Tải bản đầy đủ

HOÀN THIỆN CÔNG tác QUẢN lý THU bảo HIỂM xã hội tại bảo HIỂM xã hội TỈNH QUẢNG NAM

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------

NGUYỄN THỊ THANH THANH

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ
HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Đà Nẵng, Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------

NGUYỄN THỊ THANH THANH

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM

XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã ngành: 60.34.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Tùng

Đà Nẵng, Năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BHXH
NLĐ
SDLĐ
DN
HCSN
UBND
NSNN

Ý nghĩa
Bảo hiểm xã hội
Người lao động
Sử dụng lao động
Doanh nghiệp
Hành chính sự nghiệp
Uỷ ban nhân dân
Ngân sách nhà nước


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN......................................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................... 1


CHƯƠNG 1............................................................................................................................................... 6
LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI..........................................6
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ THU BHXH........................................................................................................ 10
CHƯƠNG 2............................................................................................................................................. 27
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM.......27
CHƯƠNG 3............................................................................................................................................. 57
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH TẠI BHXH TỈNH QUẢNG NAM.............................57
KẾT LUẬN............................................................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................... 81


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang
Error
:
Refer

2.1

Tình hình nợ đọng BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Nam

ence

2014-2016

sourc
e not
foun
d
Error
:
Refer

2.2

Tình hình thực hiện kế hoạch kiểm tra tại BHXH tỉnh

ence

Quảng Nam 2014 - 2016

sourc
e not
foun
d
Error
:
Refer

2.3

Số lượng đơn vị tham gia BHXH tại BHXH tỉnh Quảng

ence

Nam 2014-2016

sourc
e not
foun

2.4

d
Số lượng lao động tham gia BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Error


Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang
:
Refer
ence

Nam 2014-2016

sourc
e not
foun
d
Error
:
Refer

2.5

Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH tại BHXH tỉnh

ence

Quảng Nam 2014-2016

sourc
e not
foun
d


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách quan trọng trong hệ
thống an sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới. BHXH là một trong những
công cụ hữu ích của Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng,
ổn định và công bằng trong quản lý kinh tế vĩ mô.
Bước vào thời kỳ đổi mới, hoạt động bảo hiểm đã có bước phát triển,
tăng nguồn thu quỹ bảo hiểm xã hội hàng năm để sử dụng vào sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo hiểm xã hội góp phần đảm bảo chi cho
các đối tượng được hưởng chính sách, không ngừng nâng cao đời sống, ổn
định kinh tế xã hội. Trong những năm qua cùng với quá trình phát triển kinh
tế, các thành phần kinh tế trong nước phát triển cả về số lượng và chất lượng,
công tác BHXH càng có cơ hội tạo địa bàn hoạt động, tăng nguồn thu, mở
rộng đối tượng thu không những trong khu vực kinh tế Nhà nước mà lan tỏa
sang các thành phần kinh tế khác. Nhận thức của người dân về BHXH ngày
càng cao, ý thức chấp hành và hoạt động BHXH ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, công tác quản lý BHXH còn một số hạn chế, yếu kém, quản
lý nhà nước về BHXH chưa đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thực hiện các chế
độ, chính sách BHXH còn có thiếu sót, tình trạng NLĐ và đơn vị SDLĐ vi
phạm trong việc thực hiện BHXH còn phổ biến như nợ và trốn đóng BHXH
còn nhiều, Quỹ BHXH nhất là quỹ hưu trí, tử tuất có nguy cơ mất cân đối
trong tương lai gần; tình trạng NLĐ lạm dụng chính sách BHXH xảy ra khá
phổ biến.
Từ khi thành lập đến nay, BHXH tỉnh Quảng Nam đã luôn cố gắng nỗ
lực phấn đấu trong công tác quản lý BHXH nên kết quả thu hằng năm đạt và
vượt 100% kế hoạch hằng năm. Tuy nhiên kết quả đó vẫn chưa tương xứng


