Tải bản đầy đủ

các yếu tố ảnh hưởng đến việc né tránh thuế của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn hose

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TẤN TIẾN

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NÉ TRÁNH
THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC NIÊM YẾT
TRÊN SÀN HOSE

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP. Hồ Chí Minh, Năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc né tránh thuế
của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE” là bài nghiên cứu của chính tôi.
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo trong luận văn này, tôi cam đoan rằng
từng phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử
dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/ nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong

luận văn này mà không được trích dẫn đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2017
Học viên thực hiện

Nguyễn Tấn Tiến

i


LỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm ơn Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Minh Hà đã tận tình hướng dẫn,
hỗ trợ và truyền đạt cho tôi những ý kiến khoa học quý báu về lý thuyết cũng như kinh
nghiệm triển khai thực tế trong quá trình tôi lựa chọn đề tài và thực hiện luận văn “Các
yếu tố ảnh hưởng đến việc né tránh thuế của các doanh nghiệp Việt Nam được niêm
yết trên sàn HOSE”
Chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô giảng dạy chương trình đào tạo Thạc sỹ Tài
chính ngân hàng của Trường đại học Mở TP. Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm hết sức bổ ích để tôi có thể hoàn thành luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn.

ii


TÓM TẮT
Thực tế hiện nay ở Việt Nam có rất ít thậm chí khá hiếm đề tài nghiên cứu về
các nhân tố tác động lên hành vi né tránh thuế của Doanh nghiệp Việt Nam được niêm
yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2008-2016. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu đề tài
trên ngày càng trở nên thực tiễn cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Mục tiêu chính của việc nghiên cứu này là xác định các nhân tố tác động đến
hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE. Đồng
thời gợi ý các giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp có thể hoạch định chính sách né
tránh thuế hiệu quả và phù hợp với đặc trưng riêng của doanh nghiệp mình và đảm bảo
đúng quy định.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được của các doanh nghiệp Việt Nam niêm
yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2008-2016. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng
là phương pháp nghiên cứu định lượng. Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm


định giả thuyết đặt ra.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được vai trò các yếu tố đặc trưng của doanh
nghiệp đến hành vi né tránh thuế và mức độ tác động của từng yếu tố đó lên hành vi né
tránh thuế, thông qua việc thu thập dữ liệu và sử dụng mô hình hồi quy tác động cố
định FEM cùng phương pháp ước lượng GLS đối với biến phụ thuộc
TAXAVOIDANCE và mục tiêu kiểm định 7 giả thuyết.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tác động mạnh đến hành vi né tránh
thuế của doanh nghiệp là: (i) hệ số đòn bẩy (mức ý nghĩa 1%), (ii) quy mô doanh
nghiệp và tài sản hữu hình (mức ý nghĩa 5%), (iii) tuổi đời doanh nghiệp (mức ý nghĩa
10%).

iii


MỤC LỤC
Lời cảm ơn ............................................................................................................... i
Lời cam đoan ........................................................................................................... ii
Tóm tắt ................................................................................................................... iii
Mục lục................................................................................................................... iv
Danh mục bảng ...................................................................................................... vi
Danh mục từ viết tắt .............................................................................................. vii
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU........................................................1
1.1 Lý do nghiên cứu .....................................................................................1
1.2 Đặt vấn đề nghiên cứu .............................................................................2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu ..................................................................................3
1.5 Phạm vi nghiên cứu..................................................................................4
1.6 Dữ liệu nghiên cứu ...................................................................................4
1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài................................................................5
1.8 Bố cục luận văn ........................................................................................6
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................7
2.1Một số khái niệm.......................................................................................7
2.1.1 Khái niệm về né tránh thuế..............................................................7
2.1.2 Né tránh thuế và trốn thuế ...............................................................8
2.2 Lợi ích và chi phí của né tránh thuế .........................................................9
2.3 Thuế suất hiệu lực truyền thống.............................................................11
2.4 Chênh lệch thuế ......................................................................................12
2.5 Cơ sở lý thuyết .......................................................................................14
2.6 Tổng quan tình hình nghiên cứu ............................................................15
2.7 Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................21

iv


2.8 Tổng quan về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt nam qua các
thời kỳ ..........................................................................................................26
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................29
3.1 Quy trình nghiên cứu .............................................................................29
3.2 Giải thích các thông số ...........................................................................29
3.3 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu..................................30
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu ...............................................................30
3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu ...................................................................31
3.3.3 Mô hình nghiên cứu.......................................................................32
3.3.4 Đo lường các biến số .....................................................................33
3.4 Dữ liệu nghiên cứu .................................................................................35
CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................37
4.1 Thống kê mô tả các biến ........................................................................37
4.2 Phân tích tương quan và đa cộng tuyến. ................................................38
4.3 Kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu ...............................................40
4.3.1 Các mô hình hồi quy .....................................................................40
4.3.2 Kiểm định lựa chọn các mô hình ...................................................43
4.3.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan
bậc nhất ...................................................................................................45
4.3.4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GLS ....................46
4.4 Thảo luận về kết quả nghiên cứu ...........................................................48
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................54
5.1 Kết luận ..................................................................................................54
5.2 Kiến nghị ................................................................................................56
5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu mới ...................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................59

v


DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam qua các năm ................ 26
Bảng 2.2: Thuế suất tương ứng giai đoạn nghiên cứu .................................................. 28
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến ............................................................................... 37
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan ............................................................................. 39
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF ............ 40
Bảng 4.4: Mô hình hồi quy OLS ................................................................................... 41
Bảng 4.5: Mô hình tác động cố định FEM .................................................................... 41
Bảng 4.6: Mô hình tác động ngẫu nhiên REM ............................................................. 42
Bảng 4.7: Kiểm định lựa chọn giữa OLS và REM ....................................................... 43
Bảng 4.8: Kiểm định Hausman lựa chọn giữa mô hình FEM và REM ........................ 44
Bảng 4.9: Kiểm định phương sai sai số thay đổi mô hình FEM ................................... 45
Bảng 4.10: Kiểm định hiện tượng tự tương quan bậc nhất mô hình FEM ................... 46
Bảng 4.11: Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GLS ................................. 47

vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HOSE

: Sở giao dịch chứng khoán TPHCM

FDI

: Đầu tư trực tiếp

FEM

: Mô hình tác động cố định

REM

: Mô hình tác động ngẫu nhiên

TANGIBLE : Tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản.
LEV

: Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản.

