Tải bản đầy đủ

TIEU LUAN TRUNG CAP LY LUAN CHINH TRI HANH CHINH PHAT TRIEN NONG NGHIEP BEN VUNG

Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to
lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định. Đời sống của người dân không
ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình
trạng là nước nghèo, có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công
sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó
có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp.
Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân số
sống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Có thể
nói nông nghiệp là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để
trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên
liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho
công nghiệp. Trong quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp cần được phát triển
để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm của xã hội. Vì
thế, sự ổn định xã hội và vấn đề an ninh về lương thực và thực phẩm của xã hội
phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp.Vì vậy, phát triển nông
nghiệp bền vững là một tất yếu khách quan.
Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp, nông

thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó nhiệm vụ
chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị - xã hội, sự phát triển
hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.
Chính nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trong những
năm qua ngành nông nghiệp đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức đáng mừng.
Nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung tự cấp mà còn trở thành
một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Phát triển nông
nghiệp mạnh, bền vững luôn được Đảng, Nhà nước đặt ở trị trí trọng tâm trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, dưới sự tác động như vũ bão của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng như
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng hiện đại, vai trò của nông
nghiệp có xu hướng giảm sút. Hơn nữa sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Long An nói
chung và xã Phước Vân, huyện Cần Đước nói riêng hiện nay, việc sử dụng lãng
phí, kém hiệu quả nguồn lực, vật lực phục vụ nông nghiệp dẫn đến cạn kiệt dần
nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường.... ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển của nông nghiệp và các vấn đề an sinh xã hội, bảo vệ môi trường ở
địa bàn nông thôn.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 1

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Sản xuất nông nghiệp là bộ bộ phận quan trọng trong việc phát triển kinh
tế - xã hội của xã nhà, phát triển nông nghiệp bền vững, phát huy xã văn hóa, xã
nông thôn mới và huy động mọi nguồn lực, sức lực vai trò chủ thể của nông dân,
được cấp ủy, chính quyền địa phương xác định là nhiệm vụ chiến lược phát triển
kinh tế, giữ gìn ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc
phòng, bảo vệ môi trường…
Từ những đặc điểm tình hình trên, đòi hỏi cấp ủy, chính quyền địa phương
nhanh chóng tìm ra những giải pháp thực hiện có hiệu quả, khắc phục nhưng hạn
chế, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, khai thác mọi nguồn lực, tìm
lực, thế mạnh ở địa phương nhằm phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng
nông thôn văn minh, hiện đại. Chính vì những lý do trên, bản thân tôi chọn đề
tài “Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần
Đước, tỉnh Long An” làm tiểu luận tốt nghiệp cuối khóa.


Bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, đề tài tập trung
nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp trên địa bàn xã Phước
Vân từ năm 2011 đến năm 2015 từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên
nhân ưu điểm, hạn chế và đề ra những giải pháp thiết thực để góp phần phát triển
kinh tế tại địa phương và tiếp tục phát huy xã nông thôn mới trong thời gian tới.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý thầy, cô Trường Chính Trị
Long An đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm
quý báu và tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường, đặc biệt là thầy Nguyễn Ngọc Thạch – Trưởng khoa lý luận Mác - lênin
đã tận tình hướng dẫn tôi làm bài tiểu luận tốt nghiệp. Chân thành cảm ơn các
đồng chí tại cơ quan công tác, tập thể lớp A24, cùng các anh chị trong và ngoài
lớp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và viết tiểu luận thời
gian vừa qua.
Do điều kiện hạn chế về trình độ, nhận thức và thời gian nên trong tiểu
luận sẽ có nhiều hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, rất mong quý thầy, cô và các bạn
góp ý, giúp đỡ để tôi hoàn chỉnh tiểu luận và hy vọng đề tài sẽ được ứng dụng,
phát huy tác dụng trong thực tế phát triển kinh tế tại địa phương trong thời gian
tới.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 2

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
BỀN VỮNG
1.1. Một số khái niệm
- Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai
để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên
liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho
công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên
ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả
lâm nghiệp, thủy sản.
- Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó lồng ghép các quá trình sản
xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa mãn
những nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng những
nhu cầu của tương lai.
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại,
nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. (Hội
đồng thế giới về môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc - WCED)
Trong giai đọan hiện nay, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển
kinh tế (đặc biệt là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là tiến bộ xã
hội, công bằng xã hội, giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm) và bảo vệ môi
trường (đặc biệt là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng
môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên).
- Phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững là chu trình quản lý, tổ chức thực hiện
các phương pháp cho sự phát triển của nông nghiệp, nhằm bảo đảm thỏa mãn các
nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ, để đáp ứng cho
con người ở hiện tại và tương lai. Nền nông nghiệp phát triển bền vững phải đảm
bảo là nền tảng và là tiền đề tạo nên một hệ thống bền vững về tất cả các mặt
kinh tế, xã hội và môi trường.
1.2. Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp bền
vững
Nông nghiệp có vai trò quan trọng, cơ bản trong phát triển kinh tế trong cả
nước. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước, các nghị quyết của Đảng đều rất chú

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 3

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

trọng tới vấn đề này, cụ thể trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nêu rõ: Về
nông nghiệp: “phát triển nền nông nghiệp toàn diện”, trên cơ sở “bảo đảm an
ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống”, “chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng
sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng kim
ngạch xuất khẩu”; và tiến tới “Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng
hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh
cao”.
Ngoài ra, nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ sản xuất
và đời sống nhân dân; cung cấp nguyên vật liệu để phát triển công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, tạo mở việc làm cho dân cư. Nông nghiệp không chỉ đã góp
phần quan trọng vào việc ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn và nâng cao đời
sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều
hơn nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh
tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tham
gia vào quá trình bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong những năm
qua.
Thực tiễn xây dựng, việc bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều khẳng định
tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy,
Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan
trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn
định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Đặc biệt là khi triển khai Chương trình
hành động số 21-Ctr/TU của Tỉnh ủy Long An thực hiện Nghị quyết số 26NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông
dân và nông thôn và Quyết định số 1492/QĐ-UBND ngày 20/06/2009 của
UBND tỉnh Long An ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số
21-Ctr/TU của Tỉnh ủy Long An về xây dựng nông thôn mới, càng cho thấy vị
trí - vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp.
Hiện nay, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương, nông
nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế
nhưng có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong thời gian tới, tốc độ phát triển
thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp rất năng động và gia tăng hàng năm
nhưng không vì vậy mà có quan điểm xem nhẹ nông nghiệp.
Thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp - nông thôn trên địa bàn xã
theo Nghị quyết của Đại hội Đảng Khóa X nhiệm kỳ 2010 - 2015 đề ra, Đảng ủy