2

với tiềm năng của tỉnh, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác
quản lý BHXH đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập nên việc đánh giá đúng thực
trạng và tìm ra được những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH
là một vấn đề vô cùng bức thiết, do vậy tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác
quản lý thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam” làm
luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thu
BHXH.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh
Quảng Nam giai đoạn 2014 – 2016.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại
BHXH tỉnh Quảng Nam
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Nội dung cơ bản của công tác quản lý thu BHXH bao gồm những vấn

đề gì? Các tiêu chí nào phản ánh kết quả của công tác đó? Nhân tố nào ảnh
hướng đến công tác quản lý thu BHXH?
- Thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Nam
trong thời gian qua như thế nào? Những thành công đạt được, hạn chế và
nguyên nhân?
- BHXH tỉnh Quảng Nam cần phải làm gì để hoàn thiện công tác quản lý
thu BHXH của mình?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý thu BHXH tại
BHXH tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tại BHXH tỉnh Quảng Nam từ năm
2014 đến 2016.


3

5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích thực chứng
- Phương pháp phân tích chuẩn tắc
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp phân tích so sánh
- Phương pháp phân tích thống kê
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quản lý thu BHXH tại
BHXH tỉnh Quảng Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh
Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác này.
7. Bố cục của đề tài
Luận văn ngoài lời mở đầu, kết thúc, tài liệu tham khảo và mục lục, gồm
có 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về BHXH và công tác quản lý thu BHXH.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh
Quảng Nam.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
tại bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam.
8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để có nguồn thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã
tham khảo từ một số nghiên cứu đi trước, để từ đó rút ra những định hướng và
phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với đề tài của mình, điển hình như:
- Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực kinh
tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai”, Tác giả Trần Ngọc Tuấn, Luận văn thạc
sĩ, Đại học Đà Nẵng (2012). Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
về BHXH để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của hệ thống BHXH, chỉ ra


4

được phương hướng và nhiệm vụ công tác quản lý thu BHXH khu vực kinh tế
tư nhân trong thời gian tới; phân tích, đánh giá được thực trạng công tác quản
lý thu BHXH khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong những
năm qua; những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện thu BHXH
khu vực KTTN; Xác định các yếu tố tác động đến việc thu BHXH khu vực
kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Từ đó, tác giả đã đề xuất phương
hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động thu
BHXH khu vực KTTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Đề tài “Hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện
Krông Nô tỉnh Đăk Nông”, Tác giả Trần Ngọc Quân, Luận văn thạc sĩ, Đại
học Đà Nẵng (2015). Đề tài phân tích thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc
ở huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông thông qua việc phân tích các số liệu thu
thập được. Qua phân tích, tác giả hiểu được công tác thu BHXH bắt buộc hiện
nay đến đâu cũng như những mặt được và hạn chế của nó. Trên cơ sở đó, tác
giả tổng hợp, xâu chuỗi, so sánh giữa lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra các
quan điểm, mục tiêu, phương hướng để đưa ra các giải pháp góp phần hoàn
thiện công tác thu BHXH bắt buộc ở huyện Krông Nô.
- Đề tài “Hoàn thiện quản lý thu BHXH ở Việt Nam” , Tác giả Đỗ Văn
Sinh, Luận văn tiến sĩ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005). Đề
tài nghiên cứu về quá trình tiến hành công tác thu là thu đúng, thu đủ số tiền
đóng BHXH từ các đối tượng tham gia và việc tăng cường công tác quản lý
thu là vấn đề được cơ quan quản lý và mọi người rất quan tâm. Để hình thành
nên một kế hoạch thu, một chính sách thu BHXH thích ứng với cơ chế quản
lý kinh tế trong quá trình đổi mới, đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết hàng
loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn. Luận án đề xuất những giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý quỹ BHXH.


