Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện kế toán quản trị theo mô hình Just In Time tại Công Ty Cổ Phần Thắng Lợi

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Nguyễn Thị Diệu Tuyết


ii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................i
MỤC LỤC................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................................vi
DANH MỤC CÁC BẢNG .....................................................................................vii

DANH MỤC CÁC HÌNH......................................................................................viii
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................IV
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................VI
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

2

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3

5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

3

6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

4

CHƯƠNG 1.............................................................................................................. 5
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ VÀ MÔ HÌNH JUST IN TIME......................................................................5
1.1.1. Lịch sử phát triển của kế toán quản trị......................................................5
1.1.2. Bản chất của kế toán quản trị....................................................................8
1.1.3. Chức năng kế toán quản trị.....................................................................10
1.1.4. Mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính...........................11
1.1.5. Hệ thống thông tin kế toán quản trị.........................................................12
1.1.6. Sự cần thiết của hệ thống thông tin kế toán quản trị................................13
1.2.1.1. Khai niêm JIT..........................................................................................................................................13
1.2.1.2. Những đặc trưng cơ bản của mô hình JIT...............................................................................................15
1.2.1.3. Mục tiêu của JIT......................................................................................................................................20
1.2.1.4. Giới hạn của JIT......................................................................................................................................21
1.2.1.5. Sự khac biệt mô hình sản xuất truyền thống và mô hình sản xuất Just In Time......................................22
1.2.2.2. Đặc điểm của phương phap kế toan ngược dòng...................................................................................25


1.2.4. Điều kiện áp dụng mô hình Just In Time.................................................34


iii

CHƯƠNG 2............................................................................................................37
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển...........................................................37
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ quản lý tại Công ty....................................................38
2.1.2.1. Sơ đồ bộ may quản lý.............................................................................................................................38
2.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ cac phòng ban......................................................................................................39

2.1.3. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần Thắng Lợi.........................40
2.1.3.1. Sơ đồ bộ may kế toan.............................................................................................................................40
2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của cac kế toan viên.............................................................................................41

2.2.1. Chi phí và phân loại chi phí....................................................................42
2.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung kinh tế ban đầu....................................................42
2.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo công dụng kinh tế...............................................................43

2.2.2. Hệ thống định mức chi phí......................................................................44
2.2.2.1. Định mức nguyên vật liệu.......................................................................................................................44
2.2.2.2. Định mức nhân công trực tiếp................................................................................................................47
2.2.2.3. Định mức chi phí sản xuất chung............................................................................................................49

2.2.3. Công tác tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Thắng Lợi..........50
2.2.3.1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.............................................................................................................50
2.2.3.2. Chi phí nhân công trực tiếp....................................................................................................................51
2.2.3.3. Chi phí sản xuất chung............................................................................................................................51
2.2.3.4. Tổng hợp chi phí sản xuất thực tế và phân tích chênh lệch chi phí.........................................................56

2.2.4. Công tác kiểm soát chi phí......................................................................56
2.2.4.1. Kiểm soat chi phí nguyên vật liệu...........................................................................................................56
2.2.4.2. Kiểm soat chi phí lao động......................................................................................................................59

2.2.5. Đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Thắng
Lợi....................................................................................................................61
2.2.5.1. Thuận lợi................................................................................................................................................61
2.2.5.2. Những vấn đề còn tồn tại.......................................................................................................................62

2.2.6. Kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Thắng Lợi và mô hình just in time 63
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN..................66
THẮNG LỢI THEO MÔ HÌNH JUST IN TIME...............................................66
3.2.1. Phân loại chi phí......................................................................................67
3.2.2. Hoàn thiện phương pháp xây dựng định mức chi phí..............................70
3.2.3. Cải tiến công tác tính giá thành khi ứng dụng mô hình JIT.....................75
3.2.4. Lập báo cáo chi phí để phục vụ cho công tác kiểm soát chi phí..............79
3.2.4.1. Bao cao tình hình sử dụng nguyên vật liệu.............................................................................................79
3.2.4.2. Bao cao tình hình thực hiện chi phí nhân công.......................................................................................81
3.2.4.3. Bao cao kiểm soat chi phí sản xuất chung..............................................................................................84
3.2.4.4. Bao cao về chi phí sản xuất.....................................................................................................................85


iv

3.2.5. Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình kết hợp kế toán
tài chính và kế toán quản trị..............................................................................85
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ THỰC HIỆN VIỆC HOÀN THIỆN KẾ TOÁN
QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THẮNG LỢI KHI ỨNG DỤNG MÔ
HÌNH JUST IN TIME

87

KẾT LUẬN............................................................................................................91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KTQT

