thuốc lá, giữ cân nặng hợp lí, tăng cường tập thể dục…
Triglycerides Triglyceride cũng là một dạng mỡ trong cơ thể bạn. Tăng
triglycerides thường gặp ở những người béo phì/ thừa cân, lười vận động, hút
thuốc lá, đái tháo đường, uống quá nhiều rượu... Những người có triglycerides
trong máu tăng cao thường đi kèm tăng cholesterol toàn phần, bao gồm tăng
LDL (loại xấu) và giảm HDL (tốt). Hiện nay, các nhà khoa học cho thấy việc
tăng triglyceride trong máu cũng có thể liên quan đến các biến cố tim mạch.


15
Lp(a) Cholesterol Lp(a) là một biến thể của LDL cholesterol. Việc tăng Lp(a)
trong máu làm gia tăng nguy cơ hình thành mảng xơ vữa động mạch. Có lẽ nó
ảnh hưởng thông qua việc tương tác với một số chất khác trong quá trình hình
thành vữa xơ động mạch.


16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện B từ
tháng 01 đến tháng 10 năm 2018,
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnhnhân
* Chẩn đoán ĐTĐ dựa vào tiêu chuẩn của TCYTTG (WHO ) năm 2010:
+ Glucose máu đói (sau bữa ăn cuối cùng 8-12 giờ) ≥ 7.0 mmol/l (phải làm
ít nhất 2 lần) hoặc
+ Glucose máu bất kỳ ≥ 11.1 mmol/l kết hợp với các triệu chứng tăng tăng
glucose máu (làm 2 lần) hoặc
+ Glucose máu giờ thứ 2 của nghiệm pháp dung nạp ≥ 11.1 mmol/l.
* Chẩn đoán đái tháo đường typ 2 theo tiêu chuẩn:
+ Bệnh tiến triển từ từ.
+ Thường có cơ địa béo phì hiện tại hoặc trước đó.
+ Không có chiều hướng nhiễm toan ceton.
+ Định lượng insulin máu bình thường.
+ Glucose máu kiểm soát được khi áp dụng chế độ ăn hợp lý, vận động thể
lực đều đặn, hoặc kết hợp với thuốc uống hạ GM, hoặc insulin liều thấp.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
+ Đái tháo đường type1, ĐTĐ thai kỳ, các loại ĐTĐ khác có nguyên nhân.
+ Bệnh nhân có những bệnh nội tiết khác kèm theo (Basedow, hội chứng
Cushing, to đầu chi…...).
+ Bệnh nhân có biến chứng cấp tính , ác tính.
+ Những BN mất máu cấp hoặc mạn, thiếu sắt, xuất huyết tiêu hoá, nhiễm
sắc tố sắt… ảnh hưởng tới kết quả HbA1c.
+ Bệnh nhân không có điều kiện theo dõi, chuyển vùng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiến cứu, mô tả, cắt ngang.


17
2.2.1. Nội dung nghiên cứu
+Tất cả bệnh nhân điều trị trị đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại
Bệnh viện B từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2018.
+ Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng và làm bệnh án theo mẫu thống nhất
+ Làm các xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu, huyết học.
+ Thăm dò chức năng:
- Điện tâmđồ.
- Siêu âm bụng, siêu âm Doppler mạch cảnh,mạch chidưới.
- Khámmắt.
- Khám timmạch
+ Tất cả bệnh nhân được hẹn khám lại theo định kỳ hàng tháng.
+ Đánh giá mức độ kiểm soát HbA1c 3 tháng một lần.
+ Đến thời điểm cuối dựa theo kết quả phỏng vấn tại những lần khám mà
bệnh nhân sẽ được phân làm 2 nhóm: Nhóm chấp hành tốt chế độ điều trị và
nhóm chấp hành chưa tốt chế độ điều trị và so sánh kết quả kiểm soát các chỉ số
giữa 2 nhóm.
2.2.2. Phưong pháp xác định các chỉ số nghiên cứu:
* Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, làm bệnh án theo mẫu thốngnhất
+ Hành chính : tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên lạc (để liên
lạc với bệnh nhân nhắc nhở đến khám theohẹn).
+ Tiền sử bản thân và gia đình.
- Gia đình có ai mắc bệnh đái tháo đường.
- Tiền sử bản thân mắc các bệnh phối hợpkhác.
+ Thời gian được chẩn đoán ĐTĐ, hoàn cảnh phát hiện bệnh.
+ Việc điều trị bệnh ĐTĐ: Phương pháp (chế độ dinh dưỡng, luyện tập,
thuốc).
+ Việc chấp hành các chế độ điều trị bệnh đái tháo đường: dùng thuốc có
thường xuyên theo hướng dẫn, có đi kiểm tra định kỳ theo hẹn…
+ Các biến chứng mạn tính của ĐTĐ như: mắt, thận, tim mạch..
+ Các bệnh phối hợp


