Tải bản đầy đủ

Pháp luật hiện hành về chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM BẢO YẾN

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHỦ THỂ
THAM GIA QUAN HỆ MUA BÁN HÀNG HOÁ
QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ
Chuyên ngành:Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Yến

HÀ NỘI - 2014



LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Yến đã
hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn thầy cô khoa Sau Đại học cùng
toàn thể thầy, cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội – những người đã tạo điều
kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ
em trong suốt thời gian em thực hiện luận văn này.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Học viên
Phạm Bảo Yến


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chính xác. Các kết quả trình
bày trong luận văn được tổng hợp sau quá trình nghiên cứu của tác giả chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Phạm Bảo Yến


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH
HÀNG HÓA VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA QUAN HỆ MUA BÁN HÀNG
HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA ................................................................ 5
1.1 Khái quát về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa .................................... 5
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm ....................................................................................... 5
1.1.2 Quy trình giao dịch mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa .............. 10
1.1.3 Vai trò của hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH ................................ 11
1.2 Khái quát về các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa ..................................................................................................................... 13
1.2.1 Sở giao dịch hàng hóa .................................................................................. 14
1.2.2 Thành viên kinh doanh ................................................................................. 16
1.2.3 Thành viên môi giới ...................................................................................... 17
1.2.4 Khách hàng .................................................................................................. 18
1.3 Khái quát pháp luật về các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở
giao dịch hàng hóa...................................................................................................... 20


CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA
QUAN HỆ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA Ở
VIỆT NAM ............................................................................................................... 23
2.1 Quy định về Sở giao dịch hàng hóa....................................................................... 23
2.1.1 Địa vị pháp lý của SGDHH .......................................................................... 23
2.1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động ...................................................................... 24
2.1.3 Cơ cấu tổ chức ............................................................................................ 26
2.1.4 Chức năng hoạt động ................................................................................... 32
2.1.5 Điều kiện thành lập và chấm dứt hoạt động .................................................. 34
2.2 Quy định về thành viên của Sở giao dịch hàng hóa ............................................... 36
2.2.1 Các loại thành viên của SGDHH .................................................................. 36
2.2.2 Điều kiện trở thành thành viên của SGDHH ................................................. 38
2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các thành viên .......................................................... 40
2.2.4 Chấm dứt tư cách thành viên ........................................................................ 45
2.3 Quy định về khách hàng tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa ..................................................................................................................... 46


2.3.1 Địa vị pháp lý của khách hàng trên SGDHH ................................................ 46
2.3.2 Điều kiện trở thành khách hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở
giao dịch hàng hóa ..................................................................................................... 49
2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia quan hệ mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng hóa .................................................................................. 51
2.3.4 Chấm dứt tư cách khách hàng ...................................................................... 53
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
THI PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ THAM GIA QUAN HỆ MUA BÁN HÀNG
HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ .............................................................. 54
3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa
qua Sở giao dịch hàng hóa .......................................................................................... 54
3.1.1 Hoàn thiện quy định về Sở giao dịch hàng hóa ............................................. 54
3.1.2 Hoàn thiện quy định về khách hàng .............................................................. 56
3.1.3 Hoàn thiện quy định về thành viên kinh doanh và thành viên môi giới................ 58
3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể trong quan hệ mua
bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa .................................................................... 59
3.2.1 Mở rộng và phát triển hoạt động MBHH qua SGDHH ................................. 59
3.2.2 Nâng cao trình độ, kỹ năng của các chủ thể tham gia vào hoạt động
MBHH qua SGDHH ................................................................................................... 64
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 67


1

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động mua bán hàng hoá (MBHH) qua Sở giao dịch hàng hoá
(SGDHH) ngày càng phát triển trên thế giới, góp phần quan trọng trong việc
phát triển kinh tế, tăng cường hội nhập, giao lưu thương mại giữa các nước.
Nhận định được tầm quan trọng của hoạt động MBHH qua SGDHH, Việt
Nam đã đưa hoạt động này vào điều chỉnh trong Luật thương mại 2005 tạo cơ
sở pháp lý cho hoạt động này hình thành và phát triển trong nước. Tuy nhiên,
thời gian vừa qua hoạt động MBHH qua SGDHH diễn ra hạn chế, không đạt
được kỳ vọng của các nhà làm luật và hoạch định chính sách. Điều này xuất
phát từ nhiều nguyên nhân như quy định của pháp luật còn chưa đầy đủ, chặt
chẽ; các nhà sản xuất kinh doanh nhiều hạn chế trong nhận thức về hoạt động
thương mại mới mẻ này. Để thúc đẩy sự phát triển của MBHH qua Sở giao
dịch cần các giải pháp chiến lược, đồng bộ, hiệu quả. Một trong những động
lực thúc đẩy sự phát triển chính là yếu tố con người. Để có được sự phát triển
bền vững, hiệu quả cần tập trung đầu tư phát triển con người hay chính là các
chủ thể tham gia quan hệ MBHH qua SGDHH. Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề
“Pháp luật hiện hành về chủ thể tham gia quan hệ MBHH qua SGDHH”
làm đề tài luận văn của mình, với mong muốn tìm hiểu một cách toàn diện về
các chủ thể tham gia quan hệ MBHH qua SGDHH trong các quy định của
pháp luật hiện hành và trong hoạt động thực tiễn, qua đó có định hướng nâng
cao số lượng, chất lượng các chủ thể của quan hệ, góp phần phát triển hoạt
động MBHH qua SGDHH.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt
động MBHH qua SGDHH, song phần lớn các công trình này nghiên cứu dưới
góc độ kinh tế. Ngoài ra còn một số các nghiên cứu dưới góc độ pháp lý về
hoạt động MBHH qua Sở giao dịch tập trung ở các vấn đề pháp lý về
SGDHH; hợp đồng MBHH qua SGDHH. Có thể kể đến một số công trình như:


2

- Đề tài khoa học: “Thị trường hàng hóa giao sau và việc triển khai xây
dựng ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Văn Nam, Viện Nghiên cứu Thương
mại, Bộ Thương mại, mã số 99-78-159;
- Đề tài khoa học: “Định hướng xây dựng khung pháp lý cho hợp đồng
giao sau trong thị trường giao sau tại Việt Nam” (2004) của tác giả Lê Hoàng
Nhi, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;
- Đề tài khoa học: “Định hướng và các giải pháp phát triển thị trường
hàng hóa tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh” (2004) do thạc sĩ Vũ Thị
Minh Nguyệt, Viện Nghiên cứu Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh là chủ
nhiệm;
- Luận án tiến sĩ luật học: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động MBHH qua
SGDHH ở Việt Nam” (2012) của Nguyễn Thị Yến, Trường Đại học Luật Hà
Nội.
- Luận văn thạc sĩ luật học: “Pháp luật hiện hành về SGDHH” (2012)
của Đinh Văn Liêm, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Bài viết “Quan niệm về thị trường hàng hóa giao sau và mua bán
hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa” của PGS.TS Nguyễn Viết Tý, Tạp chí
Luật học số 1/2010; bài viết: “Các chủ thể tham gia giao dịch trên SGDHH”
của Th.S Nguyễn Thị Yến, Tạp chí Luật học sos 7/2009; và một số bài viết
liên quan đến vấn đề này được đăng tải trên các website.
Từ việc xem xét tình hình nghiên cứu vấn đề liên quan đến nội dung
MBHH qua SGDHH trong nước thời gian qua, có thể thấy hiện nay chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống các chủ thể tham gia
quan hệ MBHH qua SGDHH mà mới chỉ để cập đến một vài chủ thể trong
quan hệ MBHH qua Sở hoặc tìm hiểu nội dung chủ thể như là một bộ phận
của SGDHH.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là giải quyết các vấn đề lý luận và
thực tiễn về chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch


3

hàng hóa, các quy định pháp luật về các chủ thể; qua đó tìm giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về chủ thể tham gia qua hệ MBHH qua SGDHH.
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, về chủ thể tham gia qua hệ MBHH qua Sở gia
dịch hàng hoá;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật quy định về chủ thể tham gia
quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận cơ bản về chủ thể tham gia quan hệ MBHH qua
SGDHH; pháp luật thực định về các chủ thể trong quan hệ như quy định về
SGDHH và các thành viên của Sở giao dịch, khách hàng tham gia giao dịch.
Các quy định pháp luật thực định này sẽ được phân tích và so sánh với pháp
luật một số nước trên thế giới cũng như đánh giá tình hình áp dụng trên thực
tiễn trong nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mac – Lenin, vận dụng tổng hợp các phương pháp luận duy vật lịch sử và duy
vật biện chứng.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp và so sánh
luật học được sử dụng nhằm phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam quy
định về các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa. Phương pháp thống kê, tổng kết thực tiễn được sử dụng để làm rõ
tình hình thực tiễn thi hành các quy định pháp luật. Phương pháp diễn giải,
quy nạp được sử dụng chủ yếu để đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật trong
vấn đề này.


4

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về MBHH qua SGDHH và các chủ thể tham gia
quan hệ MBHH qua SGDHH
Chương 2: Thực trạng pháp luật về các chủ thể tham gia quan hệ
MBHH qua Sở giao dịch ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về chủ thể tham gia quan hệ MBHH qua SGDHH.


5

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG
HÓA VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA QUAN HỆ MUA BÁN HÀNG HÓA
QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
1.1 Khái quát về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm
MBHH qua Sở giao dịch là một trong những hình thức phát triển của
nền kinh tế hướng đến một thị trường hàng hoá quy mô tập trung. Trên thế
giới hoạt động MBHH qua SGDHH hình thành từ rất sớm tại các nước tư bản.
Hoạt động này ra đời và phát triển từ hoạt động MBHH nông sản của các
nước có nền nông nghiệp phát triển nhằm khắc phục những hạn chế trong
phân phối, tiêu thụ hàng nông sản, xuất phát từ đặc tính của sản xuất nông
nghiệp là tính thời vụ, khó khăn trong kiểm soát về giá thành sản phẩm khi
đến vụ thu hoạch. Bên cạnh đó việc vận chuyển nông sản từ nơi sản xuất đến
nơi tiêu thụ mất nhiều thời gian và chi phí cũng tạo ra nhiều rủi ro cho người
sản xuất. Do đó để giảm thiểu rủi ro những người nông dân, các nhà sản xuất
đã thoả thuận với các thương nhân, những người tiêu thụ sản phẩm để bán
trước sản phẩm của mình. Họ thoả thuận về số lượng, phẩm cấp, giá cả của
sản phẩm, thời gian, địa điểm giao hàng và nhận tiền. Dần dần các giao dịch
mang tính tự phát đơn lẻ trở nên phổ biến trong thị trường hình thành một loại
hình giao dịch mới đó là giao dịch hàng hoá giao sau. MBHH giao sau có thể
là giao dịch có tổ chức hoặc giao dịch không tổ chức; có thể là giao dịch kỳ
hạn hoặc giao dịch quyền chọn. Ngày nay, tại các SGDHH lớn trên thế giới
các giao dịch không chỉ đơn thuần là MBHH thực mà đã trở thành công cụ tài
chính để bảo vệ các loại hàng hoá truyền thống và cũng là công cụ đầu tư tài
chính hiệu quả.
MBHH qua SGDHH ngày nay là một hình thức có tổ chức, quy mô và
tập trung của MBHH tương lai. Mọi giao dịch MBHH được thực hiện tập