SIZE

: Quy mô công ty.

DLOSS

: Thua lỗ từ hoạt động công ty

DSTATE

: Sở hữu nhà nước.

DFOREIGN : Sở hữu nước ngoài.
AGE

: Tuổi đời của công ty

vii


1

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do nghiên cứu
Từ khi chính sách thu thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện thì nó cũng
làm phát sinh các vấn đề về trốn thuế và né tránh thuế. Khác với hành động trốn
thuế, né tránh thuế là một hoạt động hợp pháp nhằm tối thiểu hóa số thuế doanh
nghiệp phải nộp cho Chính phủ, nếu các doanh nghiệp có thể tận dụng tốt hoạt động
né tránh thuế, đây có thể xem là một nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn hoạt động của
doanh nghiệp, giá trị của các cổ đông doanh nghiệp cũng được gia tăng.
Tuy nhiên, mức độ né tránh thuế ở các doanh nghiệp không giống nhau
do bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố nội tại mang tính đặc trưng
riêng của từng doanh nghiệp.
Hành vi né tránh thuế diễn ra khá phổ biến tại các nước trên thế giới và cả
ở Việt Nam, mà tiêu biểu nhất là hoạt động chuyển giá. Hoạt động chuyển giá được
bài viết “Chuyển giá trong khu vực FDI tại Việt Nam” Dương Văn An (2013) đề
cập thông qua một số ví dụ điển hình, như sau: Một trong những cơ sở để đưa ra
nghi vấn chuyển giá ở Việt Nam đang rất phổ biến là: các doanh nghiệp FDI thường
xuyên báo cáo lỗ trong nhiều năm và mặt dù lỗ thường xuyên như vậy nhưng vẫn
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, hoặc đối với những doanh nghiệp có lãi thì tỷ
suất lợi nhuận trên doanh thu không đáng kể. Điển hình là theo báo cáo của cục
thống kê có khoảng 50% doanh nghiệp FDI kê khai lổ trong cả nước (giai đoạn
2006-2011). Cụ thể, từ khi thành lập 1991, hơn 20 năm qua Pepsico lỗ liên tục cho
đến những năm gần đây mới có lãi nhưng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu rất thấp,
chỉ trên 2%. Mặc dù vậy, Pepsico vẫn liên tục mở rộng đầu tư xây dựng các nhà
máy mới như ở Đồng Nai, Bắc Ninh.
Có nhiều nhân tố tác động đến việc né tránh thuế của doanh nghiệp như
theo nghiên cứu Slemrod (2004) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt với né tránh thuế thu
nhập cá nhân, né tránh thuế thu nhập doanh nghiệp phức tạp hơn vì xuất hiện vấn đề
tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát hay còn gọi là vấn đề đại diện, làm


2

dễ dàng phát sinh tình trạng bất cân xứng thông tin và chi phí đại diện. Nghiên cứu
Srocker và Slemrod (2005) nghiên cứu các hợp đồng thù lao của giới quản lý cấp
cao là những người quyết định trực tiếp đến hành vi né tránh thuế để xem xét mối
quan hệ đại diện trong các hành vi này.
Một vài nghiên cứu khác đã tìm thấy nhiều yếu tố cơ bản tác động đến
mức độ hành vi né tránh thuế như chi tiêu vốn, tài sản vô hình, đòn bẩy, quy mô, tài
sản cố định, chi phí quản lý bán hàng, chi phí nghiên cứu phát triển, tuổi đời của
doanh nghiệp.
Nếu có tồn tại, thì mức độ né tránh thuế của mỗi công ty không giống
nhau, nó chủ yếu phụ thuộc vào đặc tính riêng có và chính sách mà mỗi công ty
theo đuổi, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động né tránh thuế sẽ giúp
các doanh nghiệp mường tượng rõ ràng hơn và hoạch định chính sách né tránh thuế
hiệu quả hơn. Các nghiên cứu này cũng cho thấy cho thấy né tránh thuế là một hoạt
động giảm áp lực thuế phổ biến tại các doanh nghiệp (Wilson, 2009; Lisowky,
2010; Dyreng và cộng sự, 2010; Wang, 2011).
Tuy nhiên, nghiên cứu về né tránh thuế và các nhân tố tác động đến nó tại
thị trường các doanh nghiệp Việt Nam còn khá hạn chế. Nghiên cứu này sẽ tập
trung phân tích xem các yếu tố tác động tình trạng né tránh thuế đến các doanh
nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn 2008 – 2016 để
xem xu hướng về tình trạng này xảy ra như thế nào tại nước ta.
1.2 Đặt vấn đề nghiên cứu
Né tránh thuế được xem là sự chiếm dụng vốn hợp pháp của các doanh
nghiệp, qua đó giúp các doanh nghiệp có thêm một nguồn tài trợ hoạt động đáng
cân nhắc, đồng thời có thể giảm chi phí sử dụng nợ.
Một số nghiên cứu trước của Wilson (2009), Dyreng cùng cộng sự
(2010), Chan cùng cộng sự (2013), Wang (2011),... cho thấy có rất nhiều yếu tố tác
động đến hành vi này như quy mô công ty, tuổi đời công ty, rủi ro doanh