Kế toán quản trị

KTTC

Kế toán tài chính

JIT

Just In Time

DN

Doanh nghiệp

CCDC

Công cụ dụng cụ

CP NCTT

Chi phí nhân công trực tiếp

CP NVL

Chi phí nguyên vật liệu

CP SXC

Chi phí sản xuất chung

CT CP

Công ty cổ phần

TSCĐ

Tài sản cố định

Thuế VAT

Thuế giá trị gia tăng

VNĐ

Việt nam đồng

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

KPCĐ

Kinh phí công đoàn

SP

Sản phẩm

TG

Thời gian

CĐKT

Cân đối kế toán

KQKD

Kết quả kinh doanh


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
1.1

Sự khác biệt của mô hình sản xuất truyền thống và mô hình sản xuất
Just In Time

Trang

22

2.1

Bảng tổng hợp chi phí sản xuất theo yếu tố

43

2.2

Bảng tổng hợp chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế

44

2.3

Bảng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 mặt hàng

46

2.4

Bảng định mức chi phí nguyên vật liệu cho các mặt hàng

46

2.5

Bảng định mức chi phí NCTT cho từng mặt hàng

48

2.6

Bảng tổng hợp chi phí sản xuất theo chi phí định mức cho 1 mặt
hàng

52

2.7

Bảng tổng hợp giá thành sản phẩm theo chi phí định mức

53

2.8

Bảng kê nguyên vật liệu mua vào

57

2.9

Bảng kê nguyên vật liệu chính sản xuất

58

2.10

Bảng kê định mức tiêu hao nguyên vật liệu sản xuất

59

2.11

Bảng theo dõi lao động

60

2.12

Bảng chấm công

61

3.1

Bảng tổng hợp chi phí SXC theo cách ứng xử chi phí

71

3.2

Bảng định mức chi phí SXC Công ty cổ phần Thắng Lợi

72

3.3

Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

81

3.4

Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nhân công trực tiếp

83

3.5

Bảng phân tích chi phí sản xuất chung

84

3.6

Báo cáo chi phí sản xuất

85


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu

Tên hình

hình

Trang

1.1

Mô hình kế toán truyền thống

24

1.2

Mô hình kế toán ngược dòng

26

2.1

Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty Cổ phần Thắng Lợi

39

2.2
3.1

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của Công ty Cổ phần Thắng
Lợi
Quá trình tập hợp chi phí sản xuất trong phương pháp kế toán
ngược dòng

41
77


1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, trong giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế, sự cạnh tranh ngày càng
gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng nhanh và tạo ra sản phẩm với chi phí
sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm cao và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Để đạt được mục tiêu này, các nhà quản trị đòi hỏi kế toán phải cung cấp thông tin
một cách thường xuyên và liên tục nhằm phục vụ kịp thời cho việc ra quyết định.
Trên thế giới, sự phát triển kế toán quản trị đã được hình thành và phát triển
khá lâu, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam thì còn tương đối mới mẻ và chưa thực
sự quan tâm. Một hệ thống kế toán quản trị được tổ chức một cách khoa học sẽ cung
cấp doanh nghiệp những thông tin hữu ích trong việc điều hành hoạt động.
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, cạnh tranh là một yếu tố tất yếu
không thể tránh khỏi. Để tồn tại mọi doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình về mọi mặt. Trong đó yếu tố giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản
phẩm được xem là quan trọng nhất. Để làm được điều này doanh nghiệp phải cải
tiến hệ thống sản xuất cũng như các quy trình làm việc của mình sao cho có hiệu
quả nhất. Loại bỏ khỏi dây chuyền sản xuất những công đoạn không hợp lý, những
công đoạn thừa, từ đó sẽ giúp tiết kiệm chi phí sản xuất tạo điều kiện giảm giá thành
sản phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Một điều quan trọng nữa góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp đó là
tạo được niềm tin, sự tin tưởng của khách hàng về sản phẩm, về chất lượng sản
phẩm của doanh nghiệp cũng như dịch vụ chăm sóc khách hàng của doanh nghiệp.
Khách hàng là nền tảng của sự thành công của doanh nghiệp. Đáp ứng đúng nguyện
vọng của khách hàng đồng nghĩa với việc ta đã bước được một bước chân vào cánh
cửa thành công.
Đối với lĩnh vực may mặc tại Hội An, đây là một ngành mang tính đặc thù.
Đối tượng khách hàng chủ yếu là khách du lịch nước ngoài với nhu cầu đặt hàng và


2

nhận hàng trong thời gian rất ngắn. Vì thế khách hàng đòi hỏi chất lượng sản phẩm
cao, kịp thời và nếu không thỏa mãn nhu cầu kịp thời thì dễ dàng chọn nhà cung cấp
khác để đặt hàng. Một trong những giải pháp để đáp ứng tính kịp thời là áp dụng hệ
thống sản xuất tức thời - Just In Time (JIT). Mô hình này sẽ giúp cho doanh nghiệp
loại bỏ được sự lãng phí và bất hợp lý trong quy trình sản xuất, để có chi phí thấp
hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn, chất lượng sản phẩm đảm bảo và đúng thời
gian giao hàng.
Trong các doanh nghiệp may mặc tại Hội An, kế toán quản trị (KTQT) bước
đầu đã được triển khai nhưng vẫn còn nhiều lúng túng và bỡ ngỡ do nhận thức về
KTQT đối với các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, triển khai áp dụng chưa đồng bộ
và thiếu khoa học. Xuất phát từ yêu cầu mang tính khách quan cả về lý luận và thực
tiễn, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị theo mô hình Just In
Time tại Công Ty Cổ Phần Thắng Lợi” để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt
nghiệp.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
 Hệ thống hóa nội dung và đặc điểm kế toán quản trị trong các doanh
nghiệp sản xuất.
 Giới thiệu cơ sở lý luận và tầm quan trọng của việc áp dụng mô hình Just
In time.
 Khảo sát đánh giá công tác kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Thắng
Lợi để rút ra những thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc ứng
dụng lý thuyết kế toán quản trị.
 Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị phù
hợp với đặc thù của Công ty Cổ phần Thắng Lợi theo mô hình Just In Time.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cải tiến xây dựng hệ
thống kế toán quản trị theo mô hình JIT tại Công ty cổ phần Thắng Lợi.
 Phạm vi nghiên cứu: Nội dung của kế toán quản trị rất đa dạng và phong
phú, vì thế trong phạm vi giới hạn của luận văn này, tác giả không nghiên cứu toàn
bộ nội dung của kế toán quản trị, mà chỉ nghiên cứu, ứng dụng những nội dung phù


3

hợp đặc điểm của công ty cổ phần Thắng Lợi trong điều kiện ứng dụng mô hình
Just In Time.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:


Phương pháp quan sát phỏng vấn: Thông qua việc quan sát quá trình hoạt

động của bộ máy kế toán cũng như phỏng vấn kế toán trưởng - người trực tiếp điều
hành công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp.
 Phương pháp thu thập số liệu: Tập hợp tài liệu về kế toán quản trị tại các
doanh nghiệp và các tài liệu, công trình nghiên cứu áp dụng hệ thống JIT. Qua đó
nhằm tổng hợp, đánh giá khả năng áp dụng JIT trong điều kiện thực tiễn của Công
ty cổ phần Thắng Lợi.
 Phương pháp thống kế, phân tích: Các số liệu sau khi thu thập sẽ được
thống kê và tiến hành phân tích để đưa ra nhận định.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Với vai trò ngày càng quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp, KTQT
luôn được sự quan tâm của các nhà quản lý doanh nghiệp. Nó là công cụ không thể
thiếu giúp nhà quản trị thực hiện tốt chức năng của mình. Thực tế tại các doanh
nghiệp Việt Nam, các nhà quản lý doanh nghiệp chưa nhận thức được vị trí, vai trò,
chức năng và tác dụng công tác KTQT dẫn đến thiếu thông tin phù hợp để đưa ra
quyết định đúng đắn.
Hệ thống Just In Time là một mô hình sản xuất hiện đại, mang lại nhiều lợi
ích và khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Mô hình này đã thu hút được sự quan
tâm của nhiều doanh nghiệp trên thế giới và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động
của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, mô hình JIT còn mới lạ đối với nhiều doanh
nghiệp, các tài liệu viết về mô hình này chủ yếu bằng tiếng anh. Chính vì vậy nó
gây khó khăn cho các doanh nghiệp muốn tìm hiểu và vận dụng vào doanh nghiệp
mình.


4

Với nghiên cứu đề tài tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về KTQT,
mô hình JIT, ứng dụng mô hình JIT vào công tác KTQT. Qua kết quả nghiên cứu,
đánh giá thực trạng, điều kiện của doanh nghiệp có khả năng áp dụng JIT, chỉ ra
được những nguyên nhân tồn tại trong việc tổ chức công tác KTQT tại công ty, từ
đó đề xuất giải pháp hoàn thiện KTQT theo mô hình JIT tại Công ty Cổ phần
Thắng Lợi.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được chia thành ba chương:
Chương 1. Tổng quan những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị và mô
hình JIT.
Chương 2. Thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần Thắng
Lợi.
Chương 3. Hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty Cổ phần Thắng Lợi theo
mô hình JIT.


5

Chương 1
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ
TOÁN QUẢN TRỊ VÀ MÔ HÌNH JUST IN TIME
1.1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1. Lịch sử phát triển của kế toán quản trị
Kế toán chủ yếu tập trung vào ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài chính
của một tổ chức, các báo cáo này nhằm để truyền đạt thông tin tài chính của một tổ
chức. Khi nền sản xuất xã hội phát triển cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc
các nhà quản trị doanh nghiệp phải quan tâm đến thông tin cho việc ra quyết định.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ sản xuất, sự hình thành và phát
triển của các công ty có quy mô lớn, tập đoàn kinh tế nên đã có sự thay đổi về nhu
cầu thông tin và các phương pháp tiếp cận của nhà quản trị đối với các lĩnh vực
khác nhau trong kinh doanh. Từ đó hình thành một hệ thống kế toán cung cấp thông
tin cho các đối tác bên ngoài doanh nghiệp gọi là kế toán tài chính và một hệ thống
cung cấp thông tin nội bộ cho các nhà quản trị để ra quyết định kinh doanh đúng lúc
là KTQT.
KTQT được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, kể cả các tổ chức không vì
mục đích lợi nhuận. Theo giáo sư Lyle E.Jacobsen viết trên báo London Economist
tháng 06/1960, thì người đầu tiên viết về KTQT là Thomas Suther Land - một nhà
kinh doanh người Anh. Vào năm 1875, ông đã viết: “ Các doanh nghiệp cần phải
được xác định lợi nhuận của một năm hoặc một thời gian ngắn hơn nữa. Cho nên có
một điều hiển nhiên là các nhà quản lý cần phải nắm được các thông tin chi tiết về
hoạt động của doanh nghiệp, các thông tin này có thể thu thập được ngay trong thực
tiễn hàng ngày của doanh nghiệp, nó trợ giúp cho các nhà quản lý hiểu được nhanh
chóng và rõ ràng những nguyên nhân có thể ảnh hưởng tốt, xấu đến hoạt động của
doanh nghiệp”.


