Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần dược danapha

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
-----------------

VŨ KHÁNH AN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Nẵng – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
-----------------

VŨ KHÁNH AN


HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Tùng

Đà Nẵng- 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2016
Tác giả luận văn

VŨ KHÁNH AN

MỤC LỤC

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
DN
TSCĐ
VLĐ
BH&CCDV
VAT
HTK

Ý nghĩa
Doanh nghiệp
Tài sản cố định
Vốn lưu động
Bán hàng và cung cấp dịch vụ


Thuế giá trị gia tăng
Hàng tồn kho


LN
DT
ROA
ROE
ROS
LNTT
RE
CCDC
XDCB
BCTC
TNHH
CTCP
BQ
TS
VCSH

Lợi nhuận
Doanh thu
Tỉ suất sinh lời của tài sản
Tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
Tỉ suất sinh lời của doanh thu
Lợi nhuận trước thuế
Tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản
Công cụ dụng cụ
Xây dựng cơ bản
Báo cáo tài chính
Trách nhiệm hữu hạn
Công ty Cổ phần
Bình quân
Tài sản
Vốn chủ sở hữu


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại
2.1
Danapha
2.2
Phân tích các chỉ tiêu quản trị tài sản
Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng
2.3
hợp
3.1
So sánh chỉ tiêu ROA, ROE với các công ty cùng ngành
Bảng tính chỉ tiêu Số vòng quay tài sản ngắn hạn của
3.2
CTCP Dược Danapha
Bảng tính các chỉ tiêu trong phương trình Dupont của
3.3
ROA tại CTCP Dược Danapha
Bảng tính các chỉ tiêu trong phương trình Dupont của
3.4
ROE tại CTCP Dược Danapha
Bảng phân tích nhóm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản
3.4
tại CTCP Dược Danapha
3.5
Phân tích nhóm chỉ tiêu tỷ suất chi phí/ doanh thu
Bảng phân tích chỉ tiêu hiệu quả kinh daonh tổng hợp tại
3.7
CTCP Dược Danapha

Trang
59
60
61
76
77
79
80
82
83
84

DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu
Tên hình
Trang
hình
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Công ty cổ phần Dược
2. 1
50
Danapha
Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần Dược
2.2
53
Danapha
Quá trình luân chuyển chứng từ tại Công ty cổ phần
2.3
55
Dược Danapha


3.1

Sơ đồ quy trình tổ chức phân tích hiệu quả kinh doanh
70
tại CTCP Dược Danapha


7

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích hiệu quả hoạt động giúp các doanh nghiệp xem xét, đánh giá
các chỉ tiêu đã được thực hiện như thế nào, những mục tiêu đặt ra đã hoàn
thành đến đâu, để từ đó thấy được mặt tốt và hạn chế của doanh nghiệp. Kết
quả của phân tích hiệu quả hoạt động là căn cứ để nhà quản trị đưa ra các
quyết định trong suốt chu kỳ kinh doanh, nó cũng giúp dự báo rủi ro trong
kinh doanh và xu hướng biến động trong tương lai.
Phân tích hiệu quả hoạt động có ý nghĩa với nhiều đối tượng, từ nhà
quản trị doanh nghiệp, các cổ đông đến ngân hàng và nhà cung cấp. Với
tầm quan trọng như vậy, phân tích hiệu quả là công việc cần phải làm đều
đặn và thật sự chú trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tập hợp của hiệu quả
kinh doanh và hiệu quả tài chính do đó khi phân tích hoạt động của một
doanh nghiệp ta phải phân tích cả hai hoạt động này để có cái nhìn tổng
quan về doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu đó mà tác giả đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện công
tác phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần dược Danapha” để
làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Luận văn hệ thống và khái quát hóa những vấn đề lý luận về phân tích hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ
phần dược Danapha.
- Đưa ra định hướng và giải pháp để hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả
kinh doanh tại Công ty.