3

nghiệp…Tuy nhiên, hành vi né tránh thuế cùng như các yếu tố tác động đến hành vi
này vẫn chưa được kiểm chứng và làm rõ với các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Do đó đề tài nghiên cứu sẽ tập trung tìm hiểu về: các yếu tố ảnh hưởng
đến hành vi né tránh thuế của các doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn
HOSE trong giai đoạn 2008-2016.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu về các nhân tố tác động lên hành vi né
tránh thuế của doanh nghiệp Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE, trong giai
đoạn 2008 – 2016, mục tiêu của chọn đề tài nhằm phục vụ cho mục đích quản trị
của Doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu có thể khái quát thành những nội dung
chính như sau:
 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến né tránh thuế của doanh nghiệp Việt
Nam trên sàn HOSE.
 Gợi ý các giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp có thể hoạch định chính
sách né tránh thuế hiệu quả và phù hợp với đặc trưng riêng của doanh
nghiệp mình và đảm bảo đúng quy định.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Sau khi xác định vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu của luận văn,
câu hỏi nghiên cứu được đặt ra với mục đích giúp định hình ý tưởng nghiên cứu và
xây dựng các giả thuyết khoa học. Một số nghiên cứu trước của Wilson (2009),
Dyreng và cộng sự (2010), Chan và cộng sự (2013),... cho thấy một số yếu tố nội tại
như quy mô doanh nghiệp, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, chi phí nghiên cứu phát
triển, đòn bẩy tài chính,... đều có tác động đến hành vi né tránh thuế của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến hành
vi né tránh thuế của các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam còn rất ít. Điều này
dẫn đến nhiều nghi vấn về thực trạng hành vi né tránh thuế và các yếu tố tác động
đến hành vi này của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Những nghi vấn này sẽ được
luận văn quan tâm và làm rõ thông qua việc tập trung trả lời những câu hỏi sau:


4

 Các nhân tố tác động đến việc né tránh thuế của doanh nghiệp Việt Nam
trên sàn HOSE?
 Doanh nghiệp phải làm gì để tận dụng né tránh thuế hiệu quả nhưng vẫn
không vi phạm pháp luật?
Các bước thực hiện để đạt mục tiêu nghiên cứu như vừa đề cập là nội
dung quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ luận văn. Các chương tiếp theo sẽ trình
bày rõ các bước cần thực hiện này.

1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung tìm hiểu các nhân tố tác động đến hoạt động né
tránh thuế của các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam. Các doanh nghiệp tại thị
trường Việt Nam được hiểu là các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
Các nhân tố tác động đến hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp được
chọn lựa dựa trên sự kế thừa các nghiên cứu trước, ứng dụng thực tiễn vào thị
trường Việt Nam.
Dữ liệu sử dụng là dữ liệu bảng được thu thập trong giai đoạn 2008 –
2016. Thời gian thực hiện nghiên cứu: năm 2017.
1.6 Dữ liệu nghiên cứu
Trước tiên, luận văn tiến hành lược khảo các lý thuyết liên quan đến vấn
đề nghiên cứu. Sau đó, luận văn sẽ xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình
nghiên cứu, trong đó: biến phụ thuộc được xác định là hành vi né tránh thuế của
doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu định
lượng. Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết đặt ra, đồng
thời khắc phục các khuyết tật mà mô hình gặp phải. Kết quả thực nghiệm từ mô
hình hồi quy sẽ được sử dụng làm cơ sở chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết nghiên


5

cứu cũng như giải thích mối liên hệ giữa hành vi né tránh thuế và các yếu tố đặc
trưng nội tại của doanh nghiệp.
Đề tài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo
tài chính của các doanh nghiệp được công khai niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán HOSE trong giai đoạn 2008 – 2016. Nguồn dữ liệu này được thu thập từ
trang web Vietstock.vn. Tuy nhiên chọn lọc và loại bỏ:
 Những công ty mà thông tin tài chính không được công bố trong giai
đoạn nghiên cứu. Chỉ chọn lựa những công ty có thông tin được công bố
liên tục trong giai đoạn 2008 – 2016.
 Các doanh nghiệp có chi phí thuế thu nhập âm, hoặc thua lỗ. Bởi vì
những doanh nghiệp lỗ thuế hiện hành, có thể dẫn đến khả năng kết
chuyển lỗ thuế ngược về trước (trong phạm vi 3 năm) hoặc kết chuyển lỗ
thuế tới những năm sắp tới (trong phạm vi 15 năm sau), điều này dẫn đến
những kết quả ước lượng kém chính xác về thuế thu nhập của các doanh
nghiệp.
1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài
Luận văn này được thực hiện với mục tiêu đánh giá các yếu tố tác động
đến hành vi né tránh thuế của các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam, dựa trên
mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn
2008-2016. Chính vì vậy, có thể nói luận văn sẽ có một số đóng góp như sau:
 Thứ nhất, đề tài nghiên cứu một vấn đề còn khá mới tại Việt Nam, đó là
né tránh thuế. Thông qua phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, đề tài
xác định và kiểm chứng tác động của một số nhân tố nội tại của doanh
nghiệp lên hoạt động né tránh thuế của các doanh nghiệp Việt Nam, cung
cấp thêm cho nghiên cứu khoa học một nghiên cứu thực nghiệm khá mới.
 Thứ hai, đề tài có ý nghĩa ứng dụng cao trong thực tiễn. Thông qua việc
xác định và đánh giá tác động của một số nhân tố đến hoạt động né tránh


