Tải bản đầy đủ

Quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng TMCP Tiên Phong năm 2015 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-----***-----

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG GIAI ĐOẠN 2015 – 2017

Môn :
Nhóm:

BÀI THẢO LUẬN

Người hướng dẫn
PGS. TS.

HÀ NỘI - 2018



MỤC LỤC

Bảng chữ cái viêt tắt
NH
NHTM
RRTK
TP Bank

Ngân hàng
Ngân hàng thương mại
Rủi ro thanh khoản
Ngân hàng TMCP Tiên Phong



1. Cơ sở lý luận
1.1.

Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong ngân hàng
Thanh khoản là đại diện cho khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả các

nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do
thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tê. Việc
không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trang thiếu khả năng thanh
khoản.
Rủi ro thanh khoản là tình trạng xảy ra khi ngân hàng không thể tìm đủ nguồn
tiền để chi trả hoặc tìm được nhưng với chi phí bỏ ra sẽ cao. Rủi ro thanh khoản là loại
rủi ro thường trực mà bất kỳ ngân hàng nào cũng có nguy cơ gặp phải, bởi với vai trò cơ
bản của ngân hàng là sử dụng những khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay với kỳ hạn dài
hơn nên luôn tạo ra sự chênh lệch về kỳ hạn của dòng vốn. Đây là nguyên nhân đã là
cho ngân hàng vốn đã dễ bị ảnh hưởng trước các tác đọng mạnh từ thị trường lại càng có
nguy vơ lâm vào tình trạng kém thanh khoản và khi đó rủi ro thanh khoản càng có nguy
cơ xuất hiện.
1.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản
Những nguyên nhân tiền đề: thanh khoản của một ngân hàng phải đối mặt
-

với rủi ro có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
Một là, sự không cân xứng về kỳ hạn giữ tài sản có và tài sản nợ. Ngân hàng
vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính


khác, sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, đã xảy ra
tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Do đó, đã xảy ra tình
trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền
thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn. Vậy

-

nên, NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản.
Hai là, sự thay đổi của lãi suất cũng là nguyên nhân tác động đến cả người gửi
tiền và người vay vốn. Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng
để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lời cao hơn, còn những người đi vay tích cực tiếp cận
các khoản tín dụng vì lãi suất cho vay thấp hơn trước như tìm cách trì hoãn việc hoàn trả
các khoản nợ đã đáo hạn hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất đã thỏa
thuận với NHTM có lãi suất thấp, tìm cách trả trước hạn hoặc trì hoãn việc rút vốn vay


với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất cao. Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay
đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng của
sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có
thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí
-

vay mượn trên thị trường tiền tệ.
Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và
kém hiệu quả như các chứng khoản đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của
ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả … Tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền
tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu thanh khoản. Đối với lĩnh vực kinh
doanh khác (không phải kinh doanh tiền tệ), các doanh nghệp có thể dây dưa nợ với
khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác
kinh doanh … Nhưng với NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm,
NHTM không thể làm như vậy. Bất kỳ một sự trực nào về thanh khoản đều có thể gây
tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu NHTM không giải quyết ngay khó khăn này,
khách hàng gửi tiền có thể đồng loạt kéo đến ngân hàng để rút tiền, trạng thái thanh
khoản sẽ trở nên trầm trọng và NHTM có thể bị phá sản. Mặt khác, trên bảng cân đối kế
toán của NHTM, bên tài sản nợ luôn có một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ
hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng có thể rút trước hạn. Đây là những tài sản nợ mà
NHTM có nghĩa vụ phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế NHTM
luôn luôn phải sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Những nguyên nhân từ hoạt động: rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt

-

động bên tài sản và nguồn vốn của ngân hàng.
Nguyên nhân bên tài sản: rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các cam kết tín
dụng. Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiền tiến hành rút tiền vay bất cứ lúc
nào trong thời hạn của nó. Khi một cam kết tín dụng được người vay thực hiện, thì ngân
hàng phải đảm bảo có đủ tiền ngay tức thời để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nếu
không NH phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản bên tài
sản, NH có thể giảm số dư tiền mặt, chuyển hóa các tài sản khác thành tiền hoặc đi vay
các nguồn vốn bổ sung trên thị trường tiền tệ.