8

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là công tác phân tích hiệu quả kinh doanh Công ty cổ
phần dược Danapha
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2012 2014 tại Công ty cổ phần dược Danapha.
4. Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu đã đề ra, tác giả xác định phương pháp nghiên cứu được sử
dụng sẽ là phương pháp nghiên cứu định tính. Việc thực hiện phân tích sẽ sử
dụng các phương pháp trong phân tích hoạt động kinh doanh như: phương
pháp phân tích tổng hợp, so sánh; phương pháp phân tích ảnh hưởng các nhân
tố; phương pháp Dupont... từ đó đưa ra nhận xét và kết luận.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục,… luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của phân tích hiệu quả kinh doanh tại doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công
ty cổ phần dược Danapha
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả kinh doanh
tại Công ty cổ phần dược Danapha
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác đã giả tham khảo các tài liệu có liên
quan sau:
Trước tiên đó là các loại sách viết về vấn đề hoạt động kinh doanh trong
doanh nghiệp như: Phân tích hoạt động kinh doanh (phần 1 và 2) (Ngô Tấn
Hà, Trần Đình Khôi Nguyên, Hoàng Tùng, 2001) – Nhà xuất bản Giáo dục;
Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh (Nguyễn Ngọc Quang, 2011) - Nhà


9

xuất bản giáo dục Việt Nam; Phân tích hoạt động doanh nghiệp (Nguyễn Tấn
Bình, 2011) - Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh...
Ngoài ra quan tâm đến vấn đề này đã có một số đề tài khoa học, các luận
văn Thạc sỹ cũng đã nghiên cứu như:
Luận văn Thạc sỹ: “Phân tích hiệu quả hoạt động tại Công ty cổ phần
Nhựa Đà Nẵng” (2011) của tác giả Nguyễn Thị Huyền. Luận văn đã giải
quyết được các vấn đề: Thứ nhất, trình bày lí luận và hệ thống hóa các
phương pháp, nội dung cùng việc tổ chức phân tích hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp. Thứ hai, phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tại Công ty cổ
phần Nhựa Đà Nẵng và đưa ra những đánh giá đối với hiệu quả hoạt động của
Công ty. Thứ ba, thông qua công tác phân tích hiệu quả hoạt động luận văn đã
đề xuất những phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.
Luận văn Thạc sỹ: “Phân tích hiệu quả hoạt động của Công ty cổ phần
Nông sản thực phẩm Quảng Ngãi” (2011) của Phạm Hữu Thịnh. Luận văn đã
tổ chức hoàn thiện được công tác phân tích tại doanh nghiệp như phân tích
huy động vốn bằng kỹ thuật phân tích quan hệ giữa EBIT và EPS; hoàn thiện
nội dung phân tích năng suất hoạt động của các nhà máy tại công ty; hoàn
thiện công tác phân tích hiệu quả hoạt động bằng phương pháp sử dụng các
chỉ tiêu đánh giá của cơ quan nhà nước và tổ chức tài trợ vốn, đồng thời tác
giả cũng đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty,
đẩy mạnh nguồn nhân lực...Tuy nhiên, luận văn của tác giả chưa thật sự đi sâu
vào đánh giá công tác phân tích hiệu quả của công ty
Luận văn Thạc sỹ: “Phân tích hiệu quả hoạt động tại Công ty cổ phần
Dệt Hòa Khánh- Đà Nẵng” (2009) của Nguyễn Thị Như Lân. Luận văn đã hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả hoạt động và đã
mô tả, đánh giá công tác phân tích hiệu quả hoạt động từ đó hoàn thiện một số
nội dung phân tích hiệu quả hoạt động tron Công ty cổ phần Dệt Hoà Khánh:


10

xây dựng mô hình lựa chọn phương án huy động vốn và đưa ra một số giải
pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, trong
luận văn này tác giả chỉ đề cập đến thực trạng phân tích và đưa ra giải pháp để
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn chứ chưa thực sự đi sâu vào hoàn thiện công
tác phân tích hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Luận văn Thạc sỹ: “Phân tích hiệu quả hoạt động và phương hướng
nâng cao hiệu quả hoạt động tại Tổng công ty Sách Việt Nam” (2006) của
Lương Thúy Nga. Tác giả đề cập đến thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động
của Tổng Công ty Sách Việt Nam và đưa ra những phương hướng nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại tổng công ty. Tuy nhiên luận văn này
chưa đi sâu vào hoàn thiện công tác phân tích và các giải pháp tác giả đưa ra
nhằm hoàn thiện tổ chức phân tích hiệu quả hoạt động còn chung chung và
chưa cụ thể hóa. Qua đó cho thấy tác giả chưa đi sâu nghiên cứu việc hoàn
thiện nội dung phân tích hiệu quả hoạt động của tổng công ty.
Luận văn Thạc sỹ “Phân tích hiệu quả hoạt động của Công ty cổ phần
Thương mại – Dịch vụ – Đầu tư Cù Lao Chàm” (2012) của Nguyễn Khánh
Thu Hằng đã hệ thống hóa, đưa ra được các nhân tố tác động vào chỉ tiêu hiệu
quả tài chính và phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu dựa vào các
phương pháp phân tích như so sánh, chi tiết, loại trừ, liên hệ và phương pháp
Dupont. Nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác phân tích
hiệu quả tài chính, nhưng trong nghiên cứu chưa sử dụng phương pháp thay
thế liên hoàn để xác định mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu như ROA,
ROE...
Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả hoạt động
tại Công ty cổ phần Fococev Quảng Nam” ( 2013) của Lê Thị Mai Hồng. Tác
giả cũng đã đưa ra lý luận về phân tích hiệu quả, trên cơ sở đó tác giả đánh giá


11

được mặt được và hạn chế từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
phân tích hiệu quả kinh doanh tại công ty.
Luận văn Thạc sỹ “Hoàn thiện công tác phân tích hiệu quả hoạt động
tại Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng” (2013) của Võ Hồng Hạnh đã phân tích
thực trạng công tác phân tích tại công ty cũng như có những định hướng hoàn
thiện công tác phân tích hiệu quả tại công ty. Đây là tài liệu tham khảo trong
quá trình nghiên cứu của học viên.
Nhìn chung có rất nhiều luận văn phân tích hiệu quả hoạt động công ty,
thông qua các luận văn trên đã giúp tác giả có cái nhìn sâu hơn về phân tích
hiệu quả trong doanh nghiệp.Trong quá trình thực hiện đề tài, qua tham khảo
các nghiên cứu đi trước có nội dung liên quan, tác giả cũng đã sử dụng một số
kết quả của các nghiên cứu này để làm nền tảng chứng minh cho những nhận
định được trình bày Đồng thời tác giả cũng kế thừa và tham khảo về cơ sở lý
luận, cách thức trình bày cùng với sự định hướng của giảng viên hướng dẫn
tôi đã chọn đề tài luận văn Thạc sỹ với đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích
hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Dược Danapha”.


12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH
TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Các khái niệm có liên quan
a. Khái niệm, bản chất của phạm trù hiệu quả
Liên quan đến khái niệm hiệu quả, có các cách tiếp cận khác nhau, cụ thể
gồm hai cách sau:
Thứ nhất, tiếp cận theo phương pháp truyền thống có thể đưa ra khái
niệm: Hiệu quả là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các
hoạt động và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó của một chủ thể trong điều
kiện nhất định.
Với khái niệm này, có thể nhận thấy rằng hiệu quả có thể biểu diễn ở hai
dạng khác nhau, bao gồm: dạng hiệu số và thương số. Ở dạng hiệu số hai chỉ
tiêu kết quả và chi phí phải có cùng đơn vị đo lường. Ở dạng thương số, đơn
vị đo lường các chỉ tiêu kết quả và chi phí có thể hoàn toàn khác nhau.
Như vậy, với cách xác định hiệu quả này thì kết quả đạt được đạt được
càng lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu thì hiệu quả càng cao bấy nhiêu. Tuy
nhiên, chúng ta dễ dàng nhận thấy, trong nhiều trường hợp, hiệu số của một
chỉ tiêu kết quả và một chỉ tiêu chi phí sẽ là một chỉ tiêu kết quả khác. Như
vậy, theo khái niệm truyền thống này thì kết quả và hiệu quả bị trùng lặp.
Thứ hai, là cách tiếp cận khái niệm hiệu quả gắn với mục đích của chủ
thể và được đề cập như sau: Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại
được kết quả nhằm đạt được một mục đích nào đó của chủ thể tương ứng với
một đơn vị nguồn lực đã bỏ ra trong quá trình thực hiện hoạt động.