5

- Đề tài “Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội đến năm 2020”, Tác giả Nguyễn Huy Ban, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ (1996). Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội, việc thực hiện BHXH ở một số nước trên thế giới và thực
trạng chính sách BHXH ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên
cứu, cách tiếp cận khác nhau, nhưng chủ yếu nghiên cứu về công tác quản lý
thu BHXH và công tác kiểm soát nội bộ BHXH. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp về công tác quản lý thu
BHXH ở BHXH tỉnh Quảng Nam, do vậy hướng đề tài tác giả lựa chọn sẽ
làm rõ hơn công tác quản lý thu BHXH.
Đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại
bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam” của tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu và
phân tích các vấn đề liên quan đến việc công tác quản lý thu BHXH dựa trên
các quy định về quản lý thu BHXH, phân tích thực trạng công tác đối chiếu,
kiểm tra và các quy định khác có liên quan đến công tác quản lý thu BHXH,
những nhân tố tác động đến công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam và trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đề tài sẽ xây dựng các
giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam.


6

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Bảo hiểm xã hội là một chế độ
pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ,
người SDLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật chất
cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu
nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản,
thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết” [3, tr 6]
Theo điều Luật BHXH hiện hành, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập của NLĐ trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH
[2, tr 2].
1.1.2. Đặc điểm của BHXH
BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng
tham gia và được hưởng BHXH. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách
BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt
động BHXH. Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp đề
hình thành quỹ BHXH. Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài
chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định. Đó
chính là mối quan hệ của bên tham gia BHXH.
Từ mối quan hệ về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH
hàm chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:


7

- BHXH là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao lấy hiệu quả xã
hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai
thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH đối với
người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH.
- BHXH là một loại hàng hóa tư nhân mang tính bắt buộc do nhà nước
cung cấp, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi
người lao động do Nhà nước quản lý và cung cấp dịch vụ. Hiện nay ở Việt
Nam, việc tham gia BHXH là bắt buộc, do Nhà nước quản lý và cung cấp.
- Cơ chế hoạt động của BHXH theo cơ chế 3 bên: Cơ quan BHXHngười sử dụng lao động – người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý nhà
nước. BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra làm, do vậy thực sự chưa có thị
trường BHXH ở Việt Nam. Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể
hiện độc quyền: cung BHXH do Nhà nước độc quyền, cầu thì bắt buộc cầu và
mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ kém.
- Thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, thực
hiện nhiệm vụ thu, quản lý và chi trả các chế độ BHXH chặt chẽ, đúng đối
tượng và đúng thời hạn. Nguồn đóng góp của các bên tham gia được đưa vào
quỹ riêng, độc lập với Ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội được quản
lý tập trung, thống nhất và sử dụng theo nguyên tắc hạch toán cân đối thu chitheo quy định của pháp luật, bảo toàn và phát triển.
- Người lao động được hưởng trợ cấp BHXH trên cơ sở mức đóng và
thời gian đóng BHXH, có chia sẻ rủi ro và thừa kế. Thông thường, mức đóng
góp và mức hưởng trợ cấp đều có mối liên hệ đến thu nhập (tiền lương, tiền
công) của người lao động. Điều này thể hiện tính công bằng xã hội gắn liền
giữa quyền và nghĩa vụ của NLĐ.


8

1.1.3. Ý nghĩa của BHXH
Ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở
hầu hết các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH được quyết
định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì
mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có
của mình BHXH đã có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội
như sau:
- Đối với NLĐ: BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho những NLĐ gặp phải
rủi ro, bất hạnh, nhanh chóng khắc phục nhũng khó khăn bằng cách tạo cho
họ nhữn thu nhập thay thế, những điều kiện sinh hoạt thuận lợi… giúp cho họ
ổn định cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họ niềm tin vào tương lai,
từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như tinh
thần nỗ lực vì sự phát triển của doanh nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng
và cho toàn xã hội nói chung.
- Đối với xã hội:
+ Cần phải khẳng định rằng, BHXH là một loại dịch vụ công. Hoạt động
BHXH giống như một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “bảo hiểm”
cho NLĐ, một loại dịch vụ cần cho mọi người chứ không phải chỉ là cán bộ,
công nhân viên chức. Khi các tổ chức này sản xuất và cung ứng ngày càng
nhiều loại dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng đa dạng các nhu cầu của người dân thì
giá trị của những loại dịch vụ này ngày càng tăng và là một bộ phận trực tiếp
làm gia tăng tổng sản phẩm xã hội. Dưới giác độ này, BHXH được xem là
một ngành dịch vụ quan trọng của nền kinh tế.
+ Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế - xã hội của Nhà
nước, BHXH sẽ giải quyết những vấn đề “rủi ro” xảy ra đối với NLĐ, góp
phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng
tạo của họ và tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động xã hội.