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 4

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

xã đã tập trung lãnh đạo xây dựng, triển khai nghị quyết số 09-NQ/ĐU của Đảng
ủy về xây dựng xã văn hóa giai đoạn 2010 – 2012, triển khai nghị quyết số 06NQ/ĐU của Đảng ủy về xây dựng xã nông thôn mới giai đoạn 2012 - 2014;
Chương trình hành động của Đảng ủy về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
gắn với nghị quyết 47-NQ/HU của Huyện ủy về nông nghiệp, nông dân và nông
thôn, kết quả cuối năm 2012 xã được công nhân xã văn hóa và đến năm 2014 xã
được công nhận xã nông thôn mới.
2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ TỪ 2011 - 2015
2.1. Đặc điểm khái quát chung về xã Phước Vân
2.1.1. Vị trí địa lý tự nhiên
Phước Vân là trung tâm vùng thượng của huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Phía Đông giáp xã Long Khê, phía Tây giáp xã Long Định, phía Nam giáp xã
Long Sơn, phía Bắc giáp huyện Bến Lức. Nằm cách Thành phố Tân An 20 km và
có tỉnh lộ 835C nối liền đi Thành phố Hồ Chí Minh, cách Thành phố Hồ Chí
Minh 25 km, ranh giới được tách rời bởi hai con sông Trị Yên và sông Đôi Ma,
hai con sông này lấy phù sa nước ngọt từ sông Vàm Cỏ Đông rồi đổ vào địa bàn
xã Phước Vân, bồi đắp phù sa cho ruộng lúa. Toàn xã có 1.100 ha đất tự nhiên,
trong đó có 840 ha đất trồng lúa và trồng hoa màu. Đất đai của Phước Vân khá
bằng phẳng và màu mỡ, chủ yếu là đất phù sa bồi, có nhiều sông rạch cắt ngang,
xẻ dọc nên rất thuận lợi cho việc trồng lúa, rau màu các loại.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
Xã Phước Vân được chia làm 5 ấp: ấp 1, 2, 3, 4, 5, với 2.763 hộ dân,
11.336 nhân khẩu. Số người trong độ tuổi lao động (từ 16 tuổi trở lên) 8.560
người chiếm 75,5%. Lao động chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: nông
nghiệp chiếm 45%, công nghiệp chiếm 38%, thương mại – dịch vụ chiếm 11%
và các lĩnh vực khác chiếm 6%. Toàn xã có 02 công ty và 05 cơ sở kinh doanh
sản xuất tạo việc làm cho người lao động tại địa phương. Thu nhập bình quân
đầu người năm 2011 là 24.500.000 đồng/ người/ năm nhưng trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi giống cây trồng vật nuôi thu nhâp bình
quân đầu người năm 2015 là 32.000.000 đồng/ người/ năm, tăng 7.500.000 đồng/
người/ năm. Số hộ sử dụng điện an toàn đạt 100%, số hộ sử dụng nước hợp vệ
sinh đạt trên 95%. Toàn xã có 35 % hộ giàu, 60 % hộ khá, 3,2 % hộ cận nghèo và
1,8 % hộ nghèo.
Hiện nay, ở địa phương có 29 bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, 260 liệt sĩ, 40
thương bệnh binh và hơn 400 gia đình có công với cách mạng luôn được sự quan
tâm chăm sóc của Đảng ủy – UBND xã Phước Vân. Với sự hy sinh lớn lao cho

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 5

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

công cuộc giải phóng dân tộc xã Phước Vân được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam phong tặng đơn vị xã Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân vào năm 2000.
Xã Phước Vân được công nhận đạt chuẩn phổ cập xóa mù chữ, phổ cập
tiểu học, phổ cập Trung học cơ sở, phổ cập bậc trung học và phổ cập mầm non
cho trẻ 05 tuổi, có 02 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 01. Công tác chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân luôn được quan tâm nhất là đối tượng gia đình chính
sách, hộ nghèo, trẻ em. Phước Vân được công nhận là đơn vị đạt chuẩn quốc gia
về y tế xã vào năm 2004 và duy trì cho đến nay.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân xã Phước Vân đã chung sức, chung lòng xây dựng cuộc sống mới, vượt qua
khó khăn để phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị được giữ vững, trật tự an
toàn xã hội được đảm bảo, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ nét góp phần
cho Phước Vân đạt chuẩn Xã Văn hóa vào năm 2012 và đạt chuẩn 19 tiêu chí Xã
Nông thôn mới vào đầu năm 2015.
2.2. Tình hình phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã giai
đoạn 2011 - 2015
2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1. Những kết quả đạt được
- Về trồng trọt: Trong những năm qua phát huy thế mạnh của địa phương
chuyên sản xuất nông nghiệp cùng với việc đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật,
chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm
nông nghiệp của các loại cây trồng, vật nuôi ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng không chỉ người dân trên địa phương mà còn cung cấp cho thị trường các
huyện lận cận và thành phố Hồ Chí Minh.
Việc tập tung nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, gắn với với
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, từ các hộ dân tham gia trên đất sản xuất theo
vụ: từ 1 năm 2 vụ lúa chuyển sản xuất theo thâm canh, đa canh, mô hình và cánh
đồng sản xuất cơ cấu 1 năm 3 vụ lúa, thâm canh 2 vụ lúa 1 vụ rau màu, tập trung
vụ đông xuân và hè thu, áp dụng chuyển đổi cây trồng và chăn nuôi có thuận lợi.
Thực hiện đề án cánh đồng có giá trị tăng thêm 25 triệu/ha/năm hiệu quả ở 1 ấp
năm 2011 và nhân rộng có hiệu quả 4/5 ấp còn lại, đến nay giá trị tăng thêm đạt
45-50 triệu đồng/ha/năm. Từ vụ đông xuân năm 2014 đến nay áp dụng “quy
trình canh tác cây lúa nước hiệu quả bền vững, chống biến đổi khí hậu, giảm
phát thải đạt hiệu quả cao”.
Cơ cấu cây trồng ở địa phương được đa dạng hóa giống cây trồng như:
lúa, rau, cải xanh, các loại củ quả (bầu, bí, mướp), rau ngót... đem lại hiêu quả

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 6

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

kinh tế cao. Thu nhập bình quân trên đất sản xuất nông nghiệp 200 – 250 triệu
đồng/ha/năm, giúp người dân ổn định cuộc sống. Góp phần xóa đói giảm nghèo,
đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn xã.
Do những ảnh hưởng về diễn biến của thời tiết, thiên tai dịch bên bất
thường, chịu tác động mạnh của nền kinh tế thị trường làm cho nông sản sản
xuất tại xã khó tiêu thụ và giá bán thấp, nên hiệu quả sản xuất nông nghiệp
không cao, tỷ lệ hộ khá – giàu chưa nhiều và sự phân hóa giàu nghèo ngày một
sâu sắc hơn, đôi lúc một số loại rau màu như: các loại cải, rau ngót.. không thể
tiêu thụ được trên thị trường, nhiều hộ gia đình sản xuất không hiệu quả dẫn đến
mất khả năng chi trả tiền vay ngân hàng trở thành hộ nghèo. Bằng đường lối đổi
mới, kinh tế hộ nông nghiệp; cấp ủy, chính quyền địa phương đã lãnh đạo người
dân trên địa bàn xã áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, chuyển đổi
giống cây trồng, sử dụng hợp lý nguồn đất sản xuất nông nghiệp, nước tưới tiêu
cho cây trồng, đặc biệt với trình độ sản xuất của người dân đã vươn lên làm
giàu.
Xã Phước Vân với phù sa bồi đáp của 2 con sông Trị yên và sông Đôi ma,
nên trồng trọt thích hợp với cây lúa và rau màu, được người dân trên địa bàn tận
dụng thế mạnh để sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt cây lúa vẫn chủ đạo trong sản
xuất nông nghiệp của xã từ năm 2011 đến nay và đạt năng suất cao. Do những
ảnh hưởng về diễn biến của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh bất thường, giá cả thị
trường nên các cây trồng diễn biến về diện tích - năng suất – sản lượng trên địa
bàn xã cụ thể như sau:
+ Đối với cây lúa:
Trong thời gian qua, địa phương có sự tập trung chỉ đạo, rà soát, quy
hoạch, bố trí lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung,
phát huy tiềm năng, lợi thế riêng hiện có của xã; đẩy mạnh chuyển giao, ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, mạnh dạng chuyển đổi giống lúa theo
hướng có giá trị tăng cao. Nông dân sử dụng cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi
hóa, hóa học hóa, đưa máy cày, máy trục, máy giặt đập liên hợp vào quá trình
gieo xạ và thu hoạch, thay cho việc cày bằng trâu bò và sức người, với hệ thống
kênh mươn nội đồng được nâng cấp và mở rộng thêm nhiều tuyến kênh mươn đã
làm giảm được chi phí trong quá trình sản xuất, năng suất lao động trong trồng
lúa tăng lên đáng kể. Mặt khác, theo chủ trương của cấp ủy, chính quyền địa
phương từ năm 2011 nông dân áp dụng mô hình “3 giảm, 3 tăng” trong sản suất
cây lúa, đến năm 2014 áp dụng “quy trình sản xuất canh tác cây lúa nước hiệu
quả bền vững, chống biến đổi khí hậu, giảm phát thải”. Từ đó, người nông dân
chuyển sang mô hình “1 phải, 5 giảm” rồi sang mô hình “1 phải 6 giảm”, người

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 7

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

nông dân được cán bộ khuyến nông xã và các công ty liên kết giới thiệu hướng
dẫn người dân chuyển đổi sang các giống lúa có năng suất cao như: OM 4900,
NH 09, RVT, OM 7347, ... từ năng suất bình quân năm 2011 là 7,5 tấn/ha/năm
đến năm 2015 tăng lên là 11,5 tấn/ha/năm. Đặc biệt có gần 100 ha diện tích trồng
lúa thêm vụ 3 năng suất bình quân 7-8 tấn/vụ/ha; với năng suất đạt được góp
phần ổn định lương thực cho người dân tại địa phương và thu nhập cao trong sản
xuất cây lúa.