Một dạng khác của rủi ro thanh khoản bên tài sản phát sinh từ sự giảm sút giá trị
thị trường của danh mục đầu tư. Khi lãi suất thay đổi (tăng) ngoài dự tính, giá trị của
danh mục đầu tư giảm sút, có thể gây thiệt hại lớn. Thanh khoản thị trường có thể xấu
đi, vì không có người mua trong khi nhiều người muốn bán (hành vi bầy đàn). Thanh
khoản cạn, các chứng khoán chỉ bán được với giá rẻ làm rủi ro thanh khoản của ngân
-

hàng tăng.
Nguyên nhân bên nguồn vốn (bên nợ): rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ khi
nào khi những người gửi tiền thực hiện rút tiền ngay lập tức. Khi những người gửi tiền
rút tiền đột ngột, buộc NH phải đi vay bổ sung hoặc bán bớt tài sản (chuyển hóa tài sản
thành tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh khoản. Trong tất cả các nhóm thuộc loại tài
sản, thì tiền mặt có mức độ thanh khoản cao nhất, chính vì vậy, NH sử dụng tiền là
phương tiện đầu tiên và trực tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nhưng tiền mặt
không mang lại thu nhập lãi suất, do đó các NH luôn có xu hướng giảm thiểu tài sản ở
dạng tiền mặt. Để thu được lãi suất, các NH phải đầu tư vào các tài sản ít thanh khoản
hơn hoặc vào những tài sản có thời hạn dài. Cho dù cuối cùng thì hầu hết các tài sản
khác nhau cũng có thể chuyển hóa thành tiền, nhưng chi phí để chuyển hóa thành tiền
ngay lập tức đối với tài sản khác nhau thì rất khác nhau. Khi phải bán một tài sản ngay
lập tức thì giá của nó có thể thấp hơn rất nhiều so với trường hợp có thời gian để tìm
kiếm, người mua và thương lượng về giá. Kết quả là, một số tài sản chỉ có thể chuyển
hóa thành tiền ngay lập tức tại với mức giá bán rất thấp, điều này đe dọa đến khả năng
thanh toán cuối cùng của NH. Ngoài thanh lý tài sản, NH có thể tìm kiếm các nguồn vốn
bổ sung thông qua việc đi vay trên thị trường tiền tệ.
1.3. Vai trò của quản trị rủi ro thanh khoản đối với hoạt động thanh toán
Thanh khoản của ngân hàng liên quan trực tiếp đến an toàn và sinh lợi. Mục
tiêu quan trọng và xuyên suốt trong hoạt động ngân hàng duy trì khả năng đáp ứng kịp
thời nhu cầu thanh khoản. Để duy trì nó thì ngân hàng phải cân nhắc giữa mức độ an
toàn của thanh khoản và khả năng sinh lợi và cũng phải chấp nhận một khoản chi phí
nhất định. Vì vậy, quản trị rủi ro thanh khoản là việc phòng ngừa, kiểm soát và hạn chế
được rủi ro thanh khoản đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Từ đó đề ra các
chiến lược kinh doanh, phát huy lợi thế cạnh tranh, đo lường vốn tối thiểu và khả năng


thanh toán, giúp lãnh đạo ra quyết định, báo cáo và kiểm soát rủi ro, quản lý danh mục
đầu tư…
2. Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Tiên Phong

2.1 Mục tiêu kế hoạch TPBank đề ra
- Kiểm soát được rủi ro thanh khoản.
- Dự đoán nguy cơ rủi ro thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra.
- Định hướng phát triển bền vững, ưu tiên củng cố năng lực quản trị rủi ro
chung toàn hàng, đặc biệt tập trung cảnh báo sớm rủi ro tín dụng toàn hệ thống, giám sát
hoạt động tín dụng toàn hệ thống; áp dụng các mô hình, công nghệ tiên tiến trong quản
lý tài sản Nợ - Có, quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường
2.2. Tình hình quản trị dự trữ và thanh khoản
NH tích lũy thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao,
chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán.
- Về tiền, vàng bạc, đá quý
(ĐVT: Triệu đồng)

Năm 2016

Năm 2017

Tiền mặt bằng VND
309,330
412,491
Tiền mặt bằng ngoại tệ
411,484
499,954
Vàng
94,333
264,533
Tổng
815,147
1,176,978
Về tình hình tiền mặt, vàng và đá quý. Đây là công cụ có tính lỏng cao nhất.
Vàng và đá quý có khả năng chuyển đổi thành tiền tạo ra tính thanh khoản cao.
Nhìn chung, NH có xu hướng nắm giữ khoản mục tiền mặt , vàng và đá quý
tăng lên khá cao, đây có thể là do TPBank muốn tăng dự trữ và thanh khoản, cụ thể:
+) Tiền mặt băng VND tại TP bank năm 2017 tăng 103,161triệu đồng so với
năm 2016, tỷ lệ tăng tương ứng là 33.35%
+) Tiền mặt bằng ngoại tệ chiếm tỷ trọng lớn trong lưu trữ tăng 88,470 triệu
đồng, tương ứng 21.5% năm 2017 so với năm 2016.