6

Về sự phát triển của KTQT, KTQT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm
đầu thế kỉ XIX trong các ngành công nghiệp dệt lụa, đường sắt, sau đó thâm nhập
vào các ngành công nghiệp thuốc lá, luyện kim, hóa chất..và đến năm 1925 KTQT
đã thâm nhập vào hầu hết các ngành kinh tế.
Cho đến thập kỉ 80, do sức ép cạnh tranh và sự thành công vượt bậc của các
doanh nghiệp ở Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản. Các phương pháp Just In Time (JIT)
và kế toán chi phí,.. được áp dụng rộng rãi và lần đầu tiên KTQT cũng được đưa
vào giảng dạy tại Đại Học Kinh Doanh Harvard và Viện Công Nghệ Massachusets.
Ở Châu Á, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, cùng với sự phát triển của các
trường phái quản trị theo kiểu Nhật Bản, KTQT cũng được hình thành để phục vụ
cho nhu cầu thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp. Các phương pháp KTQT
theo kiểu Nhật Bản được nói nhiều đến là Target costing và Kaizen costing.
Target costing (tạm dịch là quản trị chi phí theo mục tiêu) là phương pháp
quản trị chi phí được sử dụng nhằm đạt được lợi nhuận đã đặt ra. Với mỗi loại sản
phẩm, để đạt được mức lợi nhuận mong muốn họ phải tìm cách giảm chi phí đến
mức mong muốn trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và cung ứng vật tư.
Phương pháp Target costing được áp dụng ở Nhật Bản trong nhiều năm nay.
Theo một nghiên cứu của Đại học Kobe ở Nhật Bản: 100% các doanh nghiệp sản
xuất phương tiện giao thông, 75% doanh nghiệp sản xuất thiết bị chính xác, 88%
các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện và 83% các doanh nghiệp chế tạo máy ở
Nhật Bản áp dụng phương pháp này. Người Nhật tin rằng kết quả thu được từ việc
áp dụng Target costing còn tốt hơn nếu họ đầu tư nhiều vào giai đoạn nghiên cứu
phát triển và thiết kế bằng cách chuyển bớt chi phí sản xuất sang giai đoạn này.
Ở Mỹ, Target costing cũng được coi là một phương pháp quản trị, tuy nhiên nó
không chỉ là phương pháp kiểm soát chi phí mà còn được hiểu là phương pháp lập
kế hoạch lợi nhuận và quản trị chi phí. Các công ty Boing, Eastman Kodak, Texas
Intruments và Daimler Chrysler đã áp dụng thành công Target costing trong một số
bộ phận của doanh nghiệp.


7

Cùng với Target costing, Kaizen costing là phương pháp giảm chi phí do
Yashuhiro Monden phát triển trên cơ sở phương pháp quản trị Kaizen. Đây là
phương pháp quản trị với phương châm "cải thiện từng bước nhỏ". Mục tiêu của
Kaizen costing là doanh nghiệp phải liên tục giảm được chi phí. Để thực hiện mục
tiêu này các nhà quản trị phải thường xuyên phân tích sự thay đổi chi phí thực tế và
không ngừng cải tiến hệ thống sản xuất ngày càng tốt hơn. Thực hiện khẩu hiệu
"không ngày nào không có cải tiến" các doanh nghiệp áp dụng Kaizen thường
xuyên cải tiến quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, bố trí lao động hợp
lí, nâng cao năng suất lao động của công nhân viên, giảm thất thoát vật tư và giảm
chi phí sản xuất. Do đặt ra các mục tiêu nhỏ dễ thực hiện nên Kaizen đã trở thành
phương pháp quản trị được áp dụng rộng rãi và trở thành bí quyết thành công của
các doanh nghiệp Nhật Bản. Ngày nay phương pháp này đang được áp dụng rộng
rãi trong các doanh nghiệp ở Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu như: Toyota, Ford, IBM,
Bosch, Opel, VW, Mercedes-Benz, ...
Nghiên cứu sự phát triển của KTQT cho thấy, KTQT hình thành và phát triển
xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp. Môi trường cạnh tranh buộc
các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp mở rộng, phát triển thị trường, giảm chi
phí để nâng cao lợi nhuận. KTQT là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị
kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong
doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp và hiệu quả.
Ở Việt Nam, KTQT là một lĩnh vực tương đối mới mẻ. KTQT mới chỉ được
nhắc đến và đưa vào giảng dạy trong các trường đại học ở nước ta trong khoảng 10
năm trở lại đây. Phần lớn các doanh nhân còn xa lạ với KTQT và nhầm lẫn kế toán
này với kế toán chi phí. Mặc dù đều nhằm mục đích thông tin cho các nhà quản trị
nhưng có sự khác nhau về mục đích và phạm vi giữa hai loại kế toán này. Mục đích
của kế toán chi phí là để xác định giá thành trong khi đó KTQT lại căn cứ vào giá
thành để quyết định có sản xuất hay không. Đối với kế toán chi phí, giá thành là kết
quả của việc thực hiện các quyết định của nhà quản trị. Ngược lại, giá thành trong
kế toán quản trị chỉ là cơ sở để ra quyết định kinh doanh. Kế toán quản trị ở nước ta


8

hiện nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ tương xứng với vị trí và vai trò của nó
trong quản trị doanh nghiệp.[8.]
1.1.2. Bản chất của kế toán quản trị
Kế toán nói chung được hiểu là hệ thống thu thập, xử lý các thông tin về các
hoạt động kinh tế xảy ra trong doanh nghiệp. Theo mục đích cung cấp thông tin, hệ
thống kế toán trong doanh nghiệp được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản
trị. Mục đích của KTTC là lập các báo cáo tài chính để cung cấp thông tin cho
người sử dụng. Đây là nguồn thông tin duy nhất về tình hình tài chính của doanh
nghiệp được cung cấp ra bên ngoài. Khác với KTTC, đối tượng sử dụng thông tin
của KTQT chỉ là các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp. Những người ngoài
doanh nghiệp không được phép tiếp cận các thông tin kế toán quản trị của doanh
nghiệp. Các thông tin này được coi là bí mật của doanh nghiệp.
Kế toán tài chính là một bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu cho
những người bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm chủ sở hữu, ngân hàng, nhà đầu tư,
chủ nợ, khách hàng và tất cả những ai quan tâm đến doanh nghiệp. Những người
này tiếp nhận thông tin qua báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh. Mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp cho người ngoài doanh nghiệp
bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Qua đó, người ngoài
doanh nghiệp có thể ra các quyết định liên quan đến việc đầu tư và trợ cấp tài chính.
Như vậy, KTTC với việc cung cấp các báo cáo tài chính cho người bên ngoài đóng
vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Thông tin từ báo cáo tài chính là công
khai và làm nền tảng để mọi cá nhân, tổ chức có thể ra quyết định trong một môi
trường kinh doanh thuận lợi.
Kế toán quản trị là một chuyên ngành kế toán thực hiện việc ghi chép, đo
lường, tính toán, thu thập, tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế có thể định
lượng nhằm phục vụ chủ yếu cho các nhà quản trị doanh nghiệp.
Theo luật kế toán Việt Nam ở khoản 3 điều 4, “ KTQT là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế


9

tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Như vậy, KTQT là một bộ phận cấu thành hệ
thống kế toán doanh nghiệp, KTQT cũng thu thập xử lý và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính nhưng lại theo yêu cầu về thông tin phục vụ cho quản trị của nhà quản
trị. Như vậy đối tượng sử dụng thông tin KTQT là các cấp quản trị trong doanh
nghiệp.
Kế toán quản trị là bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho nhà quản lý tại
doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ. Khái niệm KTQT được Hiệp
hội kế toán Mỹ định nghĩa: “Là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích,
lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban
quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ
doanh nghiệp, đảm bảo sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài
sản này”. Những người bên trong doanh nghiệp rất đa dạng gọi chung là các nhà
quản lý, nhưng nhu cầu thông tin của họ phản ánh một mục đích chung là phục vụ
quá trình ra quyết định nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Do nhu cầu thông tin nội bộ rất
đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp nên các báo cáo nội bộ do KTQT cung
cấp không mang tính tiêu chuẩn như báo cáo tài chính. KTQT đặt trọng tâm giải
quyết các vấn đề quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, kế toán quản trị phải thiết kế các
thông tin kế toán sao cho nhà quản trị có thể dùng vào việc thực hiện chức năng
quản trị. [ 6, tr.16-17]
Như vậy, KTTC nhằm cung cấp thông tin công khai đến người mang phương
tiện tài chính, trong khi đó KTQT nhằm tạo ra các thông tin phục vụ người làm
công việc quản trị nội bộ.
Dưới góc độ công tác kế toán thì KTTC được xem nhưu để xử lý và dàn xếp
các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, nó được lượng hóa
bằng tiền cũng như những dòng tiền tệ, dòng vật chất được hình thành giữa doanh
nghiệp với các đơn vị bên ngoài như nhà đầu tư, khách hàng, nhà cung cấp…Như
thế việc tập hợp các thông tin trên thông qua bảng CĐKT, báo cáo KQKD.


10

Thường người ta giải thích KTTC nhằm cung cấp những thông tin đã xay ra
cho người sử dụng bên ngoài của doanh nghiệp. Như vậy, đối lập KTTC, KTQT là
kế toán quan tâm đến người sử dụng bên trong doanh nghiệp. Nhiều tác giả nhấn
mạnh sự đối nghịch này bằng cách nhấn mạnh trạng thái đã xảy ra của KTTC trong
khi KTQT hướng đến việc quyết định, có nghĩa là KTQT sẽ hướng đến tương lai
của doanh nghiệp.
1.1.3. Chức năng kế toán quản trị
Phân tích cách ứng xử của chi phí: Đây là nội dung cơ bản của quản trị chi
phí, việc hoạch định, dự toán và kiểm soát chi phí yêu cầu phải phân loại chi phí.
Trong khi phân tích chi phí cần phải xem xét nội dung, bản chất từng loại chi phí,
các biến đổi của chi phí khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi.
Lập dự toán và truyền đạt thông tin: Dự toán là cơ sở định hướng và chỉ đạo
mọi hoạt động kinh doanh, là cơ sở để kiểm tra và kiểm soát các nội dung chi phí
cũng như nhiệm vụ của từng bộ phận. Các dự toán đóng vai trò là hạt nhân quan
trọng trong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản
trị. Vì vậy, KTQT phải đảm bảo truyền đạt các thông tin dự toán và thông tin khác
cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp.
Kiểm tra, đánh giá và cổ động: KTQT có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát mọi
hoạt động kinh doanh từ trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh của đơn
vị. Là quá trình so sánh quá trình thực hiện và dự toán nhằm điều chỉnh dự toán và
đánh giá việc thực hiện. Việc kiểm tra, kiểm soát của KTQT được thực hiện thông
qua hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
Hỗ trợ ra quyết định: KTQT phải có công cụ thích hợp giúp các nhà quản trị
phân biệt được các thông tin thích hợp và không thích hợp nhằm xác định thông tin
phù hợp mang lại hiệu quả hơn cho doanh nghiệp.


11

1.1.4. Mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
Xuất phát từ mục đích cung cấp các thông tin khác nhau phục vụ cho công tác
quản lý. Do đó, giữa KTTC và KTQT có những điểm khác biệt:
- Đối tượng sử dụng thông tin kế toán: Đối với KTTC, người sử dụng thông
tin chủ yếu là người ngoài doanh nghiệp, đối tượng sử dụng thông tin KTQT là các
nhà quản lý doanh nghiệp.
- Mục đích: Kế toán tài chính được tổ chức nhằm lập ra các báo cáo tài chính,
đặt trong tâm đến việc cung cấp thông tin cho những cá nhân và tổ chức bên ngoài
doanh nghiệp. Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin qua các báo cáo nội bộ
mà còn tham gia vào công tác quản trị doanh nghiệp: từ việc lập kế hoạch đến điều
hành, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định.
- Tuân thủ theo nguyên tắc kế toán chung đã được chấp nhận: Kế toán tài
chính phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung đã được chấp nhận nhằm
đảm bảo thông tin trên các báo cáo tài chính. Kế toán quản trị không nhất thiết phải
tuân thủ theo nguyên tắc kế toán
- Đặc điểm của thông tin kế toán: Thông tin kế toán tài chính phản ánh những
sự kiện kinh tế tài chính đã xảy ra. Thông tin kế toán quản trị phản ánh những sự
kiện đã, đang và sắp xảy ra.
- Tần số báo cáo và thời gian báo cáo: Báo cáo tài chính cung cấp cho người
ngoài theo thời gian đã quy định, thường định kỳ vào cuối quý và cuối năm. Ngược
lại, kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên, liên tục vào bất kỳ thời điểm
nào tùy thuộc vào yêu cầu của nhà quản lý.
- Phạm vi báo cáo: Báo cáo tài chính phản ánh hoạt động kinh doanh tài chính
của doanh nghiệp. Ngược lại, báo cáo kế toán quản trị thường phản ánh một mặt,
một phần hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán quản trị vì thế gắn liền
với phân cấp quản lý trong doanh nghiệp.
- Tính pháp lý của việc tổ chức kế toán quản trị và kế toán tài chính: Do kế
toán tài chính cung cấp các báo cáo tài chính cho người bên ngoài nên kế toán tài
chính phải được chuẩn hóa và có tính pháp lệnh cao. Kế toán quản trị được tổ chức
tùy thuộc vào yêu cầu của quản lý và khả năng của bộ phận kế toán doanh nghiệp,