Ảnh minh họa: sản xuất lúa theo mô hình “1 phải, 6 giảm” - ấp 1 Phước Vân
Mạnh dạng trong quá trình chuyển đổi giống lúa phù hợp với biến đổi khí
hậu, tăng năng suất; cấp ủy, Chính quyền địa phương còn kết hợp với Trung tâm
Khuyến Nông huyện mở hàng năm từ 4-5 lớp tập huấn hướng dẫn nông dân gieo
xạ lúa đúng lúc, đúng cách, đúng thời vụ, áp dụng những tiến bộ về khoa học,
kỹ thuật mới vào sản xuất. Các giống lúa chất lượng cao ngày càng được nâng
lên đáp ứng được nhu cầu thị trường như: OM 4900, NH 09, RVT, OM 7347.
Hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu đúng lúc, đúng thời điểm,
đúng cách nhằm đảm bảo không để dư lượng thuốc hoặc phân bón hóa học trên
mức cho phép trong sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo cung ứng hàng hóa có chất
lượng và an toàn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 8

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Ảnh minh họa: Nông dân học tập mô hình trồng lúa chất lượng cao, theo
“quy trình sản xuất canh tác cây lúa nước hiệu quả bền vững, chống biến đổi khí
hậu, giảm phát thải” - ấp 1 xã Phước Vân
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên trong sản xuất lúa đa số
người dân sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng mang
lại hiệu quả năng suất cao. Ngoài việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ
thực vật, người nông dân áp dụng “quy trình sản xuất canh tác cây lúa nước
hiệu quả bền vững, chống biến đổi khí hậu, giảm phát thải” đảm bảo được chất
lượng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong mức cho phép sau khi thu hoạch.
Các tổ chức đoàn thể phối hợp trung tâm khuyến nông Huyện tổ chức nhiều mô
hình về xử lý bao bì các loại thuốc bảo vệ thực vật trong đó có mô hình thực hiện
khá hiệu quả, được nhân rộng và tiếp tục thực hiện như mô hình “thu gom vỏ
chai thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng”. Từ đó nâng cao được nhận thức
của người dân trong việc sau sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường
sinh thái.

Ảnh minh họa: Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân
Sau khi thu hoạch lúa, rơm, rạ phần lớn được được các thương lái mua và
sử dụng máy cuộn rơm để cuộn rơm, rạ trên đồng ruồng, đồng thời làm thức ăn
cho trâu, bò và làm phế phẩm sinh học trong việc trồng rau màu tại địa phương,
góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng độ phì nhiêu cho đất nông nghiệp,
đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững trên địa bàn cơ bản không còn hiện
tượng đốt hoặc xả bừa bãi rơm, rạ trên đường giao thông, công trình thủy lợi.
Hệ thống đường giao thông nông thôn được nâng cấp, mở rộng thông
thoáng nên việc sử dụng xe cơ giới chuyên chở những vật phẩm nông nghiệp,
giải phóng được sức lao động của người dân, tăng năng suất trong sản xuất nông
nghiệp, vận chuyển và trao đổi hàng hóa trong lưu thông. Từ đó, góp phần thắng
lợi của Nghị quyết Đảng ủy xã về phát triển kinh tế ở địa phương, tăng thu nhập,
cải thiện đời sống của người dân, đảm bảo an sinh xã hội và tạo đươc lòng tin
của người dân vào Chính quyền địa phương.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 9

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Trên cơ sở thực trạng và yêu cầu phát triển theo Chương trình quốc gia
xây dựng nông thôn mới, xã thực hiện công tác lập đề án với mục tiêu chung xây
dựng nông thôn mới trong đó có mục tiêu phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập
cho người dân. Đặc biệt giai đoạn từ năm 2012 – 2014 xã đăng ký xây dựng
nông thôn mới, việc quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, quá trình đô
thị hóa tăng nhanh, chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành có sự biến đổi nhanh
chóng, diện tích đất trồng lúa giảm theo hàng năm, năm 2011 diện tích đất trồng
lúa 890 ha đến năm 2015 diện tích đất trồng lúa còn 720 ha. Tuy nhiên, năng
suất, sản lượng điều tăng lên hàng năm, năm 2011 đạt năng suất 7,5 tấn/ha/năm
đến năm 2015 đạt năng suất 11,5 tấn/ha/năm (diện tích, năng suất, sản lượng
được thống kê tại phụ lục 1). Đạt được những kết quả như vậy là do đẩy mạnh
chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, mạnh dạng chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng cơ giới hóa vào trong sản xuất và lưu thông hàng
hóa. Hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định; môi
trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và
tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.
Phụ lục 1
Năm
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Năng suất (tấn/ha)

2011
890
6675
7,5

2012
820
6396
7,8

2013
760
6460
8,5

2014
740
7030
9,5

2015
720
8280
11,5

+ Đối với rau màu
Bên cạnh việc sản xuất lúa thì việc trồng rau màu cũng phát triển mạnh
đặc biệt là sản xuất rau an toàn đem lại thu nhập cao cho người dân, hiệu quả cao
gấp 4 lần so với trồng lúa. Diện tích rau màu ngày càng tăng, năm 2011 diện tích
trồng rau màu là 87 ha, đến năm 2015 diện tích tăng lên 120 ha, sản lượng
117.720 tấn/1 năm (trong đó diện tích rau an toàn là 9,7 ha sản lượng 10.476
tấn/1 năm). Việc trồng rau màu an toàn đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ
nông dân, tăng thu nhập, thu nhập bình quân từ 200 – 250 triệu/ ha/năm. Hiện
nay xã có 01 hợp tác xã rau an toàn Phước Hoà và 04 tổ hợp tác trong sản xuất
rau màu.
Trong 2 năm gần đây, với sự tác động của nền kinh tế thị trường, sản phẩm
rau màu ở địa phương phải chịu cạnh tranh rất lớn từ các thị trường, mặc dù
được sự quan tâm của các ngành, các cấp về việc thực hiện sản xuất rau an toàn
như thành lập tổ sản xuất, tổ hợp tác và tập trung tập huấn kiến thức rau an
toàn... nhưng việc bao tiêu sản phẩm vẫn chưa ổn định, giá còn phụ thuộc vào
thương lái. Trồng rau đem lại giá trị sản lượng và thu nhập cao cho nông dân,
chính vì nhờ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chăm sóc đúng cách, đúng thời