13

Theo khái niệm hiệu quả trên thì hiệu quả của một hoạt động nào đó luôn
gắn với một mục đích nhất định, trong đó mục tiêu cụ thể đã được xác định
chính là “mức độ thu lại kết quả”. Như vậy, ta không thể xác định hiệu quả
của các hoạt động mà không có mục tiêu.
Từ các cách tiếp cận khái niêm hiệu quả trên, có thể rút ra kết luận liên
quan đến bản chất của phạm trù hiệu quả như sau: về mặt hình thức, hiệu quả
là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả
thu được về trong quá trình hoạt động. Như vây, bản chất của phạm trù hiệu
quả đã cho thấy rằng không có sự đồng nhất giữa hai khái niệm kết quả và
hiệu quả, vì kết quả chỉ là yếu tố để xác định và đánh giá hiệu quả. Và sự khác
biệt giữa hai khái niệm kết quả và hiệu quả chính là: kết quả bao giờ cũng là
mục tiêu cụ thể doanh nghiệp muốn đạt đến, trong khi đó, hiệu quả là sự so
sánh tương quan giữa hai chỉ tiêu phản ánh đầu ra (kết quả thu được) với đầu
vào (chi phí bỏ ra) nhằm đánh giá trình độ sử dụng chi phí.
∗ Phân loại hiệu quả
Để có thể nhận thức rõ hơn về phạm trù hiệu quả, cần tìm hiểu các dạng
biểu hiện khác nhau của phạm trù hiệu quả. Mỗi dạng biểu hiện của hiệu quả
có những đặc trưng, ý nghĩa khác nhau là cơ sở để xác định mức hiệu quả,
xác định các chỉ tiêu hiệu quả và những biện pháp nâng cao hiệu quả. Có các
cách phân loại hiệu quả sau đây:
• Theo mục tiêu của chủ thể, hiệu quả được phân thành hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế là hiệu quả mà chủ thể thu được khi sử dụng nguồn
lực đầu vào để thực hiện các mục tiêu kinh tế nhất định. Hiệu quả kinh tế mô
tả mối quan hệ kinh tế giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và nguồn lực
đã bỏ ra (chi phí hoặc yếu tố đầu vào) để nhận được lợi ích kinh tế đó.


14

Hiệu quả xã hội là các mục tiêu xã hội đạt được khi chủ thể tiến hành
các hoạt động kinh tế. Như vậy, có thể thấy, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội có mối quan hệ chặt chẽ. Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
không chỉ nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp mà còn có tác động đến
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Cho nên khi doanh nghiệp tiến hành
hoạt động kinh doanh thì cần phải quan tâm đến việc kết hợp các phương án
để không những đạt được mục tiêu của bản thân doanh nghiệp mà còn mang
lại các lợi ích cho xã hội, kết hợp đạt được hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã
hội.
• Theo tính chất tác động, hiệu quả gồm có: hiệu quả trực tiếp và hiệu quả
gián tiếp:
Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả có được từ chính tác động của chủ thể
đến kết quả hoạt động khi thực hiện các mục tiêu chủ thể đề ra.
Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả có được do một đối tượng nào đó tác động
làm thay đổi kết quả hoạt động của chủ thể.
• Theo phương thức xác định, hiệu quả được phân thành hiệu quả tuyệt đối và
hiệu quả tương đối:
Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được đo bằng hiệu số giữa kết quả đầu ra
và chi phí đầu vào.
Hiệu quả tương đối là hiệu quả được đo bằng tỷ số giữa kết quả đầu ra và
nguồn lực đầu vào.
b. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh
Khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, ta thường so sánh
theo một trong hai hướng sau:


15

Hướng thứ nhất, kết quả không đổi hoặc tăng còn chi phí giảm hoặc
không đổi - trường hợp này cho thấy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả,
tiết kiệm chi phí và thu được lợi nhuận do doanh nghiệp sử dụng hợp lý chi
phí và có những biện pháp tiết kiệm chi phí một cách hiệu quả.
Hướng thứ hai, kết quả và chi phí cùng tăng, nhưng tốc độ tăng của kết
quả tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí – trong trường hợp này để đánh
giá hiệu quả thường là trong khoảng thời gian dài. Trường hợp này thường
diễn ra sự khi trong doanh nghiệp có sự thay đổi như: đổi mới công nghệ, đổi
mới mặt hàng, khai thác thị trường mới.
Như chúng ta đã biết, hoạt động của mỗi doanh nghiệp đều hướng đến
mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, việc gia tăng lợi nhuận cũng được xem là
một tiêu chí của sự gia tăng hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, hoạt động của
doanh nghiệp phải được nằm trong sự quản lý chung của Nhà nước vì hoạt
động của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến nền kinh tế và toàn xã hội. Vì
vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp không đơn thuần
là lợi nhuận thu được mà còn phải quan tâm đến những đóng góp của doanh
nghiệp đó với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội. Điều này nghĩa là tính hiệu
quả phải được xem xét một cách tổng thể và làm hài hòa lợi ích từ chủ doanh
nghiệp đến người lao động rồi đến lợi ích của tập thể và toàn xã hội.
Qua đây, ta có thể khái niệm hiệu quả kinh doanh như sau: hiệu quả kinh
doanh là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế
đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi
phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện
kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Tuy nhiên, phạm trù hiệu quả xã hội lại là một phạm trù khó xác định,
vì hiệu quả xã hội có thể xác định thông qua sự cảm nhận nhưng lại khó có


16

thể đo lường bằng những con số nên khó xác định chính xác hiệu quả xã hội.
Thêm nữa, hiệu quả của các đối tượng khác nhau thì lại có tác động theo
những chiều hướng khác nhau, thậm chí có thể trái ngược nhau.
Việc đánh giá hiệu quả xã hội có thể được đánh giá bằng định tính hoặc
định lượng:
- Về mặt định lượng, hiệu quả xã hội thể hiện ngay ở mức đóng góp cho ngân
sách (như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu...); tổng số công ăn
việc làm được tạo ra. Những con số tạo ra càng lớn thì hiệu quả xã hội càng
cao.
- Về mặt định tính, hiệu quả xã hội được đánh giá qua cảm nhận như: đóng góp
vào việc nâng cao trình độ kỹ thuật của nền sản xuất, nâng cao trình độ nguồn
nhân lực, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của người dân, những tác động
tích cực hay tiêu cực tới môi trường,...
1.1.2. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh quy định rõ bản chất và chất
lượng của một quá trình hay mặt nào đó của quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn hiểu theo nghĩa khái quát là một dấu hiệu đặc biệt để đánh
giá sự vật, hiện tượng hoặc một hoạt động nào đó phù hợp với những điều
kiện nhất định. Nghĩa hẹp thì đó là mốc phải đạt, là căn cứ để kết luận một chỉ
tiêu là có hiệu quả hay là không.
Việc xác định tiêu chuẩn để đánh giá trong ngành kỹ thuật thì không quá
phức tạp vì nó liên quan đến các đại lượng vật lý, hóa học và các hàng rào kỹ
thuật. Còn đối với các vấn đề về kinh tế xã hội thì việc xác định “chuẩn” riêng


17

rất phức tạp vì còn tuy thuộc vào quan điểm, mục đích nghiên cứu và hệ thống
kinh tế được xem xét.
Ở nước ta, mục đích được quán triệt qua nhiều đại hội Đảng toàn quốc
vẫn là nâng cao đời sống vật chât và tinh thần của người dân. Để đạt được
mục đích đó đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực của xã hội và các doanh
nghiệp là những đơn vị có đóng góp tích cực nhất. Hiệu quả kinh tế xã hội chỉ
đạt được khi mọi mục tiêu đều đạt được với việc huy động nguồn lực ở mức
tiết kiệm nhất
Vậy, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là mức
độ phù hợp của các kết quả kinh doanh và kết quả xã hội đạt được, đáp ứng
mục tiêu đề ra trên cơ sở sử dụng tiết kiệm hao phí lao động xã hội.
Để định lượng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh cho từng ngành,
từng lĩnh vực không hề đơn giản, và chỉ mang tính tương đối chứ không thể
hoàn toàn chính xác. Chẳng hạn tại CTCP Dược Danapha, khi sử dụng chỉ
tiêu sức sinh lời của vốn chủ sở hữu để đánh giá hiệu quả kinh doanh thì khi
tính ra chỉ số của trung bình ngành là 8% chẳng hạn, có nghĩa là chỉ tiêu sức
sinh lời vốn chủ sở hữu ở Danapha trên 8% là đạt.
1.1.3. Ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh doanh
a. Ý nghĩa của phân tích hiệu quả kinh doanh
Trước hết, phải khẳng định rằng phân tích hiệu quả kinh doanh là một
công cụ quan trọng của công tác quản lý. Vì kết quả của quá trình phân tích
nói chung và phân tích hiệu quả kinh doanh nói riêng sẽ thông tin về thực
trạng tình hình sử dụng các nguồn lực tại các doanh nghiệp, các ngành để từ
đó có những quyết sách phù hợp nhằm sử dụng tốt hơn các nguồn lực để đạt
được hiệu quả kinh doanh cao hơn.