9

Thông qua sự trợ giúp của BHXH đối với NLĐ khi họ gặp rủi ro bằng cách
tạo ra thu nhập thay thế, BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu
dùng quốc gia, kích thích tiêu dùng của xã hội, hỗ trợ và bổ sung các chính
sách vĩ mô khác của Chính phủ.
+ Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ đến
hệ thống tài chính quốc gia, tới hoạt động của hệ thống tín dụng, tiền tệ, ngân
hàng. Chính vì vậy, trong các hoạt động của BHXH, luôn đặt ra một yêu cầu:
quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát triển bằng nhiều hình thức khác nhau,
trong đó có hình thức đầu tư phát triển phần nhàn rỗi của quỹ. Đây là một
trong những kênh vốn quan trọng, có tác động không nhỏ đến quá trình phát
triển kinh tế của đất nước, là một trong những nguồn đầu tư lớn tạo ra những
cơ sở sản xuất kinh doanh mới, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho NLĐ,
giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho NLĐ và tăng tổng
sản phẩm quốc dân.
+ BHXH cũng là một chính sách nhằm thực hiện công bằng xã hội, là
công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Sự phân
phối lại thu nhập này được tiến hành qua hai cách: phân phối lại giữa người
khỏe và người già, giữa nam và nữ, người làm việc và người đã nghỉ hưu,
người trẻ tuổi và người cao tuổi, giữa nam và nữ, người đang hưởng trợ cấp
và người chưa được hưởng trợ cấp. Đây được coi là phân phối lại chiều
ngang. Còn phân phối lại theo chiều dọc là thực hiện điều tiết giữa người có
thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa người giàu và người nghèo. Đây
là một mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH
Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc đóng hưởng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của
người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH. Đây là


10

nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung của số
đông bù cho số ít là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong
cuộc sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà
nước là việc rủi ro trong BHXH không chỉ là những rủi ro thuần túy như trong
bảo hiểm thương mại mà còn có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên
như: tuổi già, thai sản,…
- Mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng
phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng khoản trợ cấp đó.
Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lý và cũng là quy định chung cho tất cả
các nước, song thấp bao nhiêu còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội của mỗi nước trong mỗi thời kỳ khác nhau.
- Phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong chính
sách BHXH của các nước. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân sách Nhà
nước giống như giai đoạn trước cải cách năm 1995 của nước ta thì đây thực
sự là một gánh nặng lớn cho đất nước. Việc thành lập quỹ BHXH do các bên
tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nước là hoàn toàn phù
hợp. Quỹ này có thể quản lý theo cách thức khác nhau song độc lập với
NSNN, NSNN chỉ bù thiếu hoặc tài trợ một phần tùy thuộc vào quy định của
mỗi nước khác nhau.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ THU BHXH
1.2.1. Khái niệm quản lý thu BHXH
Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản
lý là tập thể con người để khơi nguồn các động lực sáng tạo, phối hợp và
hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý thu BHXH. Tuy nhiên có thể
coi quản lý thu BHXH là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ


11

quan BHXH nhằm đảm bảo đơn vị SDLĐ và NLĐ chấp hành nghĩa vụ nộp
BHXH vào quỹ BHXH theo quy định của pháp luật.
Quản lý thu BHXH đảm bảo cho chính sách BHXH được thực thi
nghiêm chỉnh trong thực tiễn. Quản lý tốt việc thu BHXH chính là điều hành,
giám sát để đơn vị SDLĐ và NLĐ phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số
phải nộp BHXH vào quỹ BHXH. Vì vậy, có thể khẳng định quản lý thu
BHXH có vai trò quyết định đối với sự ổn định và phát triển quỹ BHXH.
1.2.2. Đặc điểm quản lý thu BHXH
- Quản lý thu BHXH là người đứng đầu tổ chức hay đơn vị SDLĐ chịu
trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết
định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp
NSNN mà không chịu sự chi phối nào từ phía Nhà nước với tư cách là chủ sở
hữu. Do vậy, cùng với việc lấy lợi nhuận làm mục tiêu chính tổ chức hay đơn
vị SDLĐ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất vì vậy tổ
chức hay đơn vị SDLĐ hay trốn đóng BHXH cho NLĐ.
- Quản lý thu BHXH của tổ chức hay đơn vị SDLĐ mà trình độ quản lý,
văn hóa, ngôn ngữ, chuyên môn, nghiệp vụ và nhận thức về pháp luật BHXH
ở các tổ chức hay đơn vị SDLĐ là khác nhau. Một bộ phận các daonh nghiệp
có hiểu biết về pháp luật nhưng lại lợi dụng những sơ hở trong chính sách,
chế độ để trốn tránh nghĩa vụ nộp BHXH.
- Quản lý thu BHXH đối với tổ chức hay đơn vị SDLĐ có số lượng đối
tượng quản lý thu BHXH lớn: số lượng doanh nghiệp nhiều, hoạt động ở
nhiều lĩnh vực của nền kinh tế gây ra những khó khăn nhất định cho công tác
quản lý thu BHXH.
Những đặc điểm trên cho thấy quản lý thu BHXH rất phức tạp, phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn là thuận lợi.


12

1.2.3. Nội dung quản lý thu BHXH
1.2.3.1. Rà soát, cụ thể hóa và triển khai phổ biến các văn bản quy
phạm pháp luật về BHXH
a. Rà soát, cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH
Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng của mình xây dựng các văn
bản pháp luật về BHXH bao gồm các luật, các văn bản pháp quy (Nghị định,
Thông tư, Quyết định…) và các văn bản dưới luật để thực hiện pháp luật
BHXH thống nhất trong phạm vi cả nước. Khác với bảo hiểm thương mại,
Nhà nước chỉ ban hành những điều, những nội dung cơ bản nhất còn các
chính sách, chiến lược cụ thể là do các công ty bảo hiểm thực hiện, đối với
BHXH, Nhà nước quy định bằng văn bản pháp luật rất cụ thể và chặt chẽ các
nội dung của chính sách BHXH, các cơ quan BHXH không được tự ý đặt ra
bất kỳ chế độ, bất kỳ quy định nào. Vì vậy, việc rà soát và cụ thể hóa các văn
bản hướng dẫn thực thi pháp luật về thu BHXH có thể coi là nội dung quan
trọng nhất của công tác quản lý thu BHXH.
b. Triển khai phổ biến pháp luật về chính sách BHXH cho đơn vị sử
dụng lao động và người lao động
Chính sách BHXH được áp dụng chung cho các khu vực kinh tế, không
có quy định cụ thể riêng để đảm bảo sự bình đẳng giữa lao động trong các
thành phần kinh tế. Trong những năm qua Quốc hội đã ban hành Luật BHXH
quy định rõ trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện BHXH cho người
lao động.
Việc triển khai thực hiện các chính sách BHXH cho NLĐ là trách nhiệm
chung của tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội trong đó cơ quan BHXH
các cấp là đầu mối tổ chức thực hiện. Chính sách, pháp luật về BHXH liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia bao gồm: Luật BHXH của
Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính;