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 10

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

điểm và sử dụng phân bón hợp lý đã đem lại hiệu quả cao cho bà con nông dân.
Cụ thể kết quả các loại rau màu được trồng như sau:
* Rau xanh tổng hợp: gồm các loại như: cải xanh, cải ngọt, cải xà lách,
rau muống, hẹ lá, rau ngót…Diện tích sản xuất rau cải hàng năm được tăng lên,
sản lượng năm 2015 đạt 95.500 tấn/năm, tức đạt 915 tấn/ha. Đây là loại cây
trồng có hiệu quả kinh tế cao gấp 4 lần so với trồng lúa và đây cũng là thế mạnh
đang được tiếp tục quy hoạch diện tích sử dụng trồng rau cải với quy mô lớn.
Trong quá trình sản xuất người nông dân cũng thực hiện cơ giới hóa, điện khí
hóa, thủy lợi hóa vào quá trình sản xuất như sử dụng máy cày, máy kéo (xe công
nông) và cũng thay việc sử dụng máy bơm nước bằng mô tơ điện để giảm chi phí
và sức lao động của người dân. Do hệ thống kênh dẫn nước không còn phục vụ
tốt cho việc sản xuất nông nghiệp vào mùa khô nên nông dân chủ động khoan
giếng khai thác mạch nước ngầm để phục vụ nước tưới; kết hợp với việc ứng
dụng khoa học, kỹ thuật mới nhất như sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu đúng lúc,
đúng thời điểm, phù hợp với các loại rau xanh tạo ra năng suất chất lượng cao
đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hợp tác xã sản xuất rau an toàn Phước Hòa và các tổ hợp tác sản xuất đi
vào hoạt động có hiệu quả, hiện đang thực hiện các hợp đồng cung cấp sản phẩm
cho các siêu thị, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như các siêu
thị, các chợ nông sản trên địa bàn thành phố, góp phần bền vững việc giải quyết
nơi đầu ra sản phẩm cho người dân. Với chủ trương của cấp ủy, chính quyền địa
phương về sản xuất rau theo tiêu chuẩn Vietgap và sản xuất rau an toàn đã thu
hút người dân tham gia vào sản xuất rau an toàn, nâng cao giá trị sản phẩm và
giá cả có sức cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Đồng thời, Chính quyền địa
phương có chính sách hổ trợ cho vay vốn để người dân mạnh dạng đầu tư trang
thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho việc sản suất rau an toàn. Góp phần tăng thêm thu
nhập, cải thiện cuộc sống, giải quyết việc làm, tạo sự bền vững cho phát triển
kinh tế, từ đó kéo giảm tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã còn 36 hộ nghèo 1,3%. Từ
đó, góp phần thắng lợi Nghị quyết của Đảng ủy xã về phát triển kinh tế và các
chỉ tiêu xã dựng xã nông thôn mới và xã được công nhận nông thôn mới vào đầu
năm 2015.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 11

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Ảnh minh họa: các loại rau màu
Phụ lục 2
Năm

2011

2012

2013

2014

2015

75

80

87

96

104

Sản lượng (tấn)

63.625

71.840

78.300

87.000

95.000

Năng suất(tấn/ha)

847

898

900

906

915

Diện tích (ha)

* Rau quả: gồm các loại như: bầu, bí xanh, dưa leo, khổ qua, đu đủ,
gừng... Việc sản xuất rau màu ngoài việc sản xuất các loại rau xanh thì việc sản
xuất rau quả cũng góp phần quan trọng trong thu nhập của người dân ở địa
phương. Diện tích sản xuất rau quả còn ít nhưng năng suất đạt được rất cao và có
chiều hướng gia tăng về quy mô và diện tích (xem phụ lục 3).
Trong thời gian qua, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản
xuất, người dân được tập huấn về cách làm giàn để trồng các loại rau quả phù
hợp với từng loại, kỹ thuật canh tác cải tiến và ứng dụng một số giống mới có
giá trị kinh tế cao làm cho năng suất các loại rau quả được nâng lên. Năm 2011
sản lượng đạt được từ rau quả là 11.400 tấn/ha đến năm 2015 đạt 19.200 tấn/ha.
Trước nhu cầu của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm ngày càng nâng lên,
chính quyền địa phương cùng các ngành chức năng đã chú trọng trong việc sản
xuất rau, quả an toàn đảm bảo chất lượng đáp ứng như cầu cho người tiêu dùng,
bảo vệ sức khỏe cho người dân và giảm thiểu tác hại đối với môi trường góp
phần phát triển bền vững địa phương.

Giàn mướp, bí có hiệu quả năng suất cao
Với chủ trương, áp dụng khoa học vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, Hội nông dân xã phối kết hợp với

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 12

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

trạm khuyến nông Huyện và các tổ chức có liên quan, tổ chức các lớp tập huấn
chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân. Đến nay đã tổ chức 03 lớp tập
huấn Vietgap trên rau màu có 108 người tham dự và thường xuyên mở các lớp
học về cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, quy trình bón phân đạm hóa học để
người dân nắm vững cách thức sử dụng. Thuốc bảo vệ thực vật chỉ dùng thuốc
trừ sâu sinh học, thuốc hoá học được cho phép sử dụng trên rau quả, đảm bảo
thời gian cách ly hợp lý và theo nguyên tắc 4 đúng. Từ đó làm giảm thiểu tác hại
đối với môi trường trong quá trình sử dụng, góp phần bảo vệ môi trường xanh,
sạch.
Phụ lục 3
Năm
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Năng suất (tấn/ha)

2011
12
11.400
950

2012
12,5
12.338
987

2013
14
14.980
1070

2014
15,5
17.360
1120

2015
16
19.200
1200

- Về chăn nuôi
+ Đối với gia súc
Chăn nuôi gia súc ở địa phương mới phát triển và tăng số lượng, quy mô
chăn nuôi ở những năm gần đây chủ yếu là chăn nuôi heo và bò. Hiện trên địa
bàn xã có 190 hộ chăn nuôi quy mô gia đình, 2 trang trại chăn nuôi heo tập trung
với quy mô nhỏ với số lượng 100 đến 200 con. Tổng số đàn gia súc ở địa phương
tăng theo hàng năm, với năm 2011 có 980 con (trong đó có 50 con) đến năm
2015 có 1.950 con (trong đó có 200 con bò).
Đẩy mạnh việc phát triển kinh tế trong nông nghiệp, Hội nông dân xã kết
hợp với các ngành chức năng tổ chức các lớp học chuyển giao kỷ thuật chăn
nuôi, chọn con giống cho người dân, đặc biệt là lớp học kỷ thuật chăn nuôi bò.
Từ đó người dân bằng những kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi và sự hổ trợ vốn
từ Hội nông dân xã đã mạnh dạng đầu tư để chăn nuôi con bò và đạt giá trị kinh
tế cao. Cụ thể ở địa phương từ năm 2011 có 50 con đến năm 2015 có 200 con,
lợi nhuận từ việc chăn nuôi bò từ 80 – 100 triệu/năm/hộ gia đình.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 13

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Ảnh minh họa: Bò, heo
Việc phát triển chăn nuôi gắn với đảm bảo vệ sinh môi trường, chính
quyền địa phương có chương hổ trợ vay vốn cho từng hộ dân chăn nuôi xây
dựng hầm biogas và lắp đặt hệ thống sử dụng khí thải làm khí đốt trong sinh hoạt
hàng ngày. Thực hiện tốt mô hình “vườn, ao, chuồng” để phát triển kinh tế gia
đình và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại
hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm 25% và các hộ dân chăn nuôi thực hiện cam kết về
bảo vệ môi trường và dần dần khắc phục chuồng trại hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn.
Thu nhập kinh tế từ việc chăn nuôi gia súc cũng khá cao đảm bảo nhu cầu cuộc
sống và có lãi trong quá trình chăn nuôi.
+ Đối với gia cầm: quy mô chăn nuôi gia cầm ở địa phương với số lượng
nhỏ, chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình. Hiện nay đàn gia cầm (gà, vịt) ở địa
phương với số lượng 20.000 con và ổn định qua các năm về số lượng.
Trong chăn nuôi các hộ dân đã áp dụng khoa học kỷ thuật từ khâu chọn
con giống đến việc chọn thức ăn đảm bảo dinh dưỡng cho từng loại gia cầm.
Thường xuyên vệ sinh chuồng, trại, sát trùng định kỳ hàng tuần, tháng, tiêm
phòng vắc xin, đảm bảo vệ sinh môi trường.