+) Đối với vàng có xu hướng tăng đột ngột vào năm 2017 đạt ngưỡng 170,200
triệu đồng so với cùng kỳ năm 2016, tỷ lệ tăng tương ứng 180.42%.
Năm 2016
(Triệu đồng)
Tiền và các khoản tương
đương tiền tại quỹ
Tiền gửi tại NHNN
Tiền, vàng gửi tại các TCTD
khác và cho vay các TCTD
khác
Chứng khoán đầu tư sẵn
sàng để bán
- Về tiền và tương đương tiền

815,148

Năm 2017
(Triệu
đồng)
1,176,978

Tăng/giảm Tương
(Triệu
ứng (%)
đồng)
361,830
44.39%

1,362,317
23,784,661

2,364,130
22,488,409

1,001,813
-1,296,252

73.54%
-5.45%

29,175,883

24,938,137

-4,237,746

-14.52%

Có thể thấy, TP bank đang có xu hướng tăng dự trữ tiền và các khoản tương
tiền và tiền gửi tại ngân hàng nhà nước. Trái ngược với nó, Tiền, vàng gửi tại các TCTD
khác và cho vay các TCTD khác và Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán đang có xu
hướng giảm tích trữ. Đây là dấu hiệu TP bank đang có nhu cầu thanh khoản trong ngắn
hạn.


2.3.

Trạng thái thanh khoản ròng (NLP)

*Cung thanh khoản:
(Đơn vị:triệu đồng)
Chỉ tiêu
Các khoản tiền
gửi sẽ nhận được
Thu nhập từ lãi và
việc cung cấp các
dịch vụ
Các khoản tín
dụng thu về
Bán và thanh lý
tài sản
Vay mượn từ thị
trường tiền tệ
*Cầu thanh khoản

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

19,086,634

21,098,403

23,098,991

3,098,098

4,741,067

7,373,821

49,905,876

53,128,657

57,365,645

649

62

462

12,418,409

13,297,943

14,976,932

Chỉ tiêu
Năm 2015
Chi phí trả lãi và
cung ứng dịch
1,918,454
vụ ngân hàng
Thanh toán cổ
2,860
tức cho cổ đông
*Trạng thái thanh khoản ròng :
Năm 2015
84,509,666
1,921,314



Năm 2016

Năm 2017

3,052,861

4,152,181

2,398

2,987

Năm 2016
92,266,132
3,055,259

Năm 2017
102,815,851
4,155,168

Cung thanh khoản
Cầu thanh khoản
Trạng thái thanh khoản
ròng
82,588,352
89,210,873
98,660,683
Ta thấy được NLPt của cả 3 năm 2015, 2016 và 2017 đều dương có nghĩa ngân
hàng ở trong trạng thái thặng dư thanh khoản.
Cụ thể năm 2016, thặng dự thanh khoản là 89,211,653 triệu đồng, trạng thái
thanh khoản dương là do các khoản thu được đã đủ chi trả cho các khoản phải chi. Năm
2017, thặng dư thanh khoản là 98,661,284 triệu đồng tăng 9,449,810 triệu đồng so với


năm 2016, cho thấy được ngân hàng đã có những chính sách, biện pháp nhằm thu hút
vốn và hạn chế được những rủi ro thanh khoản có thể xảy ra.
3. Đo lường khả năng thanh khoản thông qua các chỉ số thanh khoản
- Xét các chỉ số khả năng thanh khoản của TPBank như sau:

* 100%

Chỉ số
Tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu
Chỉ số trạng thái
tiền mặt

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

6.30%

5.37%

5.38%

27.44%

23.26%

19.08%

+) Từ bảng trên có thể thấy được Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu năm 2015 đạt
ngưỡng 6.3% tuy nhiên có xu hướng giảm trong năm 2016 – 2017 mức tỷ lệ này chỉ đạt
giao động 5.4% => khả năng thanh khoản của ngân hàng khá thấp, và đang có nguy cơ
gặp rủi ro thanh khoản, cụ thể là ngân hàng chưa đảm bảo yêu cầu đề ra của ngân hàng
nhà nước. Ngân hàng cần kiểm soát tốt, quản trị rủi ro tốt tránh trường hợp xấu xảy ra
đối với ngành tài chính. Tuy nhiên mỗi chỉ số này cũng không khả năng thanh toán nợ
của ngân hàng ké
+) Với chỉ số trạng thái tiền mặt cũng giảm tương ứng sau 3 năm liên tiếp. Đạt
19,08% năm 2017 thấp nhất hơn so với năm 2016 và 2015 tương ứng là 4.18% và
8,36% => thấy rằng ngân hàng sử dụng khoản tiền mặt trên hệ thống không cao. Trạng
thái tiền mặt >0 thể hiện một phần ngân hàng không để tiền vào một chỗ mà dùng tiền
đầu tư vào vào các hạng mục, chứng khoán những tài sản có tính thanh khoản dễ chuyển
đổi.