12

do vậy thông tin này không cần được chuẩn hóa và có thể có đơn vị không tổ chức
bộ phận này trong nội bộ doanh nghiệp.
1.1.5. Hệ thống thông tin kế toán quản trị
Trong một doanh nghiệp, hệ thống thông tin thường được tổ chức thành các hệ
thống con sau đây:
-

Hệ thống thông tin thị trường
Hệ thống thông tin sản xuất
Hệ thống thông tin tài chính
Hệ thống thông tin nhân sự
Hệ thống thông tin kế toán
Các hệ thống thông tin con trên đều có mối quan hệ qua lại với hệ thống thông

tin kế toán. Các hệ thống thông tin đều phải huy động và sử dụng nhiều loại tài sản
khác nhau trong quá trình hoạt động của mình. Trong khi kế toán là quá trình theo
dõi, thu thập, xử lý nhằm cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động của toàn
bộ tài sản trong doanh nghiệp, các hệ thống thông tin ở trên sẽ tham gia cung cấp dữ
liệu đầu vào cho hệ thống thông tin kế toán. Hệ thống thông tin có trách nhiệm xử
lý thành các thông tin phục vụ cho công tác quản lý. Ngoài ra, các thông tin môi
trường bên ngoài cũng có một vai trò rất quan trọng trong quản lý doanh nghiệp.
Hệ thống thông tin kế toán được coi là một thành phần quan trọng trong việc
cung cấp thông tin cho các cấp độ ra quyết định. Hệ thống thông tin kế toán bao
gồm:
- Hệ thống thông tin kế toán tài chính: Hệ thống này cung cấp thông tin chủ
yếu cho những người ngoài doanh nghiệp: ngân hàng, nhà đầu tư, chủ nợ, khách
hàng…Họ tiếp cận thông tin qua các báo cáo tài chính: bảng cân đối kế toán, báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tê.
- Hệ thống thông tin kế toán quản trị: Hệ thống này cung cấp thông tin cho
những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ để dự báo
các sự kiện xảy ra và dự đoán các ảnh hưởng tài chính đối với doanh nghiệp cũng
như quản trị thực hiện mục tiêu tài chính của đơn vị.


13

1.1.6. Sự cần thiết của hệ thống thông tin kế toán quản trị
Ở các nước theo nền kinh tế thị trường, vai trò kế toán quản trị ngày càng
được mở rộng với những lý do: Phương pháp sản xuất thay đổi nhanh chóng dẫn
đến sự cạnh tranh ngày càng gia tăng khiến các nhà quản lý phải đương đầu trong
việc định giá và tính giá sản phẩm. Các mô hình quản lý và ra quyết định cũng thay
đổi nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và công cụ phân tích định lượng.
Với sự chuyển biến trên đã đặt ra nhu cầu thông tin ngày càng cao trong công
tác quản lý. Kế toán quản trị là một bộ phận kế toán linh hoạt do doanh nghiệp xây
dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý.
Kế toán quản trị tồn tại rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiêp. Tuy
nhiên, kế toán quản trị hầu hết chỉ mới được hệ thống hóa và phát triển về mặt lý
luận và thực tiễn trong các doanh nghiệp có quy mô, có sự tiến bộ nhất định về mặt
khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, điều kiện xử lý thông tin.
Ở nước ta, khái niệm kế toán quản trị còn khá mới mẻ. Hiện nay, các doanh
nghiệp được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và cần nâng cao chất lượng
quản lý để tăng cường năng lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh, hệ thống
thông tin kế toán quản trị trở thành yêu cầu cấp bách.
Về mặt luật pháp, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể để
phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế, theo đó hệ thống tài khoản kế toán mới cùng
với các chuẩn mực kế toán đã hình thành. Đây là cơ sở để từng bước xây dựng kế
toán quản trị độc lập với kế toán tài chính.
1.2. MÔ HÌNH JUST IN TIME VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ THEO MÔ
HÌNH JUST IN TIME
1.2.1. Mô hình just in time (JIT)
1.2.1.1. Khái niệm JIT
Just In Time (JIT) được gói gọn trong một câu: “Đúng sản phẩm với đúng sô
lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm”. Trong sản xuất hay dịch vụ, mỗi công đoạn