6

trung tại SGDHH. Các giao dịch diễn ra không gắn liền với việc hiện hữu hay
di chuyển thực tế của hàng hoá mà chỉ mua bán quyền sở hữu hàng hoá.
MBHH qua SGDHH có thể được hiểu như là một phương thức MBHH
qua trung gian là SGDHH. Thông qua phương thức giao dịch này thì bên mua
và bên bán không trực tiếp gặp nhau mà do SGDHH tiến hành và tuân theo
các quy định, nguyên tắc giao dịch của SGDHH. Do đó SGDHH không chỉ là
chủ thể trung gian cung cấp dịch vụ môi giới cho bên bán và bên mua mà còn
có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động mua bán.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp. Nhiều mặt hàng nông sản có khối lượng sản xuất lớn đưa nước ta trở
thành nước xuất khẩu hàng đầu như gạo, cà phê, tiêu, cao su, chè,...Bên cạnh
vấn đề sản xuất thì vấn đề đầu ra cho sản phẩm, ổn định giá thành sản phẩm là
điều vô cùng quan trọng. Tuy nhiên hiện nay nước ta chưa làm tốt vấn đề ổn
định giá cả nông sản trong nước. Khắc phục tình trạng đó, Nhà nước không
chỉ ghi nhận quy định về SGDHH trong pháp luật, mà còn có chủ trương
thành lập và xây dựng nhiều chợ đầu mối, trung tâm giao dịch hay sàn giao
dịch hàng hoá nhằm ổn định thị trường cho hàng nông sản Việt Nam. Có thể
nói quy định về SGDHH là một trong những bước phát triển về lập pháp ở
Việt Nam, thể hiện rõ vai trò định hướng của pháp luật. Các nhà làm luật đã
ghi nhận và từng bước hoàn thiện các quy định tạo điều kiện thuận lợi để thực
thi hiệu quả trên thực tế khi mà hoạt động MBHH qua SGDHH ở nước ta còn
chưa phát triển.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Thương mại 2005, MBHH qua
SGDHH là hoạt động thương mại, theo đó các bên thoả thuận thực hiện việc
mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hoá nhất định qua SGDHH
với giá được thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao
hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai. Từ quy định trên cho
thấy luật đã ghi nhận hoạt động MBHH qua SGDHH là một bộ phận của hoạt
động MBHH tương lai.


7

1.1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất: MBHH qua SGDHH là hoạt động MBHH tương lai
MBHH tương lai là việc giao dịch, ký kết các hợp đồng về hàng hoá
mà việc giao hàng và nhận tiền được diễn ra vào thời gian ấn định trong tương
lai. Vào thời điểm giao kết hợp đồng, người bán hay người mua chưa phải
thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng MBHH. Việc chuyển giao quyền sở hữu
hàng hoá và thanh toán giá trị hàng hoá chỉ diễn ra khi hợp đồng đến hạn và
các bên thực sự giao nhận hàng. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ khi giao
kết hợp đồng đến thời điểm thực hiện hợp đồng được ấn định trước tức là
trước khi hợp đồng đến hạn các bên trong hợp đồng có thể chuyển giao hợp
đồng cho chủ thể khác thông qua việc mua bán qua lại hợp đồng. Đây được
coi là một hình thức đầu cơ trên cơ sở biến động giá cả hàng hoá và nó khiến
cho thị trường hàng hoá tương lai có tính chất của thị trường tài chính.
MBHH qua SGDHH gồm giao dịch kỳ hạn và giao dịch quyền chọn.
Giao dịch kỳ hạn là hoạt động MBHH thông qua việc ký kết hợp đồng giữa
người mua và người bán qua SGDHH mà việc giao hàng và thanh toán diễn ra
vào một thời điểm được ấn định trong tương lai. Giao dịch quyền chọn là hoạt
động giữa người bán và người mua thoả thuận về việc người mua mua quyền
mua hoặc quyền bán một loại hàng hoá nào đó với mức giá ấn định trước và
trả một khoản tiền đề mua quyền này; người mua quyền có quyền thực hiện
hay không thực hiện việc MBHH đó nếu thấy giá cả của hàng hoá đó bất lợi
cho mình trong một thời hạn nhất định.
Thứ hai: MBHH qua SGDHH là hoạt động MBHH qua trung gian
Bên bán và bên mua trong hoạt động MBHH qua SGDHH không trực
tiếp giao dịch với nhau. Thoả thuận MBHH của các bên phải được thực hiện
thông qua chủ thể thứ ba là SGDHH. Bên mua hay bên bán chỉ cần đưa ra đề
nghị bán hoặc đề nghị mua với SGDHH và thực hiện nghĩa vụ ký quỹ đảm
bảo cho đề nghị của mình với SGDHH mà không cần biết đối tác. SGDHH sẽ
tự động kết nối các lệnh mua và lệnh bán tương thích khi đó hợp đồng mua


8

bán được hình thành. Kể cả khi hợp đồng được hình thành, việc thực hiện hợp
đồng như chuyển hàng và chuyển tiền đều được các bên thực hiện với
SGDHH.
SGDHH đóng vai trò trung gian, kết nối quan hệ MBHH của các bên
MBHH, đồng thời đóng vai trò đảm bảo giao dịch cho các bên. SGDHH chi
phối nguyên tắc, trình tự, thủ tục của hoạt động MBHH. Sở giao dịch đặt ra
những điều kiện nhất định đối với khách hàng muốn tham gia giao dịch như
điều kiện tài chính, các nội dung trong hợp đồng, vấn đề thanh toán của khách
hàng khi chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Những quy định này chi tiết hoá
các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích cho các bên tham gia giao
dịch, lợi ích của SGDHH và các chủ thể khác có liên quan.
Là chủ thể trung gian kết nối giao dịch cũng như tổ chức thực hiện giao
dịch SGDHH sẽ chịu mọi trách nhiệm về các dịch vụ mà mình cung cấp.
SGDHH có trách nhiệm bảo đảm thực hiện giao dịch của một bên chủ thể đối
với bên chủ thể còn lại của hợp đồng. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp
các bên trong quan hệ hợp đồng không giải quyết trực tiếp với nhau mà thông
qua SGDHH tiến hành.
Thứ ba: Đối tượng hàng hoá được mua bán qua SGDHH phải đáp ứng
các tiêu chuẩn nhất định do pháp luật và SGDHH quy định.
Không phải tất cả hàng hoá trên thị trường đều được đưa vào giao dịch
tại SGDHH mà chỉ những loại hàng hóa thực thỏa mãn các điều kiện giao
dịch qua Sở mới được phép giao dịch. Hàng hoá tương lai mua bán qua
SGDHH trên thực tế thường là những loại hàng hoá có lượng cung cầu lớn và
thường xuyên có biến động về giá. Vì vậy hàng hoá được đưa vào tham gia
thị trường tương lai để tự bảo hiểm tức chuyển rủi ro về giá sang các nhà nắm
rủi ro chuyên nghiệp và cho phép có một cơ chế giá phục hồi. Hiện nay có thể
thống kê gần 100 loại hàng hoá được mua bán trên các SGDHH, tập trung vào
một số nhóm ngành hàng chính là hàng nông sản (ngũ cốc, chè, cà phê, tiêu),
kim loại, năng lượng (dầu mỏ, than đá, khí đốt),..