4. Quy trình quản trị rủi ro thanh khoản TPBank
5.

BƯỚC 1: Nhận dạng rủi ro thanh khoản
Là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh

6.

của NH.
Nhận dạng rủi ro thanh khoản bao gồm các công việc theo dõi, xem xét,

7.

nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của ngân hàng. Để nhận
diện được rủi ro thanh khoản, buộc nhà quản trị tại TPBank phải lập được bảng liệt kê
tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ xuất hiện tại TPBank bằng phương pháp: Lập bảng
nghiên cứu về rủi ro thanh khoản và tiến hành điều tra, phân tích các báo cáo tài chính…
8. BƯỚC 2: Phân tích rủi ro thanh khoản

Phải xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản. Đây là

9.

một công việc phức tạp, mất nhiều thời gian bởi rủi ro thanh khoản không chỉ do một
nguyên nhân duy nhất gây ra mà thường do nhiều nguyên nhân gây ra. Nhà quản trị
phân tích rủi ro thanh khoản nhằm tìm ra được biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro.
Trên cơ sở tìm ra nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân thay đổi chúng. Từ đó sẽ
phòng ngừa rủi ro thanh khoản một cách tối ưu nhất.
10. BƯỚC 3: Đo lường rủi ro thanh khoản

Để đo lường được chính xác rủi ro thanh khoản thì cần thu thập số liệu

11.

và phân tích, đánh giá. Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro
thanh khoản.
12. BƯỚC 4: Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro thanh khoản
13.

Kiểm soát rủi ro thanh khoản là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật,

công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để phòng ngừa, né tránh hoặc giảm
thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi đến với TPBank.


14. Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản tại TPBank
15.

- Mặc dù quy định về quản lý thnh khoản đã được ban hành, nhưng việc

triển khai áp dụng nhất là tại các chi nhánh chưa được quan tâm đúng mức từ cấp lãnh
đạo đến nhân viên
16.

- Hội sở chính chưa có quy định rõ ràng cụ thể về các tỷ lệ an toàn trong

hoạt động cần đảm bảo đối với các chi nhánh. Các giới hạn đặt ra cho các chỉ số trong
toàn hệ thống còn chứ phù hợp, nhu cầu tỷ lệ dự trữ tối thiểu chỉ là 8%.
17.

- Bộ phận hỗ trợ ALCO khi lập báo cao cung cầu thanh khoản, xây dựng

các kịch bản phải chẳng đã kỳ vọng nhiều vào thị trường nên có những đánh giá khá khả
quan, điều đó đã thúc đẩy hoạt động cho vay, giảm dữ trự. Ngay cả khi vấn đề đó khó
khăn liên quan đến thanh khoản của NH còn chưa giải quyết dứt điểm xong, nhưng dư
nợ của TPBan tăng mạnh vào các tháng cuối năm 2017.
18.

- Ngoài ra, khi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng còn thấp, các ngân

hàng đã vay qua đêm để đảm bảo DTBB và khả năng thanh toán, còn nguồn vốn huy
động được đem cho vay, mà lại cho va và đầu tư chứng khoán, bất động sản – những
lĩnh vực có rủi ro cao. Tuy năm 2017 TP Bank có giảm tỷ trọng nhóm đầu tư rủi ro cao
tuy nhiên con số đó còn khá cao so với tỷ trọng nguồn vốn được sử dụng để đầu tư. Đặc
biệt khi lượng cung tiền bị siết chặt là lúc lãi suất tăng cao, trong khi các khoản cho vay
chưa thể thu hồi (hay khó thu hồi), khả năng thanh khoản bị sụt giảm là điều tất yếu
trong giai đoạn này.
19.

- Thêm vào đó, các tài sản khác như chứng khoán có thể dễ dàng chuyển

đổi sang tiền mặt lại được dự trữ với tỷ lệ không quá thấp, cũng sẽ một phần ảnh hưởng
cho tình trạng thanh khoản của NH thêm nghiêm trọng.
20.

- Chính sách kinh tế vĩ mô: để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ

mô, NHNN đã thực hiện CSTT phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính
sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất trên thị trường.


21.

- Quy mô vốn điều lệ của TP bank còn không qua cao, tiềm lực tài chính

chưa đủ mạnh, điều này khiến cho hoạt của NH trở nên khó khăn, khả năng đảm bảo tỷ
lệ CAR cũng gặp nhiều khó khăn. Đây được đánh giá là một trong những nguyên nhân
cơ bản dẫn đến RRTK của không chỉ TP bank nói riêng mà các NHTM Việt Nam nói
chung trong những năm gần đây.
22.