14

của quy trình sản xuất ra một số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất
tiếp theo cần tới. Do đó, sản xuất không bị gián đoạn, không có hoặc có rất ít hàng
tồn kho, thời gian sản xuất được rút ngắn tối đa. Điều này cũng đúng với giai đoạn
cuối cùng của quy trình sản xuất, tức là hệ thống chỉ sản xuất ra những cái mà
khách hàng muốn. Nói cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó các luồng
nguyên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm truyền vận trong quá trình sản xuất và phân
phối được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thực
hiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt.[1, tr.106-108]
Khía cạnh quan trọng khác của JIT là việc sử dụng một hệ thống “kéo” (pull)
để di chuyển những tồn kho xuyên qua dây chuyền sản xuất. Với một hệ thống như
vậy, những yêu cầu của công đoạn tiếp theo sẽ điều chỉnh sản lượng của công đoạn
trước đó. Vì vậy đối với JIT thật cần thiết để định nghĩa một quá trình nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho việc “kéo” các lô từ một công đoạn sang công đoạn kế tiếp.
JIT là một bộ nguyên tắc, các công cụ kỹ thuật cho phép một công ty sản xuất
và phân phối sản phẩm theo từng lô nhỏ, trong thời gian ngắn, đáp ứng nhu cầu cụ
thể của khách hàng.
Doanh nghiệp áp dụng hệ thống sản xuất JIT, điểm bắt đầu của quy trình là từ
yêu cầu đặt hàng của khách hàng, trên cơ sở đó xác định nhu cầu cho từng giai đoạn
và các yếu tố đầu vào. Do đó, doanh nghiệp có thể giảm thiểu đến mức thấp nhất
lượng tồn kho nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm, tiết kiệm được
nhiều chi phí như chi phí lưu kho, vận chuyển…
Doanh nghiệp áp dụng mô hình JIT với quan điểm sản xuất theo định hướng
khách hàng, hướng tới mục tiêu tối đa hóa sự thỏa mãn của khách hàng, mọi hoạt
động không tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng được xem là lãng phí và cần loại
bỏ. Đồng thời, việc áp dụng JIT đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng quy trình sản
xuất chuẩn hóa và hiệu quả với sự kiểm soát chặt chẻ để đảm bảo chất lượng sản
phẩm. [1, tr.207-208]


15

1.2.1.2. Những đặc trưng cơ bản của mô hình JIT
 Mức độ sản xuất đều và cô định
Ngoài mục tiêu giảm các lãng phí, hệ thống JIT còn cố gắng duy trì mức sản
xuất đều đặn nhằm dễ dàng đáp ứng các yêu cầu sản xuất trên dây chuyền lắp ráp
sản phẩm. Thông thường khi có nhu cầu thay đổi, nhà sản xuất dự trù mức tăng
giảm 10% hàng tháng.Với mức thay đổi này thì hệ thống còn có thể tự điều chỉnh
được. Nhưng nếu biến động nhu cầu hơn mức đó thì buộc phải tăng mức tồn kho
hoặc buộc phải tăng ca hay làm thêm giờ. Để thực hiện sản xuất đều đặn, ta phải
biết nhu cầu lượng hàng cần sản xuất theo kế hoạch.
 Sử dụng hệ thông kéo
Áp dụng mô hình này trong sản xuất đòi hỏi một sự đảo lộn trong quá trình
sản xuất, mà bình thường vẫn gọi là “hệ thông đẩy”
Thuật ngữ “đẩy” và “kéo” dùng để mô tả hai hệ thống khác nhau nhằm
chuyển dịch công việc thông qua quá trình sản xuất.
Hệ thống đẩy là phương pháp tổ chức sản xuất theo dự báo nhu cầu thị trường.
Phương pháp này tạo ra hàng tồn kho và “đẩy” hàng ra thị trường để đáp ứng nhu
cầu thực tế. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện, có nhiều thời
gian để sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Nhưng bên cạnh đó phương pháp đẩy bộc
lộ những nhược điểm lớn như: tạo ra khối lượng hàng tồn kho lớn, chu kỳ sản xuất
dài, chi phí dự trữ cao, có những trường hợp hàng dự trữ không bán được do dự báo
nhu cầu không chính xác. Phương pháp này đòi hỏi lượng vốn lưu động lớn, vòng
quay chậm. Với hệ thống này người ta đặt ra một kế hoạch trước cho một loạt các
khâu làm việc và mỗi khâu làm việc sẽ đẩy các chi tiết sản phẩm hoàn thành sang
khâu làm việc kế đó, không cần quan tâm đến khâu kế tiếp theo đã sẳn sàng chuẩn
bị cho công việc hay chưa. Vì vậy công việc có thể bị chất đống, bị ùn tắt.
Trái lại với hệ thống kéo, hoạch định sản xuất dựa trên nhu cầu và đơn hàng
thực tế của thị trường, nghĩa là nhu cầu của khách hàng “kéo” hàng từ nơi sản xuất


16

về phía thị trường. Với phương pháp này, các công ty không sản xuất sản phẩm
trước mà trì hoãn đến khi nhận được đơn hàng mới tiến hành tổ chức sản xuất, nhờ
đó giảm được vốn lưu động, tăng vòng quay vốn, phản ứng nhanh và hiệu quả hơn
với những thay đổi của thị trường. Nhưng thực hiện phương pháp này đòi hỏi phải
đáp ứng được những yêu cầu rất khắt khe như: phải có khả năng phản ứng nhanh
trước những yêu cầu của thị trường, tổ chức linh hoạt (do phải đáp ứng nhiều đơn
hàng có quy mô nhỏ), phải tổ chức và quản lý tốt hệ thống thông tin, chu trình sản
xuất được quản lý chặt chẽ, khoa học, có khả năng đáp ứng được yêu cầu nghiêm
ngặt về tiến độ , thời gian giao hàng… [12]
Phương pháp kéo là phương pháp bố trí dòng vật liệu được sử dụng chủ yếu
trong mô hình JIT. Mô hình JIT là một phương pháp kéo nhằm mục đích đảm bảo
lượng tồn kho vật tư luôn ở mức thấp có thể chấp nhân được, trong đó nhu cầu của
khách hàng được đưa trực tiếp và tạo nhu cầu kéo toàn bộ hệ thống sản xuất. Vì thế
nhu cầu vật tư phải đáp ứng chủng loại, số lượng, đúng bộ phận đang cần một cách
nhanh chóng. Với yêu cầu thay đổi sản phẩm kịp nhu cầu của khách hàng, nhà sản
xuất phải có dây chuyền sản xuất thật linh động để thay đổi nhanh chóng các khuôn
mẫu, nhằm giảm thời gian chết trong sản xuất, quản lý tồn kho hiệu quả. Dòng
nguyên vật liệu trong mô hình JIT sẽ được kéo từ nhu cầu thực tế, quá trình trước
kéo quá trình sau.