6

thuế, nghiên cứu này có thể gợi ý cho doanh nghiệp một số giải pháp
hoạch định chính sách né tránh thuế phù hợp, hiệu quả.
 Sau cùng, luận văn sẽ là bước đệm khuyến khích các nhà nghiên cứu
khác tìm hiểu, khai thác đề tài về hoạt động né tránh thuế của các doanh
nghiệp tại thị trường Việt Nam, một đề tài nghiên cứu khá mới và còn
khá ít nghiên cứu khai thác.
1.8 Bố cục luận văn
Bố cục luận văn được phân chia trình bày theo năm chương. Các chương
được bố cục như sau.
 Chương 1: Mở đầu. Chương này đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài,
vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu, ý nghĩa và ứng dụng của đề tài.
 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về khái niệm né tránh thuế, lợi ích và chi phí
của hành vi né tránh thuế, thuế suất hiệu lực truyền thống, chênh lệch
thuế, các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu như: lý thuyết dòng tiền
tự do và quản lý dòng tiền, tổng quan tình hình nghiên cứu và tông quan
về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ và
xây dựng các giả thuyết nghiên cứu
 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp
nghiên cứu, cách thức lựa chọn mẫu và đo lường các biến và phương
pháp xử lý dử liệu
 Chương 4: Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Chương này còn thể hiện kết quả chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết
được xây dựng tại chương 2. Từ đó đánh tác động của các nhân tố đề
xuất trong mô hình thực nghiệm đến hành vi né tránh thuế của doanh
nghiệp.
 Chương 5: Kết luận và kiến nghị, chương này nêu ra một số hạn chế
trong đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.


7

CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 1 đã trình bày tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ
trình bày các khái niệm, lý thuyết, thước đo của né tránh thuế, lý thuyết về dòng tiền
tự do trong doanh nghiệp. Ngoài ra, trong chương cũng sẽ trình bày tổng quan tình
hình nghiên cứu trong và ngoài nước, làm cơ sở phát triển các giả thuyết và mô
hình thực nghiệm.

2.1

Một số khái niệm
2.1.1

Né tránh thuế

Né tránh thuế là hoạt động tập hợp các phương thức để tối hiểu hóa tiền
thuế phải nộp. Đây là một hoạt động có thể giúp các doanh nghiệp tận dụng được
nguồn vốn tài trợ từ số tiền thuế tránh phải nộp cho Chính phủ, chẳng hạn như tận
dụng các phương pháp kế toán. Qua đó, có thể giúp doanh nghiệp giảm lại số tiền
nợ phải vay mượn để phục vụ cho hoạt động của mình.
Né tránh thuế được xác định trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Chẳng
hạn như: né tránh thuế là việc làm giảm thuế trên 1 đơn vị tiền tệ của lợi nhuận kế
toán trước thuế (Hanlon và Heitzman, 2009). Hoặc, hành động né tránh thuế là việc
chuyển một lượng giá trị từ chính phủ đến cổ đông.
Nghiên cứu này xem xét cách né tránh thuế hợp pháp bằng cách tận dụng
cách quy định của pháp luật để giảm lượng thuế phải nộp. Các quy định hợp pháp
có thể giúp né tránh thuế nếu nó làm thay đổi đến nghĩa vụ thuế. Tác động thuế có
thể được phát sinh bởi các giới hạn hợp pháp được đặt ra bởi luật thuế như là
“doanh thu” và “chi phí kinh doanh” (Desai và Dharmapala, 2009). Hoặc, né tránh
thuế là hành vi tận dụng hợp pháp quy định của chế độ thuế hiện hành, để giảm
lượng thuế đáng lý ra phải nộp (Pasternak và Rico, 2008).
Nhìn chung, né tránh thuế được hiểu theo cách truyền thống là các chính
sách chuyển nguồn tài chính từ chính phủ sang các cổ đông, và vì thế là tăng giá trị
sau thuế của công ty. Tuy nhiên, không phải lúc nào né tránh thuế cũng làm tăng giá
trị công ty sau thuế, nó có thể làm giảm giá trị công ty trong một số trường hợp


8

cộng hưởng với các chi phí liên quan trực tiếp đến việc lên kế hoạch thuế của công
ty, chẳng hạn như chi phí thích nghi, chi phí đại diện (Wang, 2010).
Có nhiều nghiên cứu đặt ra câu hỏi rằng, tại sao một số doanh nghiệp lại
tránh thuế nhiều hơn những doanh nghiệp khác? Các nhà nghiên cứu lý giải hành
động và mức độ né tránh thuế của các doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau; ví
dụ như: dựa vào các đặc tính của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, quy mô, tuổi
doanh nghiệp,... (Rego, 2003). Trong khi, một số khác lại lý giải dựa trên cấu trúc
sở hữu, đặc điểm tổ chức (Graham và Tucker, 2006; Desai và Dharmapala, 2005,
2006, 2009).

2.1.2

Né tránh thuế và trốn thuế

Theo Agnar Sandmo (2004), nếu hành vi né tránh thuế mang lại lợi ích
thì nó không phải hành vi trốn thuế mà là chuyển số thuế phải nộp kỳ này sang kỳ
sau hoặc năm tài chính sau. Ngược lại nếu theo hành vi tiêu cực của nhà quản lý thì
né tránh thuế là trốn thuế thì công ty sẽ chịu những hậu quả nặng nề của hành vi này
về mặt pháp lý.
Quan niệm khác biệt về né tránh thuế và trốn thuế dựa trên tính hợp pháp
trong hành vi người đóng thuế. Trốn thuế là hành vi chống lại pháp luật: khi người
đóng thuế cố không báo cáo thu nhập có nguồn gốc phải chịu thuế, họ xúc tiến các
hoạt động phi pháp làm cho họ phải chịu sự quản lý của pháp luật. Khi tránh thuế
theo hình thức này, họ lo ngại về khả năng các hành động của mình có thế bị phát
hiện. Né tránh thuế, ngược lại, là hoạt động nằm trong khuôn khổ quy định của luật
thuế. Đó là sự tận dụng các quy định của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp,
bằng cách chuyển hóa thu nhập lao động thành thu nhập vốn, để chịu mức thuế thấp
hơn. Khi thực hiện né tránh thuế, người chịu thuế không phải lo lắng về khả năng bị
phát hiện.
Nếu né tránh thuế là hợp pháp, thì đâu là sự khác biệt giữa né tránh thuế
và phản ứng ngược làm thuế tăng bởi hiệu ứng giá lên cung và cầu? Giả sử du lịch
hàng không bị đánh thuế cao, làm hành khách chuyển sang du lịch bằng xe lửa,