18

Phân tích hiệu quả kinh doanh thực hiện chức năng thông tin để phục vụ
cho việc ra các quyết định sản xuất kinh doanh. Cần phải hiểu rằng thông tin
phân tích hiệu quả kinh doanh không chỉ phục vụ cho việc ra quyết định bên
trong doanh nghiệp mà còn phục vụ cho việc ra quyết định của nhiều đối
tượng bên ngoài có liên quan khác.
Phân tích hiệu quả kinh doanh còn cho thấy khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong ngành và là động lực để các doanh nghiệp đẩy mạnh quá
trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất, nâng cao sức cạnh
tranh.
b. Nhiệm vụ của phân tích hiệu quả kinh doanh
Phân tích hiệu quả kinh doanh phải thực hiện nhiệm vụ đánh giá hiệu
quả kinh doanh trong từng kỳ, từng giai đoạn và xu hướng biến động của
doanh nghiệp. Quá trình này sẽ là nền tảng cơ sở định hướng để thực hiện
các bước nghiên cứu tiếp theo.
Xác đ ị n h nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp từ đó giúp doanh nghiệp có các định hướng đúng
đắn cho quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, cần hiểu rằng hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các nguyên nhân
chủ quan của bản thân doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng bởi các nguyên
nhân khách quan bên ngoài doanh nghiệp, do đó việc xác định chính xác các
nguyên nhân tác đ ộng sẽ giúp doanh nghiệp có các định hướng đúng đắn
cho quá trình ra quyết định.
Cuối cùng, phân tích hiệu quả kinh doanh cần dựa trên cơ sở các đánh
giá khái quát hiệu quả kinh doanh cũng như các nguyên nhân tác động đã tìm
ra để phát hiện các tiềm năng cần được khai thác, phát huy thế mạnh của
doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp khắc phục nhược điểm.


19


20

1.2. NGUỒN THÔNG TIN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1. Nguồn thông tin sử dụng để phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp
a. Nguồn thông tin bên trong
Khi phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải có các
thông tin từ bên trong doanh nghiệp như thông tin báo cáo tài chính và thông
tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm các bảng chủ yếu
như sau:
- Bảng cân đối kế toán: nó phản ánh cơ cấu và tình hình tài chính của doanh
nghiệp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản của công ty dưới hình thái tiền tệ
tại một thời điểm nhất định thường là cuối quý, cuối năm. Bảng cân đối kế
toán cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình huy động và sử dụng vốn của
công ty. Tài sản trên bảng cân đối kế toán được thể hiện bên trái ; nợ và vốn
chủ thể hiện bên phải.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là sự ghi chép lại quá trình thực hiện
tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ. Nói là nguồn thông tin quan
trọng cho việc xem xét thực trạng tài chính và đánh giá khả năng sinh lời của
công ty trong thời gian qua cũng như thời gian sắp đến để đưa ra những quyết
sách phù hợp.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay báo cáo dòng tiền mặt là một loại báo cáo tài
chính thể hiện dòng tiền ra và dòng tiền vào của một tổ chức trong khoảng
thời gian nhất định.