17

 Kích thước lô hàng nhỏ
Việc giảm lượng hàng tồn kho đến mức thấp nhất là điều mong muốn đối với
mô hình JIT, lựa chọn lô hàng có kích thước nhỏ là được ưu tiên với những lý do
sau:
+ Một là kích thước lô hàng nhỏ làm giảm đáng kể thời gian tồn kho nguyên
vật liệu, chi phí lưu kho giảm tương ứng, giảm giá thành sản phẩm, là yếu tố làm
tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm hàng hóa.
+ Hai là số lượng một đơn hàng nhỏ sẽ làm rút ngắn thời gian giao hàng nhờ
phân nhỏ số lượng ra nhiều trạm trong sản xuất, kiểm tra chất lượng lô hàng dễ
dàng hơn và khi có sai sót thì chi phí sữa chữa lô hàng sẽ thấp hơn lô hàng có kích
thước lớn.
+ Ba là lượng tồn kho ít làm cho việc điều khiển công việc đơn giản hơn, hệ
thống sản xuất linh hoạt hơn nhờ việc thiết kế tồn kho ở các khu vực sản xuất ở mức
thấp
 Lắp đặt với chi phí thấp và nhanh
Mục đích của mô hình JIT là giảm thiểu chi phí ở tất cả các khâu trong quá
trình sản xuất cũng như phân phối. Điều này gắn liền với việc phải đào tạo được
một đội ngũ công nhân lành nghề, thường xuyên huấn luyện để nâng cao kỹ năng
trong công việc. Đồng thời công cụ và thiết bị cũng như quá trình lắp đặt phải đơn
giản và đạt được tiêu chuẩn hóa, có thể giúp giảm thời gian lắp đặt. Hơn nữa, người
ta có thể sử dụng nhóm công nghệ để giảm chi phí và thời gian lắp đặt nhờ tận dụng
sự giống nhau trong những thao tác có tính lặp lại. Quá trình xử lý một loạt các chi
tiết tương tự nhau trên những thiết bị giống nhau có thể làm giảm yêu cầu thay đổi
việc lắp đặt, sự tinh chỉnh trong trường hợp này là cần thiết.
 Sửa chữa và bảo trì định kỳ
Để giảm thiểu việc hư hỏng máy móc, doanh nghiệp sử dụng các chương trình
bảo trì định kỳ, trong đó nhấn mạnh vào việc duy trì thiết bị trong điều kiện hoạt


18

động tốt nhất và vào việc thay thế những cụm chi tiết có dấu hiệu hỏng trước khi sự
cố xảy ra. Công nhân thường có trách nhiệm bảo trì thiết bị máy móc của mình.
Mặc dù có bảo trì định kỳ, đôi khi thiết bị cũng hư hỏng. Vì vậy, cần thiết phải
chuẩn bị cho điều này và phải có khả năng sửa chữa cũng như đưa thiết bị vào sản
xuất một các nhanh chóng. Muốn vậy, doanh nghiệp cần có những chi tiết dự phòng
và duy trì lực lượng sửa chữa nhỏ hoặc huấn luyện công nhân tự mình sửa chữa
những hư hỏng đột xuất có thể xảy ra.
 Bô trí mặt bằng hợp lý
Mô hình JIT thường sử dụng bố trí mặt bằng dựa trên nhu cầu sản phẩm.
Thiết bị được sắp xếp để điều khiển những dòng sản phẩm giống nhau, có nhu cầu
lắp ráp hay xử lý giống nhau. Để tránh việc di chuyển một khối lượng chi tiết lớn
trong khu vực thì người ta đưa những lô nhỏ chi tiết từ trung tâm làm việc này đến
trung tâm làm việc kế tiếp, như vậy thời gian chờ đợi và lượng sản phẩm dở dang sẽ
được giảm đến mức tối thiểu. Mặt khác, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu sẽ giảm
đáng kể và không gian cho đầu ra cũng giảm. Các nhà máy có khuynh hướng nhỏ
lại nhưng có hiệu quả hơn và máy móc thiết bị có thể sắp xếp gần nhau hơn, từ đó
tăng cường sự giao tiếp trong công nhân.
 Lực lượng lao động đa kỹ năng
Mô hình JIT đòi hỏi phải linh hoạt nên lực lượng lao động không những
chuyên môn hóa mà còn được huấn luyện nhiều thao tác nhằm thông thạo nhiều
công việc khác nhau, vì người công nhân đa kỹ năng sẽ đáp ứng nhanh các công
việc bố trí. Tuy nhiên phương pháp này còn hạn chế là mất nhiều thời gian và chi
phí cho việc đào tạo công nhân đáp ứng yêu cầu của mô hình.
 Chất lượng cao, ổn định
Mô hình JIT đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao. Mô hình này ứng với dòng
công việc liên tục, nên nếu có sự trục trặc do chất lượng kém sẽ tạo ra sự phá vở
công việc này.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x