9

Theo quy định ở Việt Nam hiện nay hàng hoá giao dịch tại SGDHH
phải thuộc danh mục hàng hoá được phép giao dịch tại SGDHH do cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định. Đồng thời tại mỗi Sở giao dịch
đều có những quy định riêng về hàng hoá giao dịch của mình như điều kiện
về tính chất vật lý, hoá học, khối lượng giao dịch, giá cả tuân theo quy luật thị
trường,…Một lô hàng giao dịch đều phải qua giám định đạt những tiêu chuẩn
chung của Sở giao dịch gọi là định chuẩn chất lượng.[23]
Thứ tư: Giá cả hàng hoá do các bên mua bán thoả thuận là giá của hàng
hoá đó tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định
tại một thời điểm trong tương lai
Giá cả giao dịch được xác định theo nguyên tắc đấu giá công khai (đấu
giá mua và đấu giá bán). Tại sàn giao dịch yêu cầu nhiều người bán báo giá
để chọn mức giá bán thấp nhất và yêu cầu nhiều người mua cho giá để chọn
mức giá mua cao nhất. Nếu là đấu giá bán, chủ hàng đưa ra giá khởi điểm là
giá sàn, khách hàng mua sẽ chỉ được trả trên mức giá này. Nếu là đấu giá
mua, người muốn mua hàng đưa ra giá khởi điểm là giá trần, người có hàng
muốn bán sẽ chỉ được ra giá dưới mức giá này.[19, tr. 79]
Mức giá được quyết định sau mỗi phiên giao dịch được tính toán gần
giống với giá giao trong tương lai trên cơ sở có dự liệu rủi ro trong tương lai
với cả người mua và người bán.
Trong hợp đồng quyền chọn các bên cũng ấn định trước với nhau về
giá cả một loại hàng hoá sẽ được chuyển giao quyền sở hữu trong tương lai
nhưng giá thanh toán của hợp đồng không phải là giá trị lô hàng mà là giá của
quyền thực hiện việc mua hay bán hàng hoá đó trong tương lai.
Thứ năm: Hình thức MBHH qua SGDHH là hợp đồng
Hợp đồng MBHH là kết quả của quá trình giao dịch tại SGDHH sau
khi các bên tiến hành đặt lệnh và được khớp lệnh thông qua Sở giao dịch.
Hình thức của hợp đồng MBHH sẽ tương ứng với hình thức giao dịch mà các
bên lực chọn là hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn.


10

Hợp đồng kỳ hạn là thoả thuận theo đó bên bán cam kết giao hàng và
bên mua cam kết nhận hàng tại một thời điểm hay trong khoảng thời hạn ở
tương lai. Hợp đồng quyền chọn là thoả thuận theo đó bên mua quyền có
quyền được mua hoặc được bán một hàng hoá xác định với mức giá định
trước và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này. Bên mua quyền
có quyền chọn thực hiện hay không thực hiện việc mua hay bán hàng hoá đó.
Mặt khác MBHH qua SGDHH là hoạt động mua bán qua trung gian.
Trong quan hệ MBHH qua SGDHH còn phát sinh các mối quan hệ giữa
người mua và người bán với các bên trung gian. Do đó bên cạnh các hợp đồng
mua bán để tiến hành các giao dịch còn có các hợp đồng giữa các chủ thể trong
quan hệ MBHH qua SGDHH như hợp đồng môi giới hay hợp đồng uỷ thác.
1.1.2 Quy trình giao dịch mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
Tại SGDHH của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, quy trình
MBHH qua Sở giao dịch được thực hiện theo các bước:
Khách hàng (những người có nhu cầu mua, bán hàng hoá) uỷ thác cho
người môi giới của SGDHH đặt mua hoặc bán một lượng hàng hoá theo tiêu
chuẩn phù hợp với các quy định của SGDHH. Để tham gia vào giao dịch
khách hàng phải nộp một khoản tiền ký quỹ theo quy định với người môi giới;
Người môi giới sẽ chuyển lệnh của khách hàng về SGDHH, tại
SGDHH sẽ có các nhân viên nghiệp vụ nhận lệnh và tiến hành khớp lệnh mua
và lệnh bán theo nguyên tắc đấu giá công khai tại sàn giao dịch. Người môi
giới sẽ phải nộp phí cho Trung tâm thanh toán của Sở giao dịch cho các giao
dịch của mình. Sau khi hoàn tất việc mua bán, người môi giới gửi xác nhận
bằng văn bản về giao dịch cho khách hàng;
Trước khi đến hạn thanh lý hợp đồng, khách hàng có thể uỷ thác cho
người môi giới thanh lý hợp đồng bằng cách bán lại hợp đồng đã mua trước
đó hoặc mua lại hợp đồng đã bán. Nếu giá hàng hoá biến động theo hướng có
lợi như giá tăng lên so với giá ấn định trong giao dịch mua hoặc giá thực tế
giảm so với giá ấn định trong giao dịch bán, khách hàng sẽ nhận được khoản