21

- Thuyết minh báo cáo tài chính: công bố các chính sách kế toán quan trọng đã
dùng để lập các báo cáo tài chính và cung cấp các thông tin chi tiết bổ sung
cho một số khoản mục trên các báo cáo tài chính
Thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp: mỗi doanh nghiệp
có đặc điểm riêng trong tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và phương
hướng hoạt động nên đánh giá hợp lý tình hình sản xuất kinh doanh cần phải
nghiên cứu kĩ đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. Những vấn đề cần quan
tâm bao gồm:
- Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm về quy mô, cơ cấu và chu trình luân chuyển vốn trong các khâu
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tính thời vụ, tính chu kỳ trong kinh doanh.
- Mối liên hệ với các nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và các đối tượng
khác.
b. Nguồn thông tin bên ngoài
Việc sử dụng những số liệu dựa trên báo cáo tài chính để so sánh, đánh
giá trên cơ sở đó để đưa ra quyết định lầ chưa đầy đủ, chưa có cơ sở để đánh
giá chính xác về tình hình kinh doanh trong thời gian dài cũng như xu hướng
phát triển của doanh nghiệp vì thế cần phải dựa vào các nhân tố khác như:
- Yếu tố vĩ mô: đó là những thông tin về sự tăng trưởng, suy thoái của nền kinh
tế, tình hình kinh tế thế giới, thông tin về tình hình lạm phát, các chính sách
của Nhà nước ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, tình hình pháp luật, môi trường
kinh doanh, những thông tin dự báo về nhu cầu thị trường, triển vọng trong
sản xuất kinh doanh..


22

- Các thông tin theo ngành kinh tế: phát triển của một doanh nghiệp luôn nằm
trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành như đặc điểm của ngành
đang kinh doanh, định hướng phát triển của ngành, yêu cầu về ứng dụng của
công nghệ, chính sách phân phối của sản phẩm, đặc điểm của sản phẩm…
1.2.2. Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp
a. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích.
Phương pháp này được sử dụng đ ể đánh giá kết quả, xác đ ịnh vị trí và
hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoảng thời gian ngắn nhất
về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh khác nhau.
Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo được những nội dung sau đây:
+ Xác định gốc so sánh: để có thể so sánh được, cần lựa chọn chỉ tiêu
để làm căn cứ so sánh hay còn gọi là gốc so sánh. Tùy theo mục đích nghiên
cứu mà gốc so sánh được lựa chọn thích hợp.
Về mặt thời gian: Gốc so sánh có thể là tài liệu thực tế kỳ trước nhằm
đánh giá sự biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu thực tế kỳ này; các
mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức) nhằm đánh giá tình hình
thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức, hay các điểm thời gian (năm,
tháng, ngày cụ thể...) nhằm đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ hay mức độ
đạt được của chỉ tiêu nghiên cứu trong cùng khoảng thời gian. Việc lựa chọn
gốc so sánh theo thời gian sẽ có thể đánh giá kết quả đạt được, mức độ và xu
hướng tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích. Bên cạnh đó, trong một vài trường
hợp, để xác định xu hướng hay nhịp điệu tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích,
gốc so sánh có thể được cố định tại một kỳ cụ thể trong khi kỳ hay điểm so
sánh liên tục thay đổi, gọi là so sánh định gốc, hoặc gốc so sánh và cả kỳ hay


23

điểm so sánh đều thay đổi liên tục, gọi là so sánh liên hoàn.
Về mặt không gian: Gốc so sánh được lựa chọn cũng có thể là chỉ tiêu
tổng thể nhằm đánh giá mức độ phổ biến của chỉ tiêu bộ phận; chỉ tiêu
của đơn vị khác có cùng điều kiện hay chỉ tiêu trung bình của ngành, khu
vực kinh doanh, hay nhu cầu đơn đặt hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh
nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu,.... Thông thường gốc so sánh này doanh
nghiệp khó tiếp cận và có thông tin, hơn nữa hiện nay tiêu chuẩn chung của
một ngành chưa được quan tâm đúng mức.
+ Về điều kiện so sánh: Để có thể so sánh được, số liệu của các chỉ tiêu
so sánh phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế, về phương pháp
tính toán, đơn vị đo lường, phạm vi, thời gian và quy mô không gian xác
định.
+ Dạng so sánh: Phương pháp so sánh đ ược thể hiện dưới hai dạng
khác nhau. Dạng thứ nhất được gọi là so sánh bằng số tuyệt đối, kết quả so
sánh biểu hiện cho sự biến động về khối lượng, quy mô của chỉ tiêu phân tích.
Dạng thứ hai đ ược gọi là so sánh bằng số tương đối, cách so sánh này
cho thấy kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các chỉ
tiêu phân tích.
Ngoài ra, nhà phân tích còn sử dụng phương pháp so sánh có liên hệ
giữa chỉ tiêu phân tích với một chỉ tiêu kinh tế tổng quát khác để thấy rõ khả
năng tận dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
Ưu điểm của phương pháp so sánh này là đơn giản và dễ thực hiện,
song khi sử dụng phương pháp này để cho thấy rõ xu hướng phát triển của
đ ối tượng phân tích thì cần xem xét chúng qua nhiều kỳ liên tiếp hoặc có
thể lâu hơn. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp so sánh đó là khi
dùng phương pháp này để phân tích thì các nhà phân tích và các nhà quản lý