18
* Khám lâm sàng
+ Chỉ số khối cơ thể
- Body Mass Index : BMI = Cân nặng ( Kg) ( Đơn vị: Kg/m2)
[Chiều cao ( m2)]2
Đánh giá chỉ số khối cơ thể theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới đề
nghị cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Bảng 2.1. Đánh giá BMI theo tiêu chuẩn phân loại của Hiệp hội đái tháo
đường châu Á- Thái Bình Dương
Thể trạng
Thiếu cân
Bình thường

18,5 – 22,9

Thừa cân

≥ 23,0

Có nguy cơ
Béo

BMI (kg/m2)
< 18,5

23,0- 24,9
độ I
độ II

25,0- 29,9
≥ 30

+ Đo chu vi vòng eo và vòng mông để tính tỷ số WHR (waist hip ratio):
WHR = vòng eo / vòng mông
Ngườichâu Á: WHR của nữ ≥ 0,80; WHR của nam ≥0,90
+ Đo huyết áp: Đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ sau khi BN nghỉ ít
nhất 5 phút, đo huyết áp hai lần cách nhau 2 phút, kết quả tính bằng trung bình
của hai lần đo.
Tiêu chuẩn chẩn đoán THA khi BN có tiền sử dùng thuốc hạ HA trước đó,
hoặc bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán THA theo JNC VIII- 2010.
Khám chuyên khoa:
+ Khám mắt (gửi khám chuyên khoa mắt lần đầu khi đưa vào nghiên cứu
và sau đó khám theo hẹn định kỳ của bác sĩ):
- Đo thị lực, nhãn áp phát hiện tăng nhãn áp.
- Khám phát hiện đục thể thủy tinh:
- Soi đáy mắt phát hiện tổn thương võng mạc.
+ Khám tim mạch, khám bàn chân:
+ Tình trạng da niêm mạc, nhiễm trùng ngoài da, phù, cổ chướng….


19
* Xét nghiệm cận lâm sàng
Các xét nghiệm sinh hóa máu được làm tại khoa Sinh hoá Bệnh viện B.
+ Các xét nghiệm sinh hóa thường quy khác như định lượng creatinin huyết
thanh, enzym ASAT, ALAT, tổng phân tích nước tiểu 10 thông số .
Bảng 2.2. Giá trị bình thường của một số chỉ số hóa sinh máu
Chỉ số hóa sinh
Glucose máu

Đơn vị
mmol/l

Giá trị bình thường
3,9- 6,4

HbA1c

%

4–6

Cholesterol

mmol/l

3,9 – 5,2

Triglycerid

mmol/l

0,46 – 1,88

HDL- c

mmol/l

≥ 0,9

LDL- c

mmol/l

≤ 3,4

Ure

mmol/l

2,5- 7,5

Creatinin

mmol/l

ASAT

U/l- 370 C
U/l- 370 C

Nam : 62- 120
Nữ : 53- 100
≤37

ALAT

≤40


20
2.2.3. Biện pháp quản lý, theo dõi, điều trị bệnhnhân
Tất cả bệnh nhân khi đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đều được tư vấn sơ bộ một
số kiến thức về bệnh đái tháo đường, các dấu hiệu phát hiện biến chứng, tầm
quan trọng của việc tham gia sinh hoạt câu lạc bộ bệnh nhân ĐTĐ và tuân thủ
điềutrị.
+ Tư vấn chế độ ăn hợp lý: Phải ăn cân đối các thành phần glucid, protid,
lipid, chất xơ, muối. Ăn đúng giờ, nên chia nhỏ nhiều bữa trong ngày để hạn chế
tăng glucose máu sau ăn, chỉ ra những loại thức ăn cần hạn chế cho từng bệnh
nhân (cụ thể khẩu phần ăn do bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng tínhtoán).
+ Luyện tập thể lực: dựa vào kết quả xét nghiệm glucose máu, huyết áp,
tình trạng biến chứng hiện taị để đưa ra lời khuyên về cách thức và hình thức
luyện tập phù hợp như; Đi bộ tối thiểu mỗi ngày 30 phút , 1 tuần trung bình
khoảng 150 phút, có thể bơi lội, chơi cầu lông, đạp xe đạp…
2.2.4. Phương pháp đánh giá và thời điểm đánh giá
Các bệnh nhân được hẹn tái khám định kỳ mỗi tháng để điều chỉnh liều
lượng thuốc (những bệnh nhân khó chỉnh liều có thể tái khám từ 0,5 - 1 tháng,
hoặc vào điều trị nội trú).
Khám và làm các xét nghiệm đầy đủ các chỉ số (glucose máu, HbA1c,
cholesterol TP, triglycerid, HDL- c, LDL- c, ure, creatinin, ASAT, ALAT) để
đánh giá mức độ kiểm soát theo khuyến cáo cứ mỗi 6 tháng /lần.
Đánh giá mức độ kiểm soát các chỉ số dựa theo khuyến cáo của Hội Nội
tiết- đái tháo đường Việt Nam năm 2009.
Đánh giá mức độ kiểm soát các chỉ số và biến chứng của bệnh tại các
thờiđiểm ban đầu (T0) ; sau mỗi 6 tháng , ký hiệu lần lượt là T1.