9

hoặc gia tăng biên độ thuế thu nhập lao động làm người lao động chuyển nhiều thời
giờ làm việc sang nghỉ ngơi. Như vậy có phải là hành vi né tránh thuế hay không?
Định nghĩa đơn giản của né tránh thuế là tập trung vào ý đồ của nhà làm luật để
giảm phần thuế phải chịu. Với định nghĩa này, thì hiệu ứng giá không được phân
loại vào né tránh thuế.

2.2

Lợi ích và chi phí của hành vi né tránh thuế
Từ các khái niệm về né tránh thuế của Hanlon và Heitzman (2009),

Pasternak và Rico (2008), có thể nhận thấy lợi ích rõ ràng nhất của các công ty khi
thực hiện hành vi né tránh thuế đó là các công ty sẽ tiết kiệm được số tiền thuế phải
nộp. Số tiền thuế tiết kiệm được sẽ làm gia tăng dòng tiền của doanh nghiệp, giúp
gia tăng cơ hội đầu tư của doanh nghiệp khi có sẵn nguồn lực, việc gia tăng hoạt
động đầu tư sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Dưới góc độ của cổ đông, giá trị
tài sản của họ sẽ được gia tăng dưới dạng cổ tức được nhận nhiều hơn, dưới góc độ
nhà quản lý họ cũng có được lợi ích dưới dạng các khoản thù lao cho các hoạt động
né tránh thuế hiệu quả
Tuy nhiên việc né tránh thuế không hoàn toàn là một hành vi chỉ mang lại
lợi ích, ngược lại chi phí đi kèm với các hành vi này rất đáng kể, nếu không muốn
nói là rất lớn trong một số trường hợp, chi phí lớn nhất đồng thời cũng khó đo
lường nhất đó là chi phí đại diện gây ra bởi sự bất cân xứng thông tin giữa cổ đông
và nhà quản lý (Desai và Dharmapala, 2006; Wang, 2010).
Mối quan hệ giữa chi phí đại diện và né tránh thuế được Deasai và
Dharmapala (2006) giải thích trong nghiên cứu như sau: vốn dĩ chi phí đại diện luôn
có thể xuất hiện ở bất kỳ doanh nghiệp nào, nhưng trong trường hợp các công ty có
hoạt động né tránh thuế, chi phí này có thể sẽ rất nghiêm trọng, lý do là bởi hoạt
động né tránh thuế đòi hỏi các hành vi điều chỉnh vị thế tài chính của doanh nghiệp,
mục tiêu tạo ra sự khác biệt trong số thuế đáng lý phải nộp và số thuế thực tế phải
nộp, tức là tạo ra sự khác biệt giữa sổ sách kế toán và tình hình thực tế doanh
nghiệp.


10

Trên thực tế do các nguyện tắc kế toán sự khác biệt này vẫn xảy ra khá
thường xuyên và không gây ra những hậu quả nghiêm trọng nếu nhà quản lý vẫn
hành động vì lợi ích của cổ đông. Tuy nhiên, trong bối cảnh hành vi né tránh thuế
sự khác biệt này được khuyến khích và các nhà quản lý có thể tận dụng sự gia tăng
trong bất cân xứng thông tin để trục lợi cho bản thân và làm tổn hại lợi ích của cổ
đông. Hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp sẽ bị suy giảm và các cổ đông sẽ
không kiểm soát được tình hình nội tại của chính doanh nghiệp mình
Từ đó, có thể nhận thấy, nếu các hành vi của nhà quản lý bị cơ quan chức
năng xếp vào nhóm trốn thuế, công ty có thể phải ghánh chịu những hậu quả nặng
nề về mặt pháp lý, ngoài việc phải đối mặt với các khoản nợ, danh tiếng của doanh
nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Lợi ích của người né thuế
Nếu như đa số các bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Desai
và Dharmapala (2006), Hanlon và Heitzman (2009), Pasternak và Rico (2008) đều
nhận định né tránh thuế không phải là một hành vi phạm pháp mà là tập hợp các
cách thức hợp pháp nhằm điều chỉnh vị thế tài chính hiện tại của chủ thể để tối thiểu
hóa số thuế phải nộp. Thì vấn đề thách thức lớn nhất trong nghiên cứu lĩnh vực này
chính là chưa có một định nghĩa được chấp nhận hoàn toàn về né tránh thuế, vì thực
tế nghiên cứu cho thấy, mỗi nghiên cứu của các tác giả đều sử dụng thước đo khác
nhau tùy theo mục đích nghiên cứu.
Slemrod (2004) đã chỉ ra rằng khác với né tránh thuế thu nhập cá nhân,
né tránh thuế thu nhập doanh nghiệp phức tạp hơn vì xuất hiện vấn đề tách biệt giữa
quyền sở hữu và quyền kiểm soát, dẫn đến phát sinh các vấn đề về chi phí đại diện.
Các cổ đông sẽ kỳ vọng nhà quản lý sẽ thay mặt họ đưa ra các quyết định tối đa hóa
lợi ích, trong đó bao gồm tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Chính sự tách biệt giữa
quyền sở hữu và quyền quản lý có thể khiến cho nhà quản lý có thể đưa ra những
quyết định phục vụ cho lợi ích bản thân thay vì như kỳ vọng của các cổ đông, trong
đó bao gồm các quyết định về thuế.