- Không cân xứng về kỳ hạn của TSC và TSN. Nhất là trong điều kiện thị

trường biến động nhanh, người gửi tiền thường có xu hướng chọn kỳ hạn ngắn với
nguồn vốn nhàn rỗi của mình. Do vậy, tỷ trọng vốn huy động kỳ hạn ngắn trong tổng số
vốn huy động cao, trong khi nhu cầu vay vốn thường dài, nên TP bank đã dùng vốn huy
động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn vượt quá tỷ lệ quy định. Do vậy, mất cân đối
cơ cấu kỳ hạn cũng như tiềm ẩn RRTK.
23.

- Uy tín, hình ảnh và ảnh hưởng của TP bank bị sụt giảm khá nhiều. Có

thể nói trong giai đoạn này, TP bank có vướng vào vụ đại án Phạm Công Danh. Cụ thể,
câu hỏi được đặt ra dòng tiền của Ngân hàng Xây dựng (VNCB, nay là CB) thông qua
Ngân hàng TMCP Tiên phong (TPBank) và Quỹ Lộc Việt để chảy về túi Phạm Công
Danh như thế nào? Tại phiên tòa xét xử đại án Phạm Công Danh giai đoạn 2 sáng ngày
09/01/2018, theo cáo trạng, Phạm Công Danh và đồng phạm đã thông qua việc vay vốn
tại TPBank có tài sản đảm bảo là chính tiền gửi liên ngân hàng của VNCB tại TPBank,
gây thiệt hại cho VNCB hơn 1,700 tỷ đồng. Còn về phía TPBank, khi xét duyệt hồ sơ
vay vốn, các chuyên viên khách hàng và lãnh đạo phòng kinh doanh chỉ xem xét hồ sơ
vay của 11 công ty, không đánh giá về năng lực tài chính, vẫn đề xuất cấp tín dụng cho
11 công ty để đầu tư mua trái phiếu và dùng trái phiếu đó làm tài sản đảm bảo. Sau đó
mặc dù không xem xét tính pháp lý của các trái phiếu mà 11 công ty vay vốn đầu tư,
Phòng Tái thẩm định 1 TPBank vẫn đồng ý cho doanh nghiệp vay vốn. Hội đồng tín
dụng và Ủy ban tín dụng đã đồng ý phê duyệt cấp tín dụng cho 11 công ty tổng số tiền
1,667 tỷ đồng đầu tư trái phiếu Tập đoàn Thiên Thanh và Công ty Trung Dung. Sự kiện
này không chỉ nói lên vấn đề quy trình tín dụng của Tpbank không nghiêm ngặt, lỏng


lẻo mà còn bị đánh giá thấp tính chuyên nghiệp và cơ quan cấp cao của TP bank trong
mắt khách hàng.
24.

- Nhận thức về quản lý RRTK của TP bank còn nhiều hạn chế. Sự chủ

quan, kế hoạt tăng trưởng tín dụng, mở rộng phát triển mạng lưới có nhanh so với nội tại
của NH, khả năng quản lý chưa theo kịp với biến động nhanh chóng của thị trường, kể
cả biến động do chính sách… đều là nguyên nhân đẫn dến căng thẳng trong thanh khoản
của TP bank trong thời gian qua.

25.

6. Các công cụ quản trị rủi ro thanh khoản trong TP bank

26.

Các công cụ quản lý rủi ro thanh khoản trong ngân hàng giúp NH trước

tiên phát hiện sớm được rủi ro thanh khoản để có phương án ngăn chặn, đồng thời đưa
ra các chiến lược nhằm quản trị rủi ro thanh khoản. Mỗi một NH sẽ áp dụng những công
cụ quản trị khác nhau tùy vào quy mô, tiềm lực tài chính, nội tại của NH mà lựa chọn
các công cụ sao cho phù hợp và hiệu quả. Cụ thể đối với TP bank áp dụng tiêu biểu
những công cụ như sau:
27.

- Đo lường và theo yêu cầu cấp vốn dòng

28.

Một quy trình theo dõi và đo lường hiệu quả rất quan trong đối với việc

quản lý RRTK. Việc đo lường khả năng thanh khoản liên quan tới việc đánh giá tất cả
luồng tiền ra vào của NH để xác định liệu có tiềm tàng một khả năng suy giảm nào
không. Do TP bank sẽ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế và thị trường, vì vậy theo
dõi các diễn biến thị kinh tế và xu hướng thị trường là điều đặc biệt quan trọng đối với
quản lý rủi ro thanh khoản.
29.

- Mô hình tổ chức 3 tuyến phòng vệ

30.