Ảnh minh họa: Đàn gà, đàn vịt
Hằng năm, chính quyền địa phương kết hợp các ngành chuyên môn thú y
Huyện mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức trong chăn nuôi đối với (bò, gà,
vịt) cho người dân. Thường xuyên nắm tình hình dịch bệnh trên các đàn gia súc,
gia cầm, cán bộ thú ý kết hợp với Ban ấp đến từng hộ gia đình cung cấp thuốc và
hướng dẫn nhân dân phung xịch thuốc xác trùng, tiêm ngừa H5N1 trên gia cầm,
tiêm ngừa bệnh tai xanh, viêm cầu lợn trên heo, bệnh lỡ mồm long móng trên

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 14

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

đàn trâu bò kịp thời không để dịch bệnh xảy ra trên địa bàn. Đồng thời hướng
dẫn người dân áp dụng các công nghệ sinh học xử lý chất thải trong chăn nuôi,
làm phân bón hữu cơ trong sản xuất rau màu, làm tăng hiệu quả kinh tế, góp
phần bảo vệ môi trường sinh thái.
2.2.1.2. Nguyên nhân kết quả đạt được
- Nguyên nhân khách quan:
Một là, đường lối đổi mới đúng đắng của Đảng ta ngày càng được khẳng
định, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng
được hoàn thiện và phù hợp vói đời sống xã hội.
Hai là, Nghị quyết đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2010 – 2015 phù hợp sát
với tình hình thực tế, có sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của cấp trên và sự hổ trợ
đắc lực của các ngành, đoàn thể cấp trên và sự đồng thuận của nhân dân.
Ba là, chủ trương xây dựng nông thôn mới đúng đắn hợp lòng dân, có sự
hổ trợ tích cực của cấp trên về xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kỹ thuật
tại địa phương. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, lại được Nhà
nước hỗ trợ chính sách dạy nghề, chủ trương phát triển kinh tế địa phương hợp lý
đã góp phần tích cực tạo công ăn, việc làm ổn định đời sống, tăng thu nhập cho
người dân.
- Nguyên nhân chủ quan:
Một là, Đảng bộ đoàn kết thống nhất, phát huy sức mạnh của cả hệ thống
chính trị, đồng thời chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc của Đảng, sự chỉ đạo
của cấp trên. Đề ra những chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế thực hiện sát
với thực tế ở địa phương.
Hai là, phát huy tinh thần sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực
hiện, có sự tập trung xây dựng chương trong kế hoạch, điều hành thực hiện
nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền địa phương. Kịp thời giải quyết những phát
sinh vướng mắc trong nội bộ và trong nhân dân, khai thác nguồn lực trong nhân
dân và tranh thủ kịp thời sự đầu tư của cấp trên, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa
các cấp chính quyền về áp dụng khoa học kỷ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất
nông nghiệp, nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí trong sản
xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Ba là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, đầu tư xây
dựng mở rộng các tuyến đường giao thông nông thôn (nhà nước và nhân dân
cùng làm) được sự đồng thuận cao của nhân dân, tạo bước đột phá trong sản
xuất, lưu thông hàng hóa, kích thích người dân sáng tạo nhiều mô hình hay có
hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 15

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Bốn là, đề ra những mô hình thực hiện có hiệu quả trong sản xuất nông
nghiệp, sơ, tổng kết rút kinh nghiệm các mô hình có hiệu quả, từ đó nhân rộng
những mô hình tiên tiến có hiệu quả trên toàn địa bàn xã. Kịp thời khen thưởng,
nêu gương nhân điển hình tiên tiến những hộ gia đình, cá nhân có mô hình hay,
làm ăn phát triển kinh tế có hiệu quả.
2.2.2.Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế
- Những tồn tại, hạn chế: Mặc dù Đảng ủy, chính quyền địa phương đề ra
các chủ trương, biện pháp, kế hoạch hóa sát thực tế phù hợp với địa phương,
thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2010-2015. Bên
cạnh những thành tựu đạt được còn những tồn tại, hạn chế như sau:
Thứ nhất, việc quản lý, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp còn nhiều hạn
chế, chưa quy hoạch được các vùng chuyên sản xuất nông nghiệp, tốc độ đô thị
ngày càng nhanh, dân số gia tăng nhanh diện tích đất sử dụng để ở ngày càng gia
tăng làm thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp. Ngoài ra, công tác quản lý đất
đai của cán bộ địa chính còn lỏng lẻo, hiện tượng lên nền trái phép, dùng đất
nông nghiệp để xây dựng nhà ở còn nhiều chưa kiên quyết xử lý. Việc quy hoạch
các dự án khu công nghiệp chưa hợp lý ngày càng nhiều, không triển khai thực
hiện được các dự án khu công nghiệp hoặc triển khai chậm dẫn đến hiện tượng
đất nông nghiệp bị lãng phí, bỏ hoang không sử dụng sản xuất làm nền nông
nghiệp ở địa phương còn chạm phát triển. Chưa quy hoạch được vùng chuyên
canh cây lúa và cây rau màu.
Thứ hai, chính sách hổ trợ vốn cho người nông dân để đầu tư sản xuất còn
hạn chế, chưa đáp ứng được nguồn vốn mà người nông dân cần hổ trợ để sản
xuất. Các ngân hàng chính sách tổ chức cho người dân vay vốn để sản xuất giao
động từ 20 – 50 triệu đồng/ hộ gia đình, mà nhu cầu vốn để áp dụng khoa học kỹ
thuật và đầu tư công nghiệp vào sản xuất lên đến 200 – 300 triệu đồng để đầu tư
một quá trình sản xuất, nên người dân không có vốn để đầu tư. Ngoài ra, các dự
án cho vay của nhà nước với nguồn vốn lớn, nếu tiếp cận được dự án này thì
phải có dự án sản xuất quy mô lớn mà người nông dân ở địa phương chủ yếu sản
xuất hộ gia đình nhỏ lẻ nên khó tiếp cận được nguồn vốn. Từ việc người nông
dân thiếu hụt vốn đầu tư khoa học kỹ thuật, công nghệ vào trong sản xuất nên
dẫn đến năng xuất, chất lượng sản phẩm khó cạnh tranh trên thị trường hiện này
làm cho đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Thứ ba, cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch còn chậm,
thiếu bền vững. Ngành trồng trọt ở địa phương chiếm tỉ trọng lớn, còn ngành
chăn nuôi chiếm tỉ trọng nhỏ, chưa phát huy được thế mạnh ở địa phương về sản
xuất rau màu đảm bảo an toàn có giá trị kinh tế cao. Chưa xây dựng được các cơ

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 16

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

sở chế biến các loại nông sản, đa số các loại nông sản chưa qua chế biến đem ra
thị trường tiêu thụ, nên giá trị các loại nông sản còn thấp, lợi nhuận của người
dân trong quá trình sản xuất chưa đảm bảo. Mặt khác, ở địa phương có 1 hợp tác
xã và 4 tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên quy mô còn nhỏ chưa đáp
ứng được việc thu mua tất cả nông sản của người dân trên địa bàn.
Thứ tư, việc áp dụng những thành tựu khoa học kỷ thuật, công nghệ cao
vào sản xuất còn chậm, đa số người dân với tâm lý thiếu hiểu biết về khoa học
nên sản xuất theo cách truyền thống nên năng suất không cao. Hầu hết các loại
cây trồng vật nuôi ở địa phương năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh
thấp. Việc chuyển dịch con giống, cây trồng, vật nuôi vào sản xuất được đẩy
mạnh và có hiệu quả cao nhưng so với xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay còn chậm.
Thứ năm, việc vệ sinh đồng ruộng sau khi thu hoạch, người nông dân đốt
rơm, rạ nên xảy ra hiện tượng cháy vào mùa khô, làm ô nhiểm môi trường khí
quyển, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Tình trạng lạm dụng phân hóa học,
thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt và chất thải chăn nuôi (bò, heo, gà công
nghiệp) và bụi đất cát của các công trường xây dựng, làm đường giao thông, san
lấp mặt bằng,… đe dọa đời sống người dân và ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp.
Thứ sáu, do ảnh hưởng về diễn biến của thời tiết, hiện tượng nắng nóng,
mùa nắng kéo dài, mùa mưa giảm theo hàng năm, hiện tượng xâm nhập mặn của
nước biển, làm cho đất đai bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, bạc màu, khó sản xuất
nông nghiệp. Lượng nước không đủ để đáp ứng sản xuất nông nghiệp vào mùa
khô. Thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra người nông dân khó có thể phòng tránh
làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp.
Thứ bảy, nguồn lao động phục vụ trong sản xuất nông nghiệp giảm dần
theo hàng năm, lao động ở địa phương chuyển dịch sang công nghiệp, một số lao
động không có tay nghề, không có việc làm, làm cho đội ngủ lao động trong
nông nghiệp thiếu ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cũng như tăng quy mô sản
xuất. Cần có chính sách hổ trợ dạy nghề trong sản xuất nông nghiệp, mạnh dạng
áp dụng khoa học kỷ thuật hiện đại, sử dụng máy móc thay thế dần sức lao động
của con người để phát triển nông nghiệp được bền vững trong thời gian tới.
Thứ tám, giá cả hàng hóa nông sản biến động thất thường, phụ thuộc và
các tiểu thương thu mua, chưa có cơ chế bảo trợ giá của Nhà nước đối với các
mặt hàng nông sản của người dân. Trong khi đó, giá cả các nguyên liệu đầu vào
như thức ăn giá súc, gia cầm, các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho rau