11

Chen và Chu (2005) xem xét hành vi né tránh thuế trong mô hình về
người chủ, người đại diện và tập trung vào sự thiếu hiệu quả do sự tách biệt giữa
quyền sở hữu và quyền quản lý. Cũng đồng quan điểm với Slemrod (2004), Chen
và Chu cho rằng các vấn đề về chi phí đại diện sẽ dẫn đến việc kém hiệu quả trong
vấn đề quản lý, điều hành công ty, người quản lý có thể lạm dụng quyền hạn của
mình để đưa ra những quyết định mang chính sách cá nhân, bao gồm cả quyết định
về thuế.
Srocker và Slemrod (2005) nghiên cứu các hợp đồng thù lao của giới
quản lý cấp cao là những người quyết định trực tiếp đến hành vi né tránh thuế để
xem xét mối quan hệ đại diện trong các hành vi này, sự tách biệt giữa quyền sở hữu
và quyền quản lý hàm ý rằng nếu né tránh thuế là một hành động có lợi thì chủ
doanh nghiệp phải tìm kiếm cách thức xây dựng một cơ chế thù lao phù hợp để đảm
bảo rằng các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến thuế một cách hiệu
quả.
Một quan điểm khác của vấn đề này được đưa ra bởi Desai và cộng sự
(2007) khi các tác giả này cho rằng trong bối cảnh nhà quản lý tư lợi có thể xây
dựng cấu trúc công ty theo một cách phức tạp để dễ dàng né tránh thuế và chuyển
hướng các nguồn lực doanh nghiệp thành lợi ích riêng của bản thân thì cơ chế quản
trị doanh nghiệp là một giải pháp cho vấn đề này. Cơ chế quản trị tốt sẽ đạt được lợi
ích lớn hơn từ né tránh thuế.

2.3

Thuế suất hiệu lực truyền thống (ETR)
Đây là cách thức đơn giản và phổ biến nhất trong nhận diện và đo lường

hành vi né tránh thuế. Thuế suất hiệu lực truyền thống được tính như sau:
ETR = thuế phải nộp/thu nhập trước thuế
Trong đó thuế phải nộp bao gồm thuế hiện hành và thuế hoãn lại. Hầu hết
né tránh thuế đều sử dụng thước đo này (Gupta và Newberry, 1997; Hanlon và
Slemrod, 2009; Wilson, 2009; Chen và cộng sự, 2010; Wu và cộng sự, 2013). Tuy
nhiên cũng do tính chất đơn giản mà thước đo này gặp phải một số vấn đề, các vấn


12

đề này được Dyreng và cộng sự (2008) nêu rõ, thứ nhất là thuế thu nhập hoãn lại
phải trả, khoản thuế này đại diện cho những tác động về thuế trong tương lai từ các
giao dịch hiện tại. Do đó các khoản thuế này có thể phải trả hoặc được hoàn lại
trong tương lai chứ không phải thuế phải trả ở hiện tại.
Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng khoản mục thuế hiện hành cũng có thể gặp
phải vấn đề, nguyên nhân là do thuế hiện tại là một thước đo kế toán, không phản
ánh đầy đủ số thuế thực phải nộp trong năm
Thuế suất thuế hiệu lực theo Dyreng và cộng sự (2008)
Để giải quyết các vấn đề gặp phải đối với thuế suất hiệu lực đề cập ở trên,
Dyreng và cộng sự (2008) đã có 2 điều chỉnh đối với thước đo này. Thứ nhất, các
tác giả này tính thuế suất hiệu lực trên các khung thời gian từ 1 đến 10 năm, nghĩa
là tổng thuế trong khoảng thời gian 5 hay 10 năm sẽ đem chia cho tổng thu nhập
trước thuế trong cùng khoảng thời gian 5 hoặc 10 năm đó, cách thức này một mặt
giảm nhẹ tác động sai lệch do thuế thu nhập hoãn lại, mặt khác nó thuận tiện để
theo dõi hành vi né tránh thuế trong dài hạn, tránh vấn đề chọn mẫu
Điều chỉnh quan trọng thứ 2 là tiền thuế thực nộp bằng tiền mặt sẽ được
sử dụng thay vì chi phí thuế. Thước đo này trực tiếp nhận diện khoản thuế doanh
nghiệp thực sự đã phải chi trả, mọi lợi ích né tránh thuế nếu có chỉ trên sổ sách thì
cũng không mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế.

2.4

Chênh lệch thuế
Chênh lệch thuế là một thước đo được sử dụng khá phổ biến trong các

nghiên cứu như Manzon và Plesko (2001), Wilson (2009), Frank và cộng sự (2009),
Chen và cộng sự (2010) hay Chen và cộng sự (2012). Về mặt tổng quát thước đo
này đo lường chênh lệch giữa thu nhập trước thuế được ghi nhận trên báo cáo tài
chính và thu nhập hàm ý được rút ra từ số tiền thuế phải nộp và thuế suất tương ứng
Tuy nhiên thước đo này đều được tính toán dựa trên các khoản mục trên
báo cáo tài chính mà các khoản mục này rất dễ bị tác động bởi kế toán dồn tích, vì
lý do này Hanlon và Heizman (2010) đã đề xuất một thước đo né tránh thuế là tỷ lệ