Mô hình 3 tuyến phòng thủ trong quản lý rủi ro và kiểm soát cung cấp

một cách nhìn mới về các hoạt động, nhằm đảm bảo sự thành công liên tục trong các
sang kiến quản lý rủi ro – bất kể mức độ hay sự phức tạp.Ngay cả trong tổ chức không


có hệ thống quản lý rủi ro chính thức, mô hình 3 tuyến phòng thủ có thể làm tăng sự rõ
rang về rủi ro và kiểm soát,giúp cải thiện hiệu quả hệ thống quản lý rủi ro.
31.

Trong mô hình 3 tuyến phòng thủ,kiểm soát quản lý (Management

control) là tuyến phòng thủ đầu tiên trong quản trị rủi ro,kiểm soát rủi ro và chức năng
giám sát việc tuân thủ được thiết lập bởi quản lý là tuyến phòng thủ thứ hai,và sự đảm
bảo là thứ ba.Mỗi tuyến phòng thủ đóng một vai trò riêng biệt trong khuôn khổ quản trị
rộng lớn của tổ chức.
32.

+) Tuyến phòng thủ thứ nhất

33.

Mô hình 3 tuyến phòng thủ phân biệt 3 nhóm (hoặc 3 dòng) liên quan

quản trị rủi ro hiệu quả như sau :
34.



Chức năng sở hữu và quản lý rủi ro

35.



Chức năng giám sát rủi ro

36.



Chức năng cung cấp sự đảm bảo độc lập (Independent assurance)

37.

Theo tuyến đầu tiên của mô hình này thì nhà quản lý hoạt động sở hữu

và quản lý rủi ro. Họ chịu trách nhiệm thực hiện các hành động khắc phục để giải quyết
các quá trình kiểm soát thiếu sót.
38.

Quản lý hoạt động có trách nhiệm duy trì việc kiểm soát nội bộ hiệu quả

và để thực hiện các thủ thuật kiểm soát rủi ro trên cơ sở hàng ngày. Quản lý hoạt động
xác định, đánh giá, kiểm soát, và giảm nhẹ rủi ro, hướng dẫn phát triển và thực hiện các
chính sách và quy trình nội bộ để đảm bảo các hoạt động phù hợp với mục tiêu và nhiệm
vụ. Thông qua một cấu trúc trách nhiệm phân tầng, các quản lý cấp trung sẽ thiết kế và
thực hiện các quy trình chi tiết để điều khiển và giám sát việc thực hiện những quy định
đó bởi các cấp nhân viên.
39.

Quản lý hoạt động đương nhiên sẽ là tuyến phòng thủ đầu tiên vì kiểm

soát được thiết kế vào các hệ thống và quy trình dưới sự hướng dẫn của quản lý hoạt


động.Nên có bộ kiểm soát giám sát và quản lý tại chỗ để đảm bảo tuân thủ và nhấn
mạnh sự cố kiểm soát,quy trình không đầy đủ, và các sự kiện bất ngờ.
40.

+) Tuyến phòng thủ thứ hai : quản lý rủi ro và chức năng tuân thủ

41.

Trong điều kiện hoàn hảo, có thể chỉ cần một tuyến phòng thủ để đảm

bảo quản lý rủi ro một cách hiệu quả.Tuy nhiên, trong thế giới thực, một tuyến phòng
thủ duy nhất có thể sẽ bị thiếu. Tuyến thứ 2 thiết lập các chức năng tuân thủ và quản lý
rủi ro khác nhau để xây dựng, giám sát việc kiểm soát phòng thủ đầu tiên. Các chức
năng cụ thể sẽ khác nhau tùy theo tổ chức hoặc ngành,nhưng tuyến phòng thủ này sẽ có
các chức năng điển hình như sau :
42.

• Chức năng quản lý rủi ro tạo điều kiện và giám sát việc thực hiện các

biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả bằng hoạt động quản lý giúp nhà quản lý rủi ro trong
việc xác định các nguy cơ rủi ro mục tiêu và báo cáo đầy đủ thông tin liên quan rủi ro
đến toàn bộ tổ chức.
43.

• Chức năng tuân thủ : giám sát rủi ro cụ thể khác nhau như không tuân

thủ pháp luật và các quy định hiện hành.Trong chức năng này,chức năng riêng biệt báo
cáo trực tiếp đến quản lý cấp cao,và trong một số lĩnh vực kinh doanh,trực tiếp đến các
cơ quan chủ quản.Thường có nhiều chức năng tuân thủ tồn tại trong tổ chức,với trách
nhiệm giám sát việc tuân thủ của các loại cụ thể sau : sức khỏe, an toàn, chuỗi cung
ứng,môi trường hoặc giám sát chất lượng.
44.

• Chức năng giám sát các rủi ro tài chính và các vấn đề báo cáo tài chính

45.