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 17

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

màu liên tục gia tăng, làm cho người nông dân rất khó khăn về sản phẩm đầu ra
trên thị trường.
Thứ chín, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển trồng trọt tuy đã
được cải thiện song vẫn còn không ít bất cập. Trong đó, đáng kể nhất là: các
kênh dẫn nước vào đồng ruộng còn sạt lở, chưa nạo vét kịp thời, hiện tượng
khô hạn vào mùa khô không có nước dẫn vào đồng ruộng để sản xuất. Vấn đề
ô nhiễm chất thải trong nông nghiệp đang báo động mức cao, nguy cơ cạn kiệt
tài nguyên nước ngầm do khai thác quá ngưỡng cho phép đã và đang tiếp tục xảy
ra khá phổ biến.
Thứ mười, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến nông, đã từng
bước được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ nhưng vẫn còn hạn chế
kinh nghiệm trong sản xuất và kỷ năng tuyên truyền cho người dân hiểu rõ và áp
áp dụng những ứng dụng khoa học mới vào sản xuất là chưa cao. Kỹ năng lãnh
đạo điều hành của chính quyền địa phương một số mặt chưa kịp thời với yêu cầu
nhiệm vụ chính trị địa phương, công tác vận động tập hợp quần chúng còn nhiều
hạn chế. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên và kịp thời.
- Nguyên nhân hạn chế
Một là, sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán từng hộ gia đình thiếu tập
trung, chưa quy hoạch được vùng chuyên canh sản xuất cây lúa và cây rau màu.
Vốn hổ trợ cho vay của Nhà nước chưa tương xứng và đáp ứng được nhu cầu
đầu tư sản xuất của người nông dân. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
còn tự phát chưa gắn với sản xuất hàng hóa với nhu cầu của thị trường, chất
lượng nông sản có sức cạnh tranh thấp.
Hai là, tình hình thời tiết diễn biến bất thường, hiện tượng nắng nóng kéo
dài, mùa mưa giảm dần theo hàng năm, hiện tượng xâm nhập mặn của nước
biển, làm cho đất đai bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, bạc màu, khó sản xuất nông
nghiệp. Lượng nước không đủ để đáp ứng sản xuất nông nghiệp vào mùa khô,
thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra khó có thể dự báo và phòng tránh.
Ba là, Nhà nước chưa có cơ chế chính sách bảo trợ giá cho người dân,
mức thu nhập từ sản xuất nông nghiệp chưa ổn định so với các ngành công
nghiệp, thương mại, dịch vụ. Đa số người nông dân ở địa phương là những người
trong độ tuổi lao động dân số già, trình độ còn hạn chế nên quá trình chuyển giao
khoa học công nghệ trong sản xuất khó tiếp thu và thực hiện.
Bốn là, trình độ quản lý của Nhà nước ở địa phương còn hạn chế, đặc biệt
là việc chuyển giao khoa học kỷ thuật của đội ngủ cán bộ làm công tác chuyên
môn thiếu hiểu biết về thực tiển và chưa chuyên nghiệp trong công tác triển khai
để người nông dân áp dụng đúng các quy trình sản xuất theo khoa học. Hợp tác

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 18

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

xã và tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả nhưng quy mô chưa lớn để đáp ứng nhu
cầu thu mua nông sản của người nông dân.
3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Phương hướng phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã
giai đoạn 2015 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Lãnh đạo phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyên canh cây trồng có năng
xuất mang lại hiệu quả cao, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi. Phấn
đấu giữ diện tích sản xuất lúa là 710 ha, năng suất bình quân đạt 12 tấn/ha/năm,
xây dựng cánh đồng lúa chống biến đổi khí hậu, hiệu quả bền vững, giảm phát
thải 5/5 ấp, phát huy nhân rộng các mô hình cánh đồng có giá trị tăng thêm từ 40
- 50 triệu đồng/ha/năm. Phấn đầu đàn gia súc đạt 3.000 con và đàn gia cầm
50.000 con. Xây dựng thương nghiệp nông sản cho nông dân, có chính sách bảo
trợ giá cho người dân, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá đảm bảo đầu ra cho
hàng hoá nông nghiệp.
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 26-NQ/TW, Chương
trình hành động số 21 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 47-NQ/HU về nông nghiệp,
nông dân và nông thôn. Hình thành rõ các vùng sản xuất chuyên canh cây lúa và
rau màu, đặc biệt là rau an toàn. Phát huy lợi thế, tiềm năng, huy động vốn ngoài
ngân sách để tạo bước đột phá tăng tốc đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cấp các công trình phục vụ sản xuất
trồng trọt như: kênh thủy lợi nội đồng, làm đường giao thông, đưa cơ giới hóa
vào nông nghiệp… đảm bảo tốt các vấn đề về môi trường và vấn đề an sinh xã
hội. Chú trọng công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển các mô hình chăn
nuôi kết hợp trồng trọt, bảo vệ môi trường sinh thái ở nông thôn.
Phát huy hơn nữa thế mạnh của xã Phước Vân về trồng rau an toàn đảm bảo
đúng tiêu chuẩn, kỷ thuật, năng suất và chất lượng, trong tương lai có thể cạnh tranh
với các mặt hàng nông sản của các nước trên thị trường.
3.2. Giải pháp cho phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã
trong thời gian tới
Phát triển nền nông nghiệp toàn diện và bền vững, tạo ra bước đột phá
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, gia tăng giá trị sản lượng, nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các nông sản. Để đạt
được mục tiêu đó cần tập trung các giải pháp sau:
3.2.1. Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững về kinh tế
- Một là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong
việc phát triển nông nghiệp tại địa phương

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 19

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Tập trung tuyên truyền nhân dân nắm rõ các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, tuyên truyền vận động để bản
thân người nông dân nhận thức được rằng: con đường tất yếu của các hộ nông
dân là liên kết, hợp tác với nhau trong quy trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm để
sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và tăng sức cạnh tranh trên
thị trường. Từ đó, phải học tập để nâng cao trình độ khoa học công nghệ, thông
tin và trình độ sản xuất.
- Hai là, làm tốt công tác quản lý sử dụng đất đai, quản lý tài nguyên
thiên nhiên
Việc quy hoạch, quản lý việc sử dụng đất nông nghiệp còn nhiều bất cập,
không phù hợp với thế mạnh nông nghiệp tại địa phương, Chính quyền địa
phương cần có kế hoạch đề nghị cơ quan cấp trên có thẩm quyền lập lại quy
hoạch sử dụng toàn bộ diện tích trên địa bàn cho phù hợp.
Quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất cây lúa và rau màu để thuận lợi
cho việc áp đầu tư, xây dựng các công trình sản xuất nông nghiệp với quy mô
lớn, sản xuất đồng loạt giảm chí phí vận chuyển, ngăn ngừa được dịch bênh trên
cây trồng vật nuôi. Từ đó, giảm chi phí sản xuất nâng cao sản lượng, tăng lợi
nhuận trong quá trình sản xuất.
Đổi mới cơ chế, chính sách để huy động mạnh nguồn lực đất đai vào phát
triển hạ tầng. Có chính sách phù hợp thu hồi đất để tạo vốn hỗ trợ cho xây dựng
công trình hạ tầng, thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án kinh
doanh. Nhà nước có thể thực hiện chính sách giao đất không thu tiền đối với diện
tích xây dựng cơ sở hạ tầng do nhà đầu tư trúng thầu. Hỗ trợ nhà đầu tư một
phần vốn đầu tư dự án bằng tiền hoặc vật tư cũng như thực hiện miễn thuế thu
nhập doanh nghiệp.
Quản lý tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, mạch nước
ngầm… khai thác một cách có hiệu quả, tránh khai thác quá mức làm cạn kiệt
nguồn nước, đất bị bạc màu, cằng cỏi thiếu chất dinh, gây ô nhiễm môi trường,
làm ảnh hưởng môi trường sinh thái.
- Ba là, Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi về vốn để khuyến
khích đầu tư cho sản xuất nông nghiệp
Vồn đầu tư được xem là “động lực” của sự phát triển trên tất cả các mặt
đời sống xã hội nói chung và phát triện nông nghiệp nói riêng. Ngành sản xuất
nông nghiệp ở địa phương hiện đang rất cần các chính sách ưu đãi về vốn của
nhà nước để người nông dân tập trung đầu tư sản xuất. Với tinh thần là tập trung
phát huy “nội lực” để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, song vẫn khơi dậy sức
thu hút vốn được coi là từ “ngoại lực” cũng đóng vai trò quan trọng.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 20