11

tiền lợi nhuận từ Trung tâm thanh toán của SGDHH. Trong trường hợp giá cả
biến động theo hướng ngước lại, khách hàng gặp rủi ro, khoản tiền thua lỗ sẽ
được trừ trực tiếp vào tài khoản kỹ quỹ của khách hàng; khi tài khoản ký quỹ
không đủ để thực hiện giao dịch khách hàng phải nộp bổ sung tiền vào tài
khoản ký quỹ cho Trung tâm thanh toán của SGDHH;
Trong trường hợp hợp đồng đến hạn, khách hàng vẫn giữ các hợp đồng
của mình thì sẽ tiến hành thực hiện hợp đồng (giao hàng, nhận tiền) với
SGDHH.
Phương thức giao dịch tại SGDHH là khớp lệnh tập trung và công khai.
Mọi lệnh mua và lệnh bán của khách hàng sẽ được người môi giới chuyển đến
sàn giao dịch để khớp lệnh. Việc khớp lệnh sẽ được thực hiện theo các
nguyên tắc ưu tiên về giá, về thời gian và về khối lượng. Cùng một thời điểm
có nhiều lệnh mua, lệnh bán được chuyển lên Sở giao dịch nhưng chỉ một số
các lệnh đó được khớp tức hình thành hợp đồng MBHH qua SGDHH. Trừ các
lệnh đặc biệt có giá trị trong thời hạn nhất định thì các lệnh thông thường nếu
không được khớp sẽ hết hiệu lực khi kết thúc phiên giao dịch. Người bán và
người mua nếu muốn tiếp tục giao dịch sẽ phải đặt lệnh mới cho phiên giao
dịch tiếp theo.
1.1.3 Vai trò của hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH
Thứ nhất: Đối với các chủ thể giam gia
Một là: MBHH qua SGDHH giúp các nhà sản xuất, kinh doanh phòng
ngừa rủi ro.
MBHH qua SGDHH cho phép các nhà sản xuất, nhà chế biến, người
kinh doanh xuất nhập khẩu, người sở hữu hàng hoá... tự bảo hiểm, tức chuyển
rủi ro về giá sang các nhà đầu cơ và cho phép có một cơ chế để giá phục hồi
[31]. Việc thực hiện các hợp đồng tương lai với các mức giá được định sẵn,
các nhà kinh doanh không còn lo ngại về sự thay đổi giá cả trong tương lai,
qua đó có thể lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh ổn định trong một khoảng
thời gian nhất định. Bên cạnh hoạt động kinh doanh với hàng thực, các nhà


12

kinh doanh sử dụng các hợp đồng tương lai đối ứng với các hợp đồng hàng
thực để bảo hiểm. Chênh lệch lỗ lãi giữa hợp đồng trên thị trường hàng thực và
hợp đồng tương lai giúp họ ổn định hoạt động kinh doanh, cũng như giá cả hàng
hoá của mình trong thời gian dài.
Việc tham gia MBHH qua SGDHH khách hàng cũng được đảm bảo về
chất lượng hàng hoá, số lượng hàng hoá giao nhận cũng như việc vi phạm hợp
đồng. Bởi việc thực hiện hợp đồng đều được SGDHH hỗ trợ thực hiện và đảm
bảo. Những tranh chấp phát sinh giữa người mua và người bán được giải
quyết qua SGDHH với tư cách chủ thể trung gian.
Hai là: các nhà đầu tư tham gia vào hoạt động MBHH qua SGDHH
như một cách thức đề đầu tư
Các nhà đầu tư sử dụng các hợp đồng trên thị trường của SGDHH như
một công cụ đầu cơ kiếm lời nhờ đó mà thị trường mới hoạt động liên tục,
nhộn nhịp và hiệu quả. Nếu các nhà đầu tư dự đoán thành công xu hướng giá
diễn ra trong các giao dịch trên thị trường, nó sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho
họ. Nếu họ dự kiến giá sẽ tăng cao trong tương lai thì họ sẽ mua các hợp đồng
như hợp đồng kỳ hạn và họ sẽ bán ra nếu dự đoán ngược lại. Tuy nhiên, công
cụ đầu cơ này là một con dao hai lưỡi, các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với
các rủi ro thua lỗ nếu dự đoán không chính xác.
Ba là: việc MBHH qua SGDHH với giá cả dự kiến tương lai giúp cho
thị trường tự điều chỉnh giá
Giá cả hàng hoá được xác định thông qua hoạt động MBHH qua
SGDHH phản ánh một cách tương đối chính xác quan hệ cung cầu trên thị
trường. Giá cả được hình thành một cách công khai và được cập nhật hàng
ngày là cơ sở để các nhà kinh doanh tham khảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như đầu tư trên thị trường của mình. Các công cụ thông tin trên
thị trường tương lai góp phần ổn định giá cả của hàng hoá trên thị trường giao
ngay đồng thời trong trường hợp thị trường có nhiều diễn biến phức tạp thì
bằng những thông tin có được trên thị trường tương lai mà nhà sản xuất kinh


13

doanh có thể điều tiết sản xuất, tự cân bằng cung cầu. Ngoài ra, việc niêm yết
giá cả công khai trên thị trường giúp cho các nhà kinh doanh không lo việc
mua bán không đúng giá, ép giá.
Thứ hai: Đối với vai trò quản lý nhà nước
Giao dịch tập trung tại SGDHH giúp cho diễn biến giá cả trên thị
trường phản ánh được quan hệ cung cầu, dự kiến được giá cả trong tương lai
gần. Điều này giúp cho nhà nước nắm bắt được quan hệ cung cầu trên thị
trường và giá cả từ đó có hướng chỉ đạo quản lý kinh tế vĩ mô.
Những tiêu chuẩn hàng hoá, tiêu chuẩn kinh doanh được xác lập trên
SGDHH giúp Nhà nước tiêu chuẩn hoá và thống nhất chất lượng hàng hoá
phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời nâng cao quy mô sản xuất để
tiến tới một nền sản xuất công nghiệp, có định hướng.
Thứ ba: Đối với nền kinh tế
Hoạt động mua bán tại SGDHH diễn ra hiệu quả sẽ thúc đẩy cho quá
trình định hướng sản xuất. Những thông tin trên thị trường giúp các nhà sản
xuất kinh doanh có liên quan chủ động điều tiết hoạt động của mình để điều
chỉnh giá cả. Các nhà sản xuất có thể ổn định trong kế hoạch sản xuất, huy
động vốn, mở rộng diện tích sản xuất, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ
thuật nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Điều này rất có ý nghĩa với
người nông dân Việt Nam hiện nay.
Những thay đổi về giá trên thị trường giúp cân bằng sản xuất và tiêu
thụ, tránh được các khủng hoảng về thừa, thiếu hàng hoá.
MBHH qua SGDHH càng phát triển, càng tập trung thì giá cả hàng hoá
càng công bằng và phù hợp với điều kiện thực tế.
1.2 Khái quát về các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa qua
Sở giao dịch hàng hóa
Trong quan hệ MBHH qua SGDHH có các quan hệ về mua bán giữa
người bán và người mua; quan hệ môi giới giữa người bán hoặc người mua
với người môi giới và quan hệ uỷ thác MBHH giữa người bán hoặc người