13

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các văn bản hướng dẫn của BHXH
Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất cả nước.
Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách pháp luật về BHXH góp
phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của công tác quản lý thu
BHXH, tăng trưởng quỹ BHXH.
Để thực hiện tốt các chính sách, pháp luật BHXH, cơ quan BHXH phải
tổ chức công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và cụ thể hóa các chính
sách BHXH, từ các quy định về đối tượng tham gia BHXH, quy trình thu
BHXH, tỷ lệ trích nộp BHXH, các quy định về đăng ký kê khai nộp BHXH
và chế tài xử lý vi phạm về BHXH.
1.2.3.2. Tổ chức thực hiện dự toán thu BHXH
Dự toán thu BHXH là bảng tổng hợp số thu dự kiến về BHXH trong một
thời kỳ nhất định. Dự toán thu BHXH là cơ sở để phân bổ nguồn lực tài chính
cho hoạt động của các cơ quan BHXH các cấp trong kỳ kế hoạch. Dự toán thu
đối với BHXH các cấp là nhiệm vụ được Nhà nước giao mang tính pháp lệnh;
cơ quan BHXH các cấp phải lấy việc hoàn thành dự toán thu BHXH là nhiệm
vụ chính trị hàng đầu của BHXH các cấp. Vì vậy, việc xây dựng và tổ chức
thực hiện dự toán thu được tiến hành trên cơ sở dự báo điều kiện kinh tế - xã
hội của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng, gắn với đó là
việc đảm bảo tính bền vững của nguồn thu, tính khả thi và hiệu quả.
a. Lập dự toán thu BHXH
Lập dự toán thu là việc xác định các chỉ tiêu dự toán thu BHXH và xây
dựng các biện pháp thực hiện các chỉ tiêu đã đề ra. Xét về mặt kỹ thuật nghiệp
vụ, lập dự toán thu BHXH chính là quá trình dự báo, tính toán mức độ và các
biện pháp tổ chức động viên nguồn thu vào quỹ BHXH. Căn cứ theo tiêu thức
độ dài thời gian có thể phân loại dự toán thu BHXH thành dự toán dài hạn, dự
toán trung hạn và dự toán ngắn hạn. Dự toán thu BHXH dài hạn, trung hạn


14

thường mang tính dự báo gắn với một thời kỳ ổn định NSNN. Dự toán thu
BHXH ngắn hạn là dự toán có thời gian hiệu lực từ một năm trở xuống, bao
gồm:
Dự toán năm: Gắn với dự toán ngân sách và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hằng năm. Cơ quan BHXH các cấp đều phải lập dự toán thu BHXH
năm. Dự toán thu BHXH năm mang tính pháp lệnh. Để thực hiện dự toán
pháp lệnh, cơ quan BHXH còn phải lập và giao dự toán quý, tháng, dự toán
phấn đấu để điều hành thu.
Dự toán quý: Căn cứ xây dựng dự toán thu BHXH quý là dự toán pháp
lệnh đã được phê chuẩn và dự toán phấn đấu. Trên cơ sở số dự toán thu cả
năm mà phân bổ cho từng quý cho phù hợp với quy luật vận động của nguồn
thu trong từng quý.
Dự toán tháng: Là dự toán thu mang tính chất tác nghiệp nhằm triển khai
thực hiện dự toán quý và dự toán năm. Dự toán tháng được lập ở BHXH tỉnh
và BHXH các huyện, thị xã, thành phố. Dự toán tháng có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc thúc đẩy cơ quan BHXH tăng cường các biện pháp quản lý
các khoản thu theo các khoản phát sinh hàng tháng để nộp kịp thời vào quỹ
BHXH, tránh tình trạng dồn thu vào những tháng cuối năm.
Việc lập dự toán thu BHXH phải đảm bảo tính khách quan, trung thực.
Dự toán thu BHXH phải đảm bảo tính tiên tiến, tích cực, chủ động, phù hợp
với tăng trưởng kinh tế và quy luật tăng trưởng thu trên địa bàn.
b. Tổ chức thực hiện dự toán thu BHXH
Đây là giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý thu BHXH, là giai đoạn
có tầm quan trọng quyết định đối với việc hoàn thành các chỉ tiêu dự toán đã
được giao. Việc tổ chức thực hiện dự toán thu cần phải có sự phối hợp đồng
bộ giữa các biện pháp chuyên môn, nghiệp vụ với sự chỉ đạo sát sao của các
cấp chính quyền cũng như các ngành chức năng có liên quan.