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Nhà nước cần có chính sách đầu tư hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp phải
triệt để gắn với quy hoạch phát triển nông nghiệp cụ thể từng loại cây trồng, vật
nuôi tại địa phương. Trong đó, nếu người nông dân sản xuất theo kiểu phong
trào, tự phát, không tuân thủ theo quy hoạch của Nhà nước ở địa phương thì sẽ
không được hưởng các chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay nói
chung và ở địa phương nói riêng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, tác động rất lớn đối với việc trao đổi mua bán hàng hóa trên thị trường,
đặc biệt là hàng hóa các loại nông sản của người nông dân, sức cạnh tranh yếu,
giá cả bấp bênh phụ thuộc vào thương lái. Vì vậy, Nhà nước có chính sách sách
bảo trợ giá cho người nông dân bằng việc can thiệp vào thị trường bình ổn giá
nông sản của người nông dân. Mặt khác, việc sản xuất nông nghiệp do thiên tai,
địch họa tác động không thể lường trước được nên người nông dân có nguy cơ
“mất trắng” trong quá trình sản xuất vì thế Nhà nước nên mạnh dạng thực hiện
chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp ở địa phương. Có chính sách khuyến
khích, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển nhanh, hiệu quả và vững chắc kinh tế
hợp tác, hợp tác xã.
- Bốn là, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, với
các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và giữ vững danh hiệu xã nông thôn mới
trong giai đoạn hiện nay là đặc biệt chú trọng tới kết cấu hạ tầng nông thông.
Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là nhân tố đặc biệt quan trọng, là
khâu then chốt để thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
để thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng. Vì vậy,
với chủ trương của cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác làm
đường giao thông nông thôn theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm
được nhân dân đồng tình ủng hộ. Các tuyến đường tỉnh lộ, liên xã được nhựa
hóa, các tuyến đường vào khu vực dân cư được bê tông hóa, hóa trãi đá không
lậy lội vào mùa mưa. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay tốc độ phát triển của
khoa học kỷ thuật ngày càng cao, nền kinh tế ở địa phương dần dần biến đổi và
phát triển, thực hiện cơ giới hóa vào trong sản xuất nông nghiệp và vận chuyển
hàng hóa, đồi hỏi hệ thống đường giao thông nông thôn, thông thoáng đảm bảo
cơ giới đi lại, trao đổi mua bán hàng hóa. Chính vì thế chính quyền địa phương
cần tập trung hơn nữa các chính sách, kêu gọi mạnh thường quân ủng hộ tiếp tục
đầu tư mở rộng các tuyến đường giao thông nông thôn trên địa bàn xã.

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 21

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Hạ tầng giao thông được đảm bảo tạo điều kiện cần thiết cho sản xuất
cũng như lưu thông trong tiêu thụ sản phẩm hàng hoá nông nghiệp thì các yếu tố
hạ tầng giao thông cũng đồng thời là mở rộng thị trường hàng hoá và tăng cường
quan hệ giao lưu trong khu vực đặc biệt với vị trí là trung tâm vùng thượng của
Cần Đước và tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh nên có lợi thế rất quan trọng
trong trao đổi mua bán hàng hóa.
Sự phát triển của giao thông nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho thương
nghiệp phát triển, làm tăng đáng kể khối lượng hàng hoá và khả năng trao đổi.
Điều đó cho thấy những tác động có tính lan toả của cơ sở hạ tầng đóng vai trò
tích cực. Những tác động và ảnh hưởng của các yếu tố cơ sở hạ tầng giao thông
không chỉ thể hiện vai trò cầu nối giữa các giai đoạn và nền tảng cho sản xuất,
mà còn góp phần làm chuyển hoá và thay đổi tính chất nền kinh tế nông nghiệp,
nông thôn theo hướng phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh tế thị
trường.
Mặt khác, sự thiếu hụt nước tưới cho nông nghiệp vào mùa khô, ảnh
hướng rất lớn đến quá trình sản xuất của người nông dân, khi mùa khô kéo dài
không đủ nước tưới sản xuất, người nông dân không thể sản xuất dẫn đến cuộc
sống của người nông dân rất khó khăn, kéo theo tỉ lệ thất nghiệp không việc làm
trong ngành nông nghiệp ở địa phương tăng nhanh, vấn đề xã hội thật nan giải và
khó khăn. Từ tình hình đó, chính quyền địa phương có chính sách nạo vét các
kênh thủy lợi nội đồng, quy hoạch mở rộng các tuyến kênh dẫn nước vào đồng
ruộng. Do sự biến đổi khí hậu, hiện tượng xâm ngập mặn sâu vào đất sản xuất
nông nghiệp, Nhà nước cần có chính sách, giải pháp căng cơ trong việc xây
dựng các công trình, đê bao chống xâm nhâp mặn, mạnh dạng đầu tư trạm bom
phục vụ nước tưới cho việc sản xuất rau an toàn vào mùa khô, đem lại lợi nhuận
kinh tế rất cao để phát triển kinh tế ở địa phương.
Xây dựng cơ chế hỗ trợ đầu tư về hạ tầng hình thành các vùng nguyên liệu
tập trung gắn với chế biến nông sản tại địa phương; tăng cường công tác giám sát
cộng đồng đối với các công trình hạ tầng nông thôn, công tác theo dõi, kiểm tra,
thanh tra vốn Nhà nước.
- Năm là, Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển
nông nghiệp bền vững ở hiện tại và trong tương lai
Cần có chính sách thích hợp để khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp
đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đơn cử hiện nay trên địa bàn xã có các
chương trình hổ trợ kỷ thuật, con giống chất lượng cao cho người nông dân và
đang được đầu tư hướng dẫn nông dân các quy trình kỹ thuật để cho ra sản phẩm
có chất lượng và bao tiêu sản phẩm cho nông dân; đây là hướng đi rất thích hợp