14

mua với thành viên kinh doanh của SGDHH. Các quan hệ này có mỗi liên hệ
chặt chẽ và hỗ trợ nhau đảm bảo cho việc giao dịch thành công. Do đó một thể
nhân hay pháp nhân tham gia vào thị trường tại SGDHH có thể đóng nhiều vai
trò khác nhau.
Chủ thể tham gia vào quan hệ MBHH qua SGDHH có thể là thể nhân
hay pháp nhân tham gia vào một mối quan hệ hoặc tham gia vào tất cả các
mối quan hệ trên.
Chủ thể trong quan hệ MBHH qua SGDHH trước hết phải thoả mãn
các điều kiện về năng lực chủ thể đó là năng lực hành vi và năng lực pháp
luật. Ngoài ra với từng quan hệ riêng biệt, chủ thể tham gia phải thoả mãn các
điều kiện riêng biệt phù hợp với quan hệ đó.
Hiện nay có nhiều quan điểm về việc xác định các chủ thể tham gia vào
quan hệ MBHH qua SGDHH. Việc xác định chính xác các chủ thể tham gia
vào qua hệ MBHH qua Sở giao dịch không chỉ giúp đánh giá vai trò của các
chủ thể từ đó có những chính sách hợp lý điều tiết thị trường thông qua việc
điều chỉnh hoạt động của các chủ thể tham gia.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, các chủ thể tham gia
quan hệ MBHH qua SGDHH gồm Sở giao dịch hàng hóa, thành viên kinh
doanh, thành viên môi giới, khách hàng. Cụ thể:
1.2.1 Sở giao dịch hàng hóa
Trong quan hệ MBHH qua SGDHH có thể nói SGDHH đóng vai trò
trung tâm trong việc hình thành và tổ chức thực hiện giao dịch. Chính hoạt
động của SGDHH đã tạo ra khác biệt cho quan hệ MBHH thông thường với
MBHH qua SGDHH.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư định nghĩa: SGDHH là hình thức thị
trường đặc biệt, thực hiện việc mua bán quy mô lớn, theo mẫu và quy cách
hàng hoá. SGDHH có đặc điểm: ở đó không có hàng hoá bán ra, mà chỉ
MBHH theo mẫu và quy cách; đối tượng giao dịch không phải là những hàng
hoá khác nhau nhiều, mà thường là những hàng hoá cùng chất lượng, quy


15

cách. Việc giao dịch ở SGDHH được thực hiện chủ yếu theo giao dịch kì hạn,
sau khi thành giá, qua một thời gian nhất định mới giao hàng cho người mua.
Ở SGDHH, việc mua bán thường không gắn liền với việc di chuyển thực tế
của hàng hoá, mà chỉ là mua bán quyền sở hữu hàng hoá. Do đó, SGDHH mở
rộng và đẩy mạnh hoạt động của thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt
động đầu cơ của các nhà tư bản. Ở những SGDHH lớn trong các nước tư bản
chủ nghĩa, thường tập trung cung cầu của nhiều nước, thậm chí của cả thị
trường tư bản chủ nghĩa thế giới. Trong thời kì đế quốc chủ nghĩa, trên thực
tế, SGDHH hoạt động dưới sự kiểm soát của các tổ chức độc quyền.
[27,tr.803]
Như vậy SGDHH là một thị trường tập trung tại đó người ta bán hàng
hoá với giá cả được thoả thuận tại thời điểm hiện tại nhưng giao hàng và
thanh toán trong tương lai. SGDHH là một thị trường đặc biệt ở chỗ được tổ
chức cố định hoặc thông qua hệ thống công nghệ thông tin để tập trung các
chủ thể là cá nhân, tổ chức có nhu cầu về giao dịch hàng hoá. Tại đó những
người bán cạnh tranh với nhau, những người mua cạnh tranh với nhau và cạnh
tranh giữa những người bán và người mua để đi đến một giá cả hợp lý cho
hàng hoá trong tương lai. Trên thị trường đặc biệt này ít khi có sự xuất hiện
và luân chuyển hàng hoá mà chủ yếu là sự luân chuyển về tiền tệ và quyền sở
hữu hàng hoá.
Mặt khác SGDHH cũng được hiểu là một chủ thể trung gian trong quan
hệ MBHH qua SGDHH. SGDHH không chỉ đóng vai trò kết nối giữa bên bán
và bên mua mà còn cung cấp cơ sở vật chất tiến hành các giao dịch và thực
hiện giao dịch.
Hiện nay Luật thương mại 2005 không có định nghĩa cụ thể về
SGDHH. Nghị định số 158/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật
thương mại về hoạt động MBHH qua SGDHH mới chỉ có quy định về địa vị
pháp lý của SGDHH (Điều 6) mà cũng chưa có định nghĩa thể hiện bản chất,
đặc điểm của SGDHH. Đây là một trong những hạn chế của pháp luật cần