13

tiền thuế thực trả chia cho dòng tiền hoạt động, thước đo này ít sử dụng và được
ghi nhận là có sự khác biệt đáng kể so với các thước đo khác (Salihu và cộng sự,
2013).
Dyreng và cộng sự (2010) nghiên cứu về vai trò của nhà quản lý đối với
hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp trên thị trường Hoa Kỳ. Các tác giả này
định nghĩa né tránh thuế trên một phạm vi rộng là bất kỳ điều gì làm giảm số thuế
phải nộp so với thu nhập trước thuế. Do đó hai học giả này sử dụng hai thước đo
được chấp nhận phổ biến và tương đối dễ hiểu so với thước đo khác, là thuế suất kế
toán có hiệu lực và thuế suất có hiệu lực bằng tiền mặt. Kết quả cho thấy tồn tại
hành vi né tránh thuế trên cả hai thước đo khi mà thuế suất kế toán có hiệu lực và
thuế suất có hiệu lực bằng tiền mặt đều thấp hơn khung thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu.
Wang (2011) cũng đã nghiên cứu hành vi né tránh thuế trên thị trường
Mỹ sử dụng nhiều thước đo khác nhau. Các kết quả đều cung cấp bằng chứng củng
cố cho hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Minnick và Noga (2010), Manzon và Plesko (2001),
Desai (2003), Yin (2003) và Hanlon và Shevlin (2005) đều đưa ra những bằng
chứng về hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp.
Dyreng và cộng sự (2008) khi nghiên cứu hành vi né tránh thuế trong dài
hạn của các doanh nghiệp Mỹ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy không những tồn
tại hành vi né tránh thuế ở các doanh nghiệp mà hành vi này còn mang tính dai dẳng
và kéo dài trong nhiều năm. Cụ thể trong nghiên cứu của mình, các tác giả sử dụng
khung thời gian lên đến 10 năm và các kết quả cho thấy hành vi né tránh thuế kéo
dài trong suốt kỳ nghiên cứu.
Lanis và Richardson (2011) nghiên cứu trên thị trường Úc và đưa ra các
kết quả cho thấy việc cũng tồn tại hành vi né tránh thuế ở các doanh nghiệp ở các
quốc gia này.


14

Lim (2011) nghiên cứu trên mẫu các công ty Hàn Quốc sử dụng các
thước đo khác nhau để đo lường hành vi né tránh thuế. Kết quả củng cho thấy tồn
tại hành vi né tránh thuế ở các doanh nghiệp tại Hàn Quốc.
Trên các thị trường mới nổi, các nghiên cứu về né tránh thuế ít phổ biến
hơn. Nghiên cứu của Chang và cộng sự (2013) nghiên cứu trên mẫu các doanh
nghiệp Trung Quốc về hành vi né tránh thuế. Kết quả cho thấy các công ty đều theo
đuổi việc tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Tuy nhiên tùy từng loại hình công ty khác
nhau mà mức độ né tránh thuế khác nhau. Trước đó các nghiên cứu của Zeng
(2010)và Wu và cộng sự (2013) cùng tìm thấy các kết quả tương tự.
Nghiên cứu của Salihu và cộng sự (2013) tập trung xem xét hành vi né
tránh thuế của doanh nghiệp Malaysia, kết quả nghiên cứu trên nhiều thước đo né
tránh thuế cho thấy, tính trên trung bình, tồn tại hành vi này ở các doanh nghiệp
Malaysia.
2.5 Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết dòng tiền tự do và quản trị dòng tiền trong doanh nghiệp
Dòng tiền tự do là số tiền mặt từ hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp
tạo ra sau khi đã tính toán các khoản chi tiêu vốn, như chi phí cho xây dựng hoặc
cho trang thiết bị máy móc. Số tiền này có thể được dùng để mở rộng kinh doanh,
trả cổ tức, thanh toán nợ hoặc những mục đích khác,...
Công thức tính dòng tiền tự do: (EBIT x (1- thuế suất) + khấu hao) –
(thay đổi trong vốn lưu động + chi tiêu vốn).
Jensen (1986) là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về dòng tiền
tự do thông qua mẫu khảo sát là các doanh nghiệp trong ngành dầu tại Mỹ, các
doanh nghiệp này luôn thặng dư dòng tiền tự do trong giai đoạn 1970 – 1980,
nhưng người quản lý doanh nghiệp lại không đem chi trả cho cổ đông mà lại tái đầu
tư khai thác mặc dù lợi nhuận bình quân thấp hơn cả chi phí vốn.


15

Quản trị dòng tiền: là hoạt động làm cho dòng tiền vào và ra của doanh
nghiệp luôn được cân đối trong thực tiễn và đáp ứng được nhu cầu hoạt động của
doanh nghiệp. Cân đối tức là:
 Ở mỗi thời điểm, khi doanh nghiệp có một dòng tiền chi ra nhất định, thì
trước đó phải tích lũy được một dòng tiền vào nhất định để không bị mất
khả năng thanh khoản ở những thời điểm cần thiết.
 Mặt khác, cân đối là không chênh lệch quá nhiều, tiền đi vào doanh
nghiệp không quá lớn đến nỗi chi phí tài chính (chi phí sử dụng vốn: lãi
vay,...) trở thành một gánh nặng cho chủ sở hữu.
Trong phương pháp xác định dòng tiền tự do, có thể thấy thuế thu nhập
doanh nghiệp có tác động đến sự biến động của dòng tiền. Nếu thuế thu nhập càng
cao thì thu nhập sau thuế thấp, dẫn đến dòng tiền tự do thấp. Do đó, né tránh thuế có
thể giúp gia tăng dòng tiền tự do trong doanh nghiệp, thúc đẩy các hoạt động đầu tư
diễn ra nhanh hơn.
Ngoài ra, để đảm bảo nguyên tắc cân đối trong quản lý dòng tiền doanh
nghiệp, doanh nghiệp không thể tự gia tăng dòng tiền từ nợ quá nhiều vì sẽ gây ra
các áp lực về chi phí tài chính; do đó, né tránh thuế được xem như là một nguồn tài
trợ khác mà doanh nghiệp có thể tận dụng. Các nghiên cứu thực nghiệm của một số
tác giả cũng cho thấy rằng, có sự tương quan nghịch biến giữa né tránh thuế và sử
dụng nợ trong các doanh nghiệp.
2.6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Wilson (2009) đã nghiên cứu thực nghiệm trên 59 doanh nghiệp được
Chính phủ Mỹ báo cáo là có hành vi né tránh thuế, và tìm thấy rằng các doanh
nghiệp có nhiều hoạt động xuất nhập khẩu, có nhiều công ty con ở nước ngoài và sử
dụng đòn bẩy thấp hơn thì sẽ có mức độ né tránh thuế cao hơn.
Yếu tố tiếp theo được xác định là một thành phần của tránh thuế là “khác
biệt sổ sách” (BTD). Khó khăn trong việc xác định tính xác thực của các báo cáo
thuế doanh nghiệp dẫn đến khác biệt thuế sổ sách.