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 22

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

cần phải tập trung tuyên truyền, vận động người nông dân tích cực tham gia; và
có thể xem đây là hình mẫu trong thực hiện “liên kết 4 nhà” để nhân rộng ra đối
với các cây trồng, vật nuôi mà địa phương có lợi thế.
Đồng thời, kêu gọi thêm vốn đầu tư từ “bên ngoài” vào đầu tư cho việc đổi
mới thiết bị và công nghệ, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm nông
sản xuất khẩu, nhân giống thương phẩm, công ty sản xuất – chế biến – tiêu thụ
nông sản (rau an toàn, gia súc, gia cầm…).
- Sáu là, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm
kinh tế từng khu vực, nâng cao lợi thế tiềm năng của từng vùng nhằm đem lại
hiểu quả kinh tế cao và bền vững
Do biến đổi của hiện khí hậu, thời tiết bất thường, thiên tai địch họa
thường xuyên xảy ra, đặc biệt là hiện tượng nắng nóng kéo dài và xâm nhập mặn
sâu vào đất liền hiện nay. Hiện tượng xâm nhập mặn là vấn đề quan tâm trên
toàn địa bàn tỉnh Long An nói chung và địa bàn xã Phước Vân nói riêng, việc sử
dụng các cây trồng, vật nuôi hiện nay chưa thích hợp với sự biến đổi của thời
tiết, khí hậu hiện nay đem lại năng suất thấp trong quá trình sản xuất.
Trước những tình hình trên, những công trình nghiên cứu khoa học - công
nghệ cần đặc biệt quan tâm tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi đưa vào sản
xuất nông nghiệp gồm các yếu tố thích hợp với điều kiện ở địa phương như sau:
+ Đối với cây lúa: chọn, lai tạo để có loại giống có khả năng chịu phèn,
chịu mặn, thích hợp với hiện tượng biến đổi khí hậu hiện nay, đặc biệt là các
giống lúa phải đảm bảo năng suất, chất lượng cao. Phấn đấu 100% diện tích gieo
trồng lúa bằng giống đã được xác nhận chất lượng và năng xuất.
+ Đối với các loại giống cây trồng, rau màu: tăng cường nghiên cứu các
loại giống cây trồng mới phù hợp với thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh áp
dụng khoa học, kỷ thuật lai ghép, tạo ra những giống có năng suất cao, chất
lượng tốt đảm bảo tiêu chuẩn về sản xuất rau màu an toàn. Cây trồng phù hợp
với điều kiện sinh thái, có khả năng chống chịu tốt với yếu tố môi trường và sâu
bệnh, đạt năng suất cao; đặc biệt là phải có chất lượng cao có khả năng cạnh
tranh tốt trên thị trường. Phấn đấu 100% diện tích sử dụng các giống rau có năng
suất, chất lượng cao, rau ôn đới chịu được các khí hậu khắc nghiệt như hiện nay,
thích hợp với điều kiện sinh thái ở địa bàn; từ đó nâng cao hiệu quả mô hình sản
xuất rau an toàn đem lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững tại địa phương.
+ Đối với vật nuôi: Các vật nuôi phải chọn được tổ hợp lai thích hợp: các
giống bò, heo đem lại chất lượng sản phẩm cạnh tranh trên thị trường, vịt siêu
thịt, siêu trứng,…
3.2.2. Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững về xã hội

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 23

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

- Một là, đào tạo nguồn nhân lực và hướng dẫn khoa học kỷ thuật vào
sản xuất
Thời gian qua, công tác đào tạo nghề lao động ở nông thôn, đặc biệt là đào
tạo việc làm ở ngành nông nghiệp đạt được nhiều kết quả, tỷ lệ lao động qua đào
tạo nghề ngày càng tăng. Cụ thể hàng năm hàng năm chính quyền địa phương
phối hợp với các ngành chức năng huyện, các cơ quan tổ chức đào tạo nghề mở 2
lớp trồng lúa kỷ thuật cao, 3 lớp chăn nuôi bò, heo, 4 lớp sản xuất rau màu an
toàn theo quy chuẩn Vietgap… đã giúp cho người nông dân nắm vững quy trình,
kỷ thuật sản xuất trên từng loại cây trồng, vật nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì nguồn lao động trực tiếp sản xuất ngành
nông nghiệp lại đang bị “già hóa” và xu hướng chuyển dịch lao động qua ngành
công nghiệp. Trong khi đó, phát triển nông nghiệp hàng hóa có năng suất, chất
lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao cũng như ứng dụng công nghệ cao vào sản
xuất lại cần có trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và được đào tạo về khoa học
kỹ thuật, vì vậy việc nâng cao trình độ, chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo
nghề trong ngành nông nghiệp ở địa phương là vấn đề hết sức quan trọng và cần
thiết, cụ thể như sau:
+ Tập trung phối kết hợp với Trung tâm khuyến nông, Chi cục Thú y, Chi
cục Bảo vệ thực vật, các tổ chức có liên quan…tổ chức mở các lớp đào tạo ngắn
hạn gắn với các mô hình làm ăn có hiệu quả để nhân dân học hỏi, đút kết kinh
nghiệm, đảm bảo ít nhất 80% người nông dân cập nhật kiến thức cơ bản về kỷ
thuật trồng trọt và chăn nuôi.
+ Đẩy mạnh mở các lớp chuyển giao khoa học kỷ thuật, quy trình sản xuất
hiện đại khoa học đến người nông dân và đảm bảo tỷ lệ người nông dân am hiểu
và áp dụng được những thành thành tựu khoa học kỷ thuật mới, tiên tiến vào sản
xuất trên 50%. Xây dựng các mô hình hay, làm ăn có hiệu quả trình diễn, mô
hình sản xuất rau an toàn, mô hình trồng lúa chất lượng cao, mô hình cơ giới hóa
trong sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch để người dân tham gia
học tập kinh nghiệm. Đào tạo bồi dưỡng kiến thức khoa học - kỹ thuật, thị
trường, quản lý, pháp luật cho các chủ trang trại và thường xuyên cập nhật
những tiến bộ khoa học, thị trường cho 90 – 95% chủ hộ sản xuất nông nghiệp.
+ Thường xuyên mở các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên
môn, phấn đấu đến năm 2020 ở địa phương có 1 cán bộ làm công tác chuyên
môn có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành trồng trọt và chăn nuôi, nâng
cao trình độ và kỷ năng truyền đạt kỷ thuật vào sản xuất của người cán bộ
chuyên môn phải vững về lý luận và thành thạo về thực tiễn.
- Hai là, tích cực tạo ra nhiều việc làm mới ở nông thôn

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 24

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn xã Phước Vân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Đẩy mạnh các mô hình chăn nuôi, trồng trọt tập trung quy mô lớn phát
triển nhằm tăng việc làm cho người lao động ở nông thôn và giảm bớt nguy cơ
phát sinh các vấn đề xã hội có liên quan. Phát triển tiểu thủ công nghiệp và các
làng nghề truyền thống, thành lập và phát triển các hiệp hội ngành nghề như hội
làm vườn, hội trồng cây cảnh,… phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích phát
triển các thành phần kinh tế, ưu tiên phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Ba là, thực hiện triệt để chủ trương dân số, kế hoạch hóa gia đình gắn
với chương trình xói đói, giảm nghèo của Chính phủ ở tại địa phương
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hóa gia đình mỗi
cặp vợ chồng chỉ có từ 1-2 con, thực hiện có hiệu quả mô hình xã không có
người sinh con thứ ba trở lên, nhất là cuối năm 2015 xã được trên công nhận xã
đạt thành tích 4 năm liền duy trì không có trường hợp sinh con thứ ba trở lên. Tỷ
lệ phát triển dân số giữ vững 1%. Chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản kế
hoạch hóa giá đình đạt hiệu quả thiết thực.
Thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách đối với người có công với
cách mạng. Tổ chức thăm viếng, tặng quà các gia đình chính sách gặp khó khăn,
gia đình nghèo nhân các ngày lễ, tết. Vận động nhà hảo tâm và cấp trên hỗ trợ
xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết cho các đối tượng
khó khăn về nhà ở.
Thực hiện có hiệu quả các giải pháp giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào
tạo nghề cho lao động nông thôn, hướng dẫn ứng dụng khoa học kỹ thuật trong
sản xuất, dự án vay vốn để giải quyết được nhu cầu việc làm, ổn định kinh tế cho
người dân tại địa phương.
3.2.3 Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững về môi trường
- Một là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường
Hiện nay, mức độ ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn có những
vấn đề nổi lên như ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
yếu kém. Việc sử dụng không hợp lý các loại hoá chất trong nông nghiệp (phân
hoá học và thuốc trừ sâu) đã và đang làm cho môi trường nông thôn ô nhiễm và
suy thoái. Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề và các cơ sở chế
biến ở một số vùng nông thôn, do công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất
nhỏ, phân tán xen kẽ trong dân cư và hầu như không có thiết bị thu gom, xử lý
chất thải, đã gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt nghiêm trọng là tái
chế ni lông, sản xuất giấy, nhuộm, vàng mã... Đối với phần lớn các khu vực
nông thôn, nước sinh hoạt và vệ sinh là vấn đề cấp bách, điều kiện vệ sinh môi
trường nông thôn chưa được cải thiện đáng kể. Nguyên nhân chính gây nên tình
trạng ô nhiễm là do thi công xây dựng mới và sửa chữa nhà cửa, đường sá,

HVTH: Cao Hoàng Anh

Trang 25

GVHD: Nguyễn Ngọc Thạch


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×