16

được bổ sung, hoàn thiện. Tuy nhiên từ thực tế ghi nhận từ hoạt động của
SGDHH Việt Nam VNX có thể thấy tổ chức hoạt động của SGDHH được
thành lập ở Việt Nam mang đầy đủ đặc điểm, chức năng của các Sở giao dịch
trên thế giới.
Khác với Việt Nam, một số nước trên thế giới có định nghĩa cụ thể về
SGDHH như: Luật MBHH tương lai Singapore 2001 quy định: “Sàn giao
dịch hàng hoá tương lai là một tổ chức cung cấp hoặc sẽ cung cấp các
phương tiện kỹ thuật cần thiết cho hoạt động MBHH tương lai và duy trí hoặc
sẽ duy trì một trung tâm MBHH tương lai được hội đồng phê chuẩn” hay Luật
hàng hoá tương lai hiện đại Mỹ 2000 quy định: “Sở giao dịch có tổ chức
nghĩa là một cơ sở giao dịch mà cho phép việc giao dịch từ phía một người
hoặc đại diện cho một người mà không có đủ năng lực tham gia hợp đồng;
hoặc những người không trên cơ sở từ người uỷ thác; hoặc ban hành (trực
tiếp hoặc thông qua một tổ chức phi chính phủ khác) các quy tắc mà quản lý
việc tiến hành giao dịch của các thành viên chứ không phải những nguyên tắc
việc trình lệnh hoặc thi hành giao dịch trên trên cơ sở giao dịch; và bao gồm
các chế tài nhưng không phải là ngăn cản các thành viên tham gia vào việc
giao dịch”. Theo đó SGDHH được ghi nhận là thị trường hàng hóa đặc biệt, là
nơi kết nối các giao dịch MBHH tương lai một cách công khai, tập trung. Sở
giao dịch hàng hóa có thể được tổ chức dưới hình thức là một công ty cung
cấp các dịch vụ giao dịch hàng hóa tương lai để thu lợi nhuận hoặc cũng có thể
là tổ chức phi lợi nhuận do Nhà nước hay các tổ chức nghiệp đoàn thành lập.
1.2.2 Thành viên kinh doanh
Theo quy định của Nghị định 158/2006/NĐ-CP, thành viên kinh doanh
của SGDHH là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, phải
thoả mãn các quy định của pháp luật và có quyền nhận uỷ thác MBHH qua
SGDHH cho khách hàng cũng như hoạt động tự doanh.


17

Như vậy thành viên kinh doanh của SGDHH được xác định là pháp
nhân hoạt động tại SGDHH vừa có thể nhận uỷ thác của khách hàng vừa có
thể trực tiếp tham gia giao dịch tại SGDHH.
Khi hoạt động tại SGDHH, thành viên kinh doanh vừa có thể hoạt động
trung gian thực hiện giao dịch cho khách hàng vừa có thể hoạt động tự doanh
tức thực hiện giao dịch mua bán cho chính mình.
Khái niệm thành viên kinh doanh theo pháp luật Việt Nam không tương
đồng với khái niệm thành viên SGDHH của các nước trên thế giới. Xét về nội
hàm của khái niệm thì thành viên kinh doanh theo pháp luật Việt Nam tương
ứng với nhà môi giới trên Sở giao dịch của các SGDHH trên thế giới. Nhà
môi giới (broker) trên các SGDHH thế giới có thể là nhà môi giới của khách
hàng hoặc nhà môi giới trên Sở. Nhà môi giới của khách hàng ghi nhận các
lệnh mua hoặc lệnh bán của khách hàng và chuyển lệnh đến thành viên môi
giới của SGDHH để hưởng thù lao dịch vụ từ phía khách hàng. Nhà môi giới
trên Sở giao dịch là tổ chức hoạt động môi giới trên SGDHH tiến hành nhận
lệnh mua, lệnh bán từ khách hàng hoặc người môi giới của khách hàng để
khớp lệnh. Họ phải trả phí để có vị trí tại sàn giao dịch. Nhà môi giới trên
SGDHH ngoài hoạt động nhận lệnh giao dịch còn có thể hoạt động tự doanh
tức tham gia giao dịch với vai trò khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận.[33]
1.2.3 Thành viên môi giới
Thành viên môi giới là một trong hai loại thành viên của SGDHH và tại
Sở giao dịch chỉ các thành viên môi giới mới được thực hiện các hoạt động
môi giới MBHH qua SGDHH. Thành viên môi giới là chủ thể hoạt động
chuyên nghiệp làm trung gian cho các bên chủ thể trong quan hệ MBHH qua
SGDHH giao kết hợp đồng.
Thành viên môi giới phải là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
theo Luật Doanh nghiệp 2005 và phải thoả mãn các điều kiện theo quy định
của pháp luật và điều lệ hoạt động của SGDHH.


18

Về mặt thuật ngữ thành viên môi giới của Việt Nam cũng giống như
người môi giới trên SGDHH các nước. Tuy nhiên về chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn của thành viên môi giới Việt Nam hạn chế hơn nhiều so với người
môi giới theo quy định của quốc tế. Ở các nước trên thế giới, người môi giới
(broker) là bộ phận nòng cốt của thị trường [21]. Có thể ví họ như những con
thoi của khung cửi kết nối hai bên khách hàng với nhau và như vậy trên thị
trường MBHH qua SGDHH những người môi giới phải hoạt động nhiều nhất,
thường xuyên và liên tục. Những người môi giới không chỉ làm trung gian
thực hiện các giao dịch theo yêu cầu mà còn có thể là người tư vấn có trách
nhiệm bảo lãnh kết quả tư vấn của mình đối với khách hàng phụ thuộc vào
giới hạn phạm vi dịch vụ mà họ cung cấp. Đặc biệt đối với những người môi
giới của SGDHH họ còn có trách nhiệm kiểm tra năng lực thanh toán của
những người tham gia giao dịch. Người môi giới có thể là thể nhân hoặc pháp
nhân hoạt động chuyên nghiệp và phải chịu trách nhiệm vật chất về hoạt động
của mình đối với khách hàng.[20]
Với khái niệm được xác định như ở Việt Nam hiện nay, thành viên môi
giới chỉ có vai trò kết nối khách hàng với nhau hoặc kết nối khách hàng với
thành viên kinh doanh của SGDHH [33]. Việc xác định những người môi giới
hoạt động trên SGDHH như hiện nay không phát huy được hết vai trò của
những người môi giới.
1.2.4 Khách hàng
Khách hàng là những người có nhu cầu mua, bán hàng hoá qua
SGDHH nhưng không trực tiếp giao dịch mà phải thông qua người môi giới
hoặc thành viên kinh doanh của Sở giao dịch để thực hiện hoạt động mua bán
của mình.
Theo cách hiểu hiện nay, khách hàng trong quy định của pháp luật Việt
Nam có thể là người bảo hộ về giá hoặc người đầu cơ theo quy định của các
nước trên thế giới. Trên thế giới người bảo hiểm về giá là những người đến
với SGDHH để giao kết các hợp đồng tương lai nhằm ổn định mức giá mà họ