15

Xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu là một trong những nội dung
quan trọng của xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu BHXH nói chung.
Thực hiện tốt việc xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu BHXH sẽ tạo
điều kiện để theo dõi, đôn đốc sát sao quá trình quản lý thu BHXH. Việc xây
dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu BHXH phải đáp ứng yêu cầu năm đầy
đủ các đối tượng tham gia BHXH.
1.2.3.3. Tổ chức quản lý thu BHXH
a. Tổ chức quản lý thu BHXH
Tổ chức bộ máy quản lý thu BHXH là một khâu quan trọng trong công
tác quản lý thu BHXH, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân
bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thu
BHXH khoa học, phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu
quả các chức năng quản lý BHXH nhằm thực thi chính sách pháp luật về
BHXH một cách nghiêm minh, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời tiền đóng
BHXH của NLĐ và đơn vị SDLĐ vào quỹ BHXH.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thu BHXH có vai trò rất quan trọng đối
với sự vận hành của toàn bộ hệ thống BHXH. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
thu BHXH được xây dựng hợp lý, đảm bảo khả năng thực hiện đầy đủ các
chức năng quản lý thu BHXH sẽ góp phần đảm bảo hiệu quả quản lý cao cũng
như phát huy hiệu lực toàn bộ hệ thống BHXH. Ngược lại, một cơ cấu tổ chức
không phù hợp sẽ hạn chế tác dụng của bộ máy, kìm hãm và làm suy yếu tổ
chức.
Mô hình tổ chức BHXH gồm cấp: Trung ương, vùng, địa phương. Ở một
số nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi, cơ quan BHXH địa
phương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo song trùng của cơ quan BHXH cấp trên và
chính quyền địa phương, nhưng xu hướng chung là cơ quan BHXH được tổ
chức theo ngành dọc độc lập với chính quyền địa phương.


16

b. Cán bộ quản lý thu BHXH
Cán bộ thu BHXH là những người làm trong cơ quan BHXH, hưởng
lương từ quỹ BHXH, được xếp vào một ngạch, bậc nhất định phù hợp với
trình độ đào tạo, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ trên
cơ sở chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định.
Cán bộ thu BHXH là nhân tố hợp thành công sở BHXH, là người đại
diện cho Nhà nước, cho cơ quan BHXH để xử lý các mối quan hệ với NLĐ và
đơn vị SDLĐ theo quy định của pháp luật về chính sách BHXH. Cán bộ thu
BHXH được coi là dây chuyền, cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân,
là người đem chính sách BHXH của Nhà nước tuyên truyền, giải thích cho
nhân dân hiểu và thi hành nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền đóng
BHXH của NLĐ và của đơn vị SDLĐ vào quỹ BHXH.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đặt ra, cán bộ thu BHXH phải có đủ trình độ,
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức; tôn trọng pháp
luật, tận tụy phục vụ nhân dân, xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Nếu cán bộ
thu BHXH yếu kém thì một mặt, chính sách BHXH hiện hành sẽ không được
thực hiện tốt, mặt khác, việc hoạch định, xây dựng chính sách mới về BHXH
sẽ dễ mắc phải thiếu sót, sai lầm. Có thể nói, đội ngũ cán bộ thu BHXH luôn
là nhân tố, là lực lượng quyết định sự thắng lợi của quá trình phát triển quỹ
BHXH. Sự trưởng thành, lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ
cán bộ thu BHXH đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp an sinh xã hội.
1.2.3.4. Tổ chức phân cấp quản lý thu BHXH
Việc phân cấp quản lý nhà nước có mục tiêu là làm tăng hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều tiến hành cải
cách hành chính nhằm làm tăng hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính
công. Các nền hành chính công đang chuyển dần từ hành chính “cai trị” sang
hành chính phục vụ. Phân cấp quản lý hành chính Nhà nước là một tất yếu