24

chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá trạng thái biến đổi tăng lên hay giảm
xuống của các chỉ tiêu mà không thấy được bản chất dẫn đến sự biến đổi đó,
hay nói cách khác, phương pháp so sánh chưa thể giúp xác định nguyên nhân
để đề xuất giải pháp.
b. Phương pháp loại trừ
Có thể nhận thấy, có khá nhiều phương pháp được sử dụng trong quá
trình phân tích hiệu quả kinh doanh, tuy nhiên, để có thể giúp nhà phân tích
tìm ra nguyên nhân sâu xa của hiện tượng kinh tế nhanh và hiệu quả nhất thì
phương pháp loại trừ được sử dụng khá phổ biến. Phương pháp này giúp nhà
phân tích xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cụ thể đến đối tượng
phân tích theo một giá trị xác định.
Phương pháp này được tiến hành bằng cách giả định khi một nhân tố
tác động đến đối tượng phân tích thì các nhân tố còn lại không tác động – tức
là để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng
của các nhân tố còn lại bằng cách đặt đối tượng phân tích vào các trường hợp
giả định khác nhau để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động
của chỉ tiêu nghiên cứu. Để có thể sử dụng phương pháp loại trừ trong phân
tích hiệu quả kinh doanh cần đảm bảo những yêu cầu sau đây:
- Đối tượng phân tích phải có quan hệ với các nhân tố theo một phương
trình toán học ở hai dạng – dạng tích và dạng thương.
- Trong phương trình đó, các nhân tố được sắp xếp theo trình tự từ nhân
tố số lượng đến nhân tố chất lượng. Trong đó, nhân tố số lượng phản ánh quy
mô hoạt động nên còn được gọi là nhân tố quy mô, nhân tố chất lượng phản
ánh hiệu suất hoạt động nên còn được gọi là nhân tố hiệu suất.
- Trình tự xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố được thực hiện
theo đúng trình tự các nhân tố theo quy định đã sắp xếp bằng cách thay thế


25

lần lượt, tức là khi thay thế nhân tố đầu tiên thì phải cố định các nhân tố còn
lại ở kỳ gốc, khi thay thế nhân tố tiếp theo thì phải cố định nhân tố đã thay thế
trước đó ở kỳ phân tích.
- Để xác định mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến chỉ tiêu
phân tích, ta tiến hành thay thế nhân tố ở kỳ phân tích đó vào nhân tố kỳ gốc,
cố định các nhân tố khác rồi tính lại kết quả của chỉ tiêu phân tích. Sau đó,
đem kết quả này so sánh với kết quả của chỉ tiêu ở bước liền trước, chênh
lệch này chính là mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế đến chỉ tiêu
phân tích.
- Cuối cùng, cần tổng hợp mức độ ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đến
chỉ tiêu phân tích, và cần đảm bảo rằng tổng mức ảnh hưởng của các nhân tố
phải đúng bằng mức biến động tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích giữa kỳ phân
tích và kỳ gốc.
Phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích dưới hai dạng, được
gọi với hai tên gọi cụ thể là phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp
số chênh lệch. Hai dạng này của phương pháp loại trừ được sử dụng phù hợp
với từng dạng phương trình thể hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với
các nhân tố ảnh hưởng. Phương pháp thay thế liên hoàn có thể áp dụng cho cả
phương trình dạng tích và dạng thương, trong khi đó phương pháp số chênh
lệch chỉ áp dụng được cho phương trình dạng tích.
Có thể khái quát cách áp dụng hai dạng của phương pháp loại trừ như
sau:
Giả sử gọi: Q là chỉ tiêu phân tích, tương ứng với Q 0 là chỉ tiêu ở kỳ gốc
và Q1 là chỉ tiêu ở kỳ phân tích.
a, b, c là các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×