16

Cũng giống như kết quả nghiên cứu của Graham và Tucker (2006), né
tránh thuế có mối tương quan dương với quy mô doanh nghiệp, và các doanh
nghiệp né tránh thuế nhiều hơn thường sử dụng nợ ít hơn. Các nghiên cứu của
Halon (2005) cũng cho thấy rằng, tại các doanh nghiệp có BTD dương thì thường
thu nhập theo kế toán thấp hơn.
Tuy nhiên, theo Desai (2003) thì việc tồn tại BTD không chỉ đơn thuần
thể hiện chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và thu nhập theo sổ sách trên báo cáo
tài chính, mà nó chủ yếu thể hiện mức độ tránh thuế của doanh nghiệp. Desai và
Dharmapala (2007) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên 14 doanh nghiệp có
tranh chấp về né tránh thuế và tìm thấy mối tương quan dương giữa tránh thuế và
khác biệt sổ sách.
Kế thừa những ý tưởng từ các nghiên cứu trước, nghiên cứu của Wilson
(2009) phân tích mối quan hệ giữa chênh lệch thuế sổ sách (BTD) và né tránh thuế
bằng mô hình hồi quy ước lượng trên mẫu 33 doanh nghiệp có hiện tượng tránh
thuế, và nhận thấy rằng trog những năm có tồn tại hoạt động tránh thuế thì các
doanh nghiệp đều có BTD dương.
Tác động của thuế suất cũng được xác định là một yếu tố tác động đến
hành vi né tránh thuế của doanh nghiệp, nghiên cứu thực nghiệm của Wilson (2009)
cho thấy rằng, khi thuế suất càng cao thì doanh nghiệp có xu hường né tránh thuế
nhiều hơn.
Một số yếu tố khác được đề cập trong nghiên cứu của Wilson cho thấy
các yếu tố tác động đến né tránh thuế của doanh nghiệp là quy mô, lĩnh vực hoạt
động và số năm hoạt động. Wilson lựa chọn các biến độc lập mang vào mô hình hồi
quy của mình dựa trên các đặc tính riêng của doanh nghiệp như: năm tài chính, tổng
tài sản, hệ số đòn bẩy, quy mô, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), thu nhập từ
nước ngoài (đối với các công ty có thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, chỉ số này
là 1; với công ty không có hoạt động xuất nhập khẩu, chỉ số này là 0), chi phí
nghiên cứu và phát triển.
Kết quả hồi quy từ mô hình Wilson cho thấy:


17



BTD thực sự tương quan dương với né tránh thuế, kết quả này cũng phù
hợp với nhận định từ nghiên cứu của Graham và Tucker (2006).



ROA và né tránh thuế không tồn tại mối quan hệ có nghĩa



Thu nhập từ nước ngoài và chi phí nghiên cứu phát triển cũng như ROA,
không có mối quan hệ thực sự có nghĩa với tránh thuế.



Quy mô doanh nghiệp lại tương quan dương với né tránh thuế, cho thấy
các doanh nghiệp quy mô lớn có xu hướng né tránh thuế nhiều hơn.
Dyreng và cộng sự (2010) dựa trên các nghiên cứu của Desai và

Dharmapala (2006), Wilson (2009),... Dyreng xem xét tác động của những yếu tố
cơ bản của doanh nghiệp như chi phí quảng bá, chi tiêu vốn, tài sản vô hình, đòn
bẩy, quy mô, tài sản cố định, chi phí quản lý bán hàng và chi phí chung, chi phí
nghiên cứu phát triển và biến đại diện cho thành quả hoạt động lên hành vi né tránh
thuế. Nghiên cứu này đặc biệt xem xét vai trò của nhà quản lý đối với hành vi né
tránh thuế.
Tác động của nhà quản trị đối với hoạt động công ty xoay quanh câu hỏi:
nhà quản trị có tác động đến mức nào đối với các khía cạnh khác nhau trong hoạt
động công ty và giá trị cổ đông? Ví dụ như, Hayes và Schaefer (1999) đã ước lượng
tác động của nhà quản trị bằng cách xác định phân chia công ty và nhà quản trị và
đo lường thu nhập bất thường xoay quanh sự phân chia đó.
Hoặc Bertrand (2003) tìm hiểu tác động của nhà quản trị đối với công ty
bằng cách thiết lập mẫu nghiên cứu gồm những nhà quản trị đã đi qua ít nhất hai
công ty, và đánh giá tác động của họ dựa trên sự thay đổi của các công ty này. Các
nghiên cứu thực nghiệm khác như Ge và cộng sự (2009) cho thấy nhà quản trị thực
sự có tác động đến doanh thu kế toán tài chính thông qua hoạt động bảng cân đối kế
toán, tự do dồn tích,...
Nghiên cứu của Dyreng và cộng sự (2010) sử dụng mẫu các doanh
nghiệp được niêm yết trên ExecuComp từ nam 1992 đến 2006. Tác giả chắt lọc
những nhà quản trị các nhà quản trị của các doanh nghiệp và tiếp tục giữ lại những


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×