17

khách quan đối với tất cả các quốc gia. Việc phân cấp quản lý mang lại nhiều
lợi ích thiết thực:
- Khuyến khích dân chúgn tham gia nhiều hơn vào công tác quản lý nhà
nước, tăng tính chủ động, sáng tạo và linh họat cho cấp dưới.
- Giao quyền và trách nhiệm cho cấp dưới để tạo điều kiện phát huy tính
năng động, sáng tạo và linh hoạt của cấp dưới, rèn luyện và tập dượt cho cấp
dưới trưởng thành, khắc phục tính dựa dẫm, ỷ lại cấp trên.
- Tạo nên bầu không khí tâm lý dân chủ và lành mạnh trong tập thể của
hệ thống quản lý.
Phân cấp quản lý thu BHXH là việc phân giao cho cơ quan BHXH ở
từng cấp được quyền được quyền tổ chức quản lý thu BHXH đối với những
đơn vị nhất định tại địa bàn theo quy định của pháp luật.
Việc phân cấp quản lý thu BHXH nhằm tăng cường tính chủ động, nâng
cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan BHXH các cấp trong quản lý, khai thác
có hiệu quả các nguồn thu BHXH phát sinh tại địa bàn, thực hiện tốt các quy
định của pháp luật về BHXH. Việc phân cấp quản lý thu BHXH trong ngành
BHXH thường căn cứ vào đơn vị sử dụng lao động đóng chân trên địa bàn,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ và đơn vị SDLĐ.
Đối với từng đơn vị SDLĐ, cơ quan BHXH cần phải phân tích, đánh giá
đặc điểm, quy mô, ngành nghề kinh doanh, tính chất phức tạp trong công tác
quản lý thu BHXH đối với từng đơn vị để thực hiện việc phân cấp quản lý thu
BHXH cho từng cấp đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tiễn, năng lực quản
lý của cơ quan BHXH và cán bộ quản lý BHXH từng cấp.
1.2.3.5. Tổ chức thực hiện quy trình quản lý thu BHXH
Quy trình quản lý thu BHXH gắn với yêu cầu thực hiện các chức năng
quản lý thu. Quy trình quản lý thu BHXH gồm các khâu cơ bản sau:


18

a.Thống kê, quản lý đơn vị sử dụng lao động đăng ký, kê khai nộp
BHXH cho người lao động
Quản lý kê khai nộp BHXH là quá trình thực hiện các bước công việc từ
khâu quản lý đăng lý, nhập và xử lý số liệu về thời gian, mức đóng BHXH
của NLĐ, cập nhật chứng từ nộp BHXH phục vụ cho các bộ phận chức năng
khai thác thông tin và giải quyết các chế độ chính sách cho NLĐ. Có quản lý
được đơn vị SDLĐ, quản lý được NLĐ, quản lý tiền lương, tiền công của
NLĐ theo hợp đồng thì mới quản lý tốt được công tác thu BHXH. Theo quy
định việc thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ thông qua đơn vị SDLĐ, dựa
vào mối quan hệ giữa NLĐ và chủ SDLĐ trên cơ sở hợp đồng lao động, các
quy định trong hợp đồng lao động. Nếu quản lý tốt đơn vị sử dụng lao động
thì nắm chắc được tình hình SDLĐ của đơn vị, tình hình sản xuất kinh doanh
của đơn vị và thu nhập của NLĐ, từ đó có cơ sở yêu cầu các đơn vị lập thủ
tục đăng ký đóng BHXH cho NLĐ.
b. Tổ chức thực hiện thu và quản lý tiền thu BHXH
Thu BHXH, BHYT bằng hình thức chuyển khoản. Trường hợp người
SDLĐ hoặc NLĐ đóng BHXH bằng tiền mặt thì cơ quan BHXH phải hướng
dẫn thủ tục nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH. Nếu người
SDLĐ hoặc NLĐ nộp tiền mặt trực tiếp tại cơ quan BHXH thì chậm nhất sau
3 ngày làm việc, cơ quan BHXH phải nộp vào tài khoản chuyên thu mở tại
Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.
BHXH tỉnh và BHXH huyện không được sử dụng tiền thu BHXH,
BHYT vào bất cứ mục đích gì (trường hợp đặc biệt phải được Tổng giám đốc
BHXH Việt Nam chấp thuận bằng văn bản).
BHXH chuyển tiền thu BHXH, BHYT về tài khoản chuyên thu của
BHXH tỉnh vào ngày 10 và ngày 25 hàng tháng. Riêng tháng cuối năm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×