19

muốn mua hay bán hàng hóa. Trong khi đó, những nhà đầu cơ tham gia thị
trường không nhằm mục đích kinh doanh hay hỗ trợ hoạt động kinh doanh
hàng thực mà nhằm tìm kiếm lợi nhuận khi tiến hành mua bán các hợp đồng
tương lai trước khi đến hạn. [33]
Ở đây khách hàng tìm đến với thị trường hàng hoá tại SGDHH cũng
nhằm mục đích bảo hiểm hay tìm kiếm lợi nhuận trước những rủi ro về biến
động giá cả, sự thay đổi về tỷ giá hối đoái, sự thay đổi về lãi xuất. Họ có thể
là những người nông dân, những thương lái, những nhà sản xuất, những người
kinh doanh xuất nhập khẩu cần ổn định giá hàng hoá đầu ra hoặc đầu vào để
tránh những thiệt hại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Hay đơn
giản họ là những người tham gia thị trường để tìm kiếm lợi nhuận mặc dù trên
thực tế họ không có nhu cầu hay bị ảnh hưởng bởi hàng hoá thực.
Việt Nam không phân loại đối tượng khách hàng tham gia vào qua hệ
MBHH vào SGDHH thành nhóm đối tượng tự bảo hiểm và đầu cơ như xu
hướng thế giới. Điều này tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào
thị trường từ đó khuyến khích nhiều thành phần tham gia. Tuy nhiên việc
phân biệt nhóm đối tượng tham gia mua bán qua Sở giao dịch cũng không
phải là không có ý nghĩa. Những người tự bảo hiểm tham gia nhằm đảm bảo
an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình cũng như giá cả hàng hoá. Một
phần trong số họ hướng tới mục đích giao nhận hàng hoá. Với mục đích bảo
hộ như vậy, nhóm người này cần được sự ưu đãi của Nhà nước giúp cho hoạt
động của họ được thực hiện thuận tiện, hiệu quả.
Về phía nhà đầu cơ, họ là thành phần không thể thiếu của thị trường tuy
nhiên cũng cần có những hạn chế nhất định trong hoạt động đầu cơ để tránh
tình trạng lũng đoạn có thể gây sụp đổ thị trường. Mặt khác phân biệt nhóm
đối tượng khách hàng tham gia thị trường còn tạo điều kiện thi hành hợp đồng
được thuận tiện. Nhà đầu cơ tham gia vào quan hệ MBHH qua Sở giao dịch
nhưng không hướng đến mục tiêu giao nhận hàng hoá thực nên Sở giao dịch
quy định cho họ một thời hạn nhất định để rút khỏi vị thế trong hợp đồng. Đó


20

là ngày mà tất cả các bên trong hợp đồng phải gửi thông báo về việc thi hành
hợp đồng của họ. Đến gần ngày đó mà nhà đầu cơ không thanh lý hợp đồng
thì trung tâm thanh toán của Sở giao dịch sẽ tự động thanh lý hợp đồng đó
bằng nghiệp vụ thanh toán bù trừ. Sự can thiệp này của Sở giao dịch đảm bảo
trật tự chung cho cả thị trường, bảo vệ các chủ thể cùng tham gia trong giao
dịch, hạn chế tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hướng tới
một thị trường ổn định. Ngược lại, những người tự bảo vệ khi tham gia giao
dịch sẽ có cam kết thực hiện hợp đồng. Khi đến hạn xác nhận thi hành hợp
đồng hoặc muộn hơn (có sự ưu tiên so với nhà đầu cơ), nhà bảo hiểm cũng
phải thông báo cho Sở giao dịch về việc thực hiện nghĩa vụ của mình, nếu
không họ sẽ bị cưỡng chế thanh lý hợp đồng.
1.3 Khái quát pháp luật về các chủ thể tham gia quan hệ mua bán
hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
Pháp luật về các chủ thể tham gia quan hệ MBHH qua SGDHH chỉ là
một chế định pháp luật nằm trong nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động
MBHH qua SGDHH một trong những nhóm hoạt động thương mại do pháp
luật thương mại điều chỉnh. Tuy nhiên nội dung pháp luật về các chủ thể tham
gia quan hệ MBHH qua SGDHH không chỉ chịu sự chi phối của pháp luật
thương mại mà còn chịu sự chi phối của pháp luật dân sự. Bởi pháp luật
thương mại không quy định lại những vấn đề pháp lý liên quan đến chủ thể
trong các giao dịch như năng lực chủ thể, những điều cấm,… đã được pháp
luật dân sự quy định.
Các chủ thể MBHH qua SGDHH được pháp luật quy định gồm:
SGDHH và các bộ phận hỗ trợ giao dịch (trung tâm thanh toán, trung tâm
giao nhận hàng), các thành viên của SGDHH (thành viên môi giới và thành
viên kinh doanh), khách hàng (người mua, người bán).
Tuy chỉ là một nội dung trong chế định pháp luật về MBHH qua
SGDHH, nhưng quy định về các chủ thể trong quan hệ MBHH đóng vai trò
quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của các chủ thể và cách thức vận


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×