Quản lý thiết lập các chức năng để đảm bảo tuyến phòng thủ đầu tiên

được thiết kế đúng cách, đúng chỗ và hoạt động như dự định. Mỗi một chức năng có
một mức độ độc lập với tuyến phòng thủ đầu tiên.Vì là chức năng quản lý, chúng can
thiệp trực tiếp vào việc sửa đổi và phát triển hệ thống rủi ro và kiểm soát nội bộ. Do
đó,tuyến phòng thủ thứ 2 phục vụ một mục đích quan trọng nhưng không thể cung cấp


những phân tích thực sự độc lập với cơ quan chủ quản liên quan đến quản lý rủi ro và
kiếm soát nội bộ
46.

Nhiệm vụ của những chức năng này khác nhau về bản chất cụ thể, nhưng

có thể bao gồm :
47.

Hỗ trợ chính sách quản lý,xác định trách nhiệm và vai trò,và thiết lập

mục tiêu thực hiện
48.

Cung cấp các khuôn khổ quản lý rủi ro

49.

Xác định các vấn đề đã biết hoặc đang nổi lên

50.

Xác định sự thay đổi trong rủi ro tiềm ẩn của tổ chức

51.

Giúp quản lý trong việc phát triển các quy trình và kiểm soát để quản lý

rủi ro và các vấn đề
52.

Cung cấp hướng dẫn và đào tạo về quy trình quản lý rủi ro

53.

Tạo điều kiện giám sát việc thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro hiệu

quả của hoạt động quản lý
54.

Thông báo hoạt động quản lý về các vấn đề đang nổi lên và thay đổi tình

huống rủi ro và quy định
55.

Giám sát tính an toàn hiệu quả của kiểm soát nội bộ, sự chính xác và đầy

đủ của các báo cáo,sự tuân thủ pháp luật và các quy định,và khắc phục kịp thời các thiếu
sót.
56.

+) Tuyến phòng thủ thứ ba : kiểm toán nội bộ

57.

Kiểm toán nội bộ đảm bảo tính hiệu quả của quản trị, quản lý rủi ro và

kiểm soát nội bộ, bao gồm cả các cách thức mà 2 tuyến phòng thủ đầu tiên đạt mục tiêu


kiểm soát và quản lý rủi ro. Phạm vi của bảo đảm được báo cáo cho quản lý cấp cao và
cơ quan chủ quản,thường bao gồm :
58.

• Một loạt các mục tiêu,bao gồm hiệu quả hoạt động,an toàn tài sản,độ tin

cậy và tính toàn vẹn của quy trình báo cáo,sự tuân thủ pháp luật,quy định,chính sách,thủ
tục và hợp đồng.
59.

• Các yếu tố trong khuôn khổ kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro,bao

gồm : môi trường kiểm soát nội bộ,tất cả các yếu tố của khuôn khổ quản lý rủi ro của tổ
chức,thông tin truyền thông,giám sát.
60.

• Các đơn vị tổng thể,bộ phận,công ty con,đơn vị điều hành,và các chức

năng- bao gồm các quy trình kinh doanh,chẳng hạn : sales,sản xuất,marketing,bộ phận
khách hàng,và các hoạt động- cũng như các chức năng hỗ trợ : thu mua,biên chế,kế toán
chi tiêu…
61.

Thiết lập hoạt động kiểm toán nội bộ chuyên nghiệp là yêu cầu quản trị

cho tất cả các tổ chức.Điều này rất quan trọng đối với các tổ chức,để đảm bảo tính hiệu
quả quá trình quản trị và quản lý rủi ro của mình. Kiếm toán nội bộ góp phần tích cực
vào quản trị tổ chức một cách hiệu quả.Biện pháp tốt nhất để thiết lập và duy trì chức
năng kiểm toán nội bộ độc lập,đầy đủ và có thẩm quyền,bao gồm :
62.

Hoạt động theo tiêu chuẩn được quốc tế công nhận cho hoạt động kiểm

toán nội bộ
63.

Báo cáo với cấp độ đủ cao trong tổ chức để thực hiện nhiệm vụ của mình

một cách độc lập
64.
-

Có báo cáo tích cực và hiệu quả đến cơ quan chủ quản.
Đo lường rủi ro thanh khoản qua các chỉ tiêu đánh giá rủi ro thanh khoản

65. Một số chỉ số đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng.


66.

+) Chỉ số về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Đây là thước đo độ an toàn vốn

của ngân hàng, thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng.
67. * 100%
68.

+) Chỉ số về trạng thái tiền mặt: về mặt lý thuyết, chỉ số này càng lớn thì

ngân hàng càng có khả năng thanh toán tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời.
Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này trên thực tế quá cao thì sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng
giảm xuống bởi vì các tài sản tiền mặt hoặc tương đương tiền thường ít đem lại lợi tức
cao cho ngân hàng.
69.
+) Chỉ số về năng lực cho vay: thể hiện chỉ số thanh khoản âm của ngân
hàng vì dư nợ cho vay là tài sản nợ có tính thanh khoản thấp nhất mà ngân hàng nắm
giữ.
70.