21

Bảng 2.3.Mục tiêu kiểm soát các chỉ số ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 của Hội Nội
tiết- đái tháo đườngViệt Nam năm 2009.
Chỉ số
Glucose máu

Đơn vị

Lúc đói

mmol/l

4,4 – 6,1

6,2 -7,0

> 7,0

HbA1c

%

< 6,5

≤ 7,5

> 7,5

mmHg

< 130/80

130/80 - 140/90

>140/90

kg/(m)2 cm

18,5 -23

18,5 -23

≥ 23

Huyết áp
BMI

TốtChấp nhận

Kém

Vòng eo: nam

<90

Nữ
Cholesterol TP

mmol/l

<80
< 4,5

4,5 – ≤ 5,2

≥ 5,3

HDL-c
Triglycerid

mmol/l

> 1,1

≥ 0,9

< 0,9

mmol/l

< 1,5

1,5 - ≤ 2,2

> 2,2

LDL-c

mmol/l

< 2,5

2,5 – 3,4

≥ 3, 4

* Đánh giá mức độ chấp hành chế độ điều trị của bệnh nhân:
Để đánh giá ảnh hưởng của việc chấp hành điều trị đối với kiểm soát các
chỉ số ở bệnh nhân ĐTĐ type 2, dựa trên bộ câu hỏi chuẩn của Tổ Chức Y tế
Thế giới và Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế năm 2005. Theo đó bệnh nhân
được chia thành 2 nhóm bao gồm:
+ Nhóm chấp hành tốt chế độ điều trị:
Thực hiện tốt đầy đủ các liệu pháp điều trị theo hướng dẫn bao gồm: chế độ
dinh dưỡng, luyện tập thân thể, dùngthuốc.
- Không tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi phác đồ điều trị.
Có sổ theo dõi glucose máu, huyết áp, cân nặng và những diễn biến bất
thường tại nhà, phản ánh kịp thời mỗi lần tái khám
- Khám định kỳ theo hẹn của bác sĩ chuyên khoa.
- Tham gia đầy đủ các buổi tư vấn giáo dục cho bệnh nhân đái tháo đường.
- Nhóm chấp hành chưa tốt chế độ điều trị:
- Chấp hành chưa tốt các liệu pháp điều trị: dinh dưỡng, luyện tập, thuốc…
- Không đi khám lại theo đúng hẹn, tham gia không đủ các buổi tư vấn về bệnh.


22
2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý theo thuật toán thống kê trên máy vi tính sử
dụng chương trình phần mềm SPSS 20.0
- Tính giá trị trung bình độ lệch chuẩn (X ± SD), So sánh 2 giá trị p >
0,05, p < 0,05: Khác biệt không và có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thông qua Hội đồng Khoa học Bệnh viện A, lãnh đạo
Bệnh viện A.
- Được sự đồng ý của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu.


23
CHƯƠNG 3. DỰ KIẾNKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Bảng 3.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu
Đặc điểm

Nhóm ĐTĐ

Tuổi trung bình (năm)
Các chỉ số lâm sàng
HA tâm thu (mmHg) HA tâm
trương (mmHg)
BMI (kg/m2)
WHR
Biểu đồ 3.2. Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo thời gian phát hiện bệnh.

Bảng 3. 2. Đặc điểm cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu:
Đặc điểm

Trung bình

Glucose
HbA1c
CT
RLLP

(mmol/l)

(mmol/l)
HDL(mmol/l)
LDL(mmol/l)

TG

n

%


24
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân dựa vào biện pháp KS GM ở T0 và T1
Thời điểm
Số lượng

T0

T1
Tỷ lệ % Số lượng

n = 150

Biện pháp KS GM
CĐ ăn + luyện tập đơn thuần

Tỷ lệ

n =150

%

Một loại thuốc
Hai loại thuốc
Ba loại thuốc
Bốn loại thuốc
Biểu đồ 3.3. Phân bố tỷ lệ BN dựa theo mức độ chấp hành CĐ điều trị
3.2. Kết quả kiểm soát sau điều trị 6 tháng
Bảng 3.4. So sánh các chỉ số Lâm sàng tại thời điểm NC với thời điểm T1
Các chỉ số
HA tâm thu

T0

T1

p

HA tâm trương
BMI
WHR
Bảng 3.5. Giá trị các chỉ số Cận lâm sàngtại thời điểm NC với thời điểm T1
Cac chỉ số
Glucose
HbA1c
Cholesterol
Triglicerid
HDL-C
LDL-C

T0

T1

p


25

Bảng 3.6. So sánh giá trị trung bình một số chỉ số giữa hai nhóm bệnh nhân
dựa vào chấp hành chế độ điều trị
Chỉ số

Đơn vị

Chấp hành tốt

Chấp hành không
tốt

Glucose

mmol/l

HbA1c

%

BMI

kg/m2

Cholesterol

mmol/l

Triglycerid

mmol/l

HDL-C

mmol/l

LDL- C

mmol/l

HATT

mmHg

HATTr

mmHg

p


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×