71. *100%
72.

+) Chỉ số cho vay/ tiền gửi: thể hiện khả năng huy động vốn để cho vay

của ngân hàng tại thời điểm báo cáo. Dư nợ cho vay là tài khoản có tính thanh khoản
thấp, nhưng mặt khác lợi tức mang lại là cao nhất. Do đó, chỉ tiêu này càng lớn cho thấy
khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp và ngược lại.
73.

- Áp dụng công cụ SWAP là công cụ quan trọng để các ngân hàng có thể

cơ cấu lại tài sản nợ, tài sản có trên bảng cân đối tài sản của mình, nhằm hạn chế các tác
động của rủi ro lãi suất. rủi ro kỳ hạn.


74.
75. 7. Đề xuất các biện pháp quản trị rủi ro thanh khoản và danh mục đầu

76.

- TPbank là ngân hàng mạnh về dịch vụ e-banking, để phòng ngừa rủi ro

trong hoạt động này, TPbank đã đề ra điều khoản sử dụng riêng để đảm bảo lợi ích của
Ngân hàng và khách hàng.
77.

- Tuân thủ các quy định của Ngân hàng nhà nước đối với việc tuân thủ

các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng
78.

- Cần có đạo đức trong kinh doanh, tránh chạy theo lợi nhuận bất chấp

79.

- Thực hiện việc cơ cấu lại tài sản nợ và tài sản có cho phù hợp. Đây là

rủi ro

công việc hết sức quan trọng để quản lý rủi ro thanh khoản của NHTM. Ngân hàng cần
xem lại cơ cấu danh mục tài sản nợ, tài sản có cho phù hợp, nhằm hạn chế thấp nhất rủi
ro có thể xảy ra, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay trên thị trường; cơ cấu
lại dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn, giữa nguồn huy động ngắn hạn dùng
để cho vay trung, dài hạn.
80.

- Thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu cho vay vào

các lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro nhiều như chứng khoán, bất động sản và tiêu dung.
Ngân hàng đều phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngân hàng, tiền gửi
tại Ngân hàng Trung ương và các tài sản có tính lỏng cao khác). Làm như vậy để đảm
bảo duy trì dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương và để đối phó với các dòng tiền
đi ra. Việc kết hợp giữa dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp sẽ giúp ngân hàng chủ động vừa
đối phó với rủi ro thanh khoản vừa có thu nhập hợp lý.
81.

- Thực hiện tốt quản lý rủi ro lãi suất khe hở lãi suất: Cần hoàn thiện các

quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huy động, cho vay trung, dài hạn)
theo lãi suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học để không xảy ra tình trạng các
khách hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối


thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Hiện nay, xuất hiện một thực tế là
các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đến hạn không chịu trả nợ vay vì họ e ngại sau khi
trả sẽ rất khó vay lại được tiền từ ngân hàng. Vì thế, họ sẵn sàng chịu phạt lãi suất quá
hạn ghi trong hợp đồng vì như vậy, so ra vẫn còn thấp hơn lãi suất cho vay mới. Chính
điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
- Thực hiện tốt quản lý rủi ro kỳ hạn: Sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài

82.

sản nợ và tài sản có của ngân hàng là lý do quan trọng làm cho các ngân hàng gặp khó
khăn thanh khoản trong thời gian qua. Vấn đề sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung,
dài hạn với tỷ trọng lớn hoặc cùng là ngắn hạn và trung, dài hạn nhưng thời hạn cụ thể
khác nhau (ví dụ như huy động trung, dài hạn hai năm nhưng cho vay trung hạn ba năm)
cũng làm cho ngân hàng khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền ra và dòng tiền vào
của mình.
- Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro: Thị trường tiền tệ phái sinh ở

83.

ViệtNam còn rất hạn chế, tuy nhiên, sau đợt biến động của thị trường tiền tệ trong thời
gian qua, chắc chắn các ngân hàng sẽ quan tâm nhiều hơn và nó sẽ giúp cho ngân hàng
quản lý tốt hơn tài sản nợ, tài sản có của mình. Thị trường REPO là công cụ khá hiệu
quả trong việc tạo ra tính lỏng cao cho các chứng khoán nợ và cơ cấu tài sản có nhằm hỗ
trợ thanh khoản cho các ngân hàng một cách nhanh chóng. Forward và Future cũng là
những công cụ để cầm giữ lãi suất giao dịch nhằm hạn chế rủi ro khi lãi suất thị trường
biến động.
84.
85.
86.
87.
88.
89.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×