Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện pháp luật việt nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần góc nhìn từ kinh nghiệm của nhật bản

y
o

c u -tr a c k

.c

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐÀO THÚY ANH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC
QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN – GÓC NHÌN
TỪ KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07


LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ DUNG

HÀ NỘI - 2014

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w


w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo
hướng dẫn – Tiến sỹ Nguyễn Thị Dung, người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo
cho em từ bước đầu chọn đề tài cho tới khi hoàn thành luận văn này.
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo trong
khoa Pháp luật Kinh tế và Tổ bộ môn Luật Thương mại đã nhiệt tình giảng
dạy, trang bị cho em một nền tảng kiến thức tốt trong suốt những năm học
qua.
Cuối cùng là lời cảm ơn của em gửi tới gia đình và bạn bè, những
người đã luôn động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành luận
văn này.
Do kiến thức của bản thân còn chưa thực sự toàn diện nên đôi chỗ
trong luận văn còn thiếu sót. Vì vậy, em mong nhận được những lời đóng góp
ý kiến từ các thầy, cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LDN

: Luật Doanh nghiệp

LCT

: Luật Công ty

LTM

: Luật Thương mại

CTCP

: Công ty cổ phần

CTTNHH

: Công ty trách nhiệm hữu hạn

ĐHĐCĐ

: Đại hội đồng cổ đông

GĐ/TGĐ

: Giám đốc/ Tổng Giám đốc

HĐQT

: Hội đồng quản trị

HĐGS

: Hội đồng giám sát

BGĐ

: Ban Giám đốc

BKS

: Ban kiểm soát

CĐPT

: Cổ đông phổ thông

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
o

c u -tr a c k

.c

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ TỔ
CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN .................................................... 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm về công ty cổ phần................................................ 6
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần ..................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần ................................................................ 9
1.1.3. Khái niệm về tổ chức quản lý công ty cổ phần ..................................... 14
1.2. Các mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Nhật
Bản và một số quốc gia trên thế giới ........................................................... 18
1.3. Nội dung của pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần.............. 22
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỪ KINH NGHIỆM CỦA
NHẬT BẢN .................................................................................................... 24
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý
CTCP .............................................................................................................. 24
2.1.1. Quy định của pháp luật về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý CTCP ....... 24
2.1.2. Quy định của pháp luật về thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ
quan trong bộ máy tổ chức quản lý CTCP ...................................................... 27
2.1.3. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP............. 47
2.1.4. Quy định của pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong CTCP ...... 49
2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý
công ty cổ phần từ kinh nghiệm của Nhật Bản .......................................... 51
2.2.1. Một số thành tựu hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ
phần của Nhật Bản và gợi ý yêu cầu đặt ra đối với tổ chức quản lý công ty cổ
phần ................................................................................................................. 51

.d o

m

o

w

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


y
.c

2.2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý
công ty cổ phần từ tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản ............................. 58
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 70

.d o

m

w

o

o

c u -tr a c k

w

w

.d o

C

lic

k

to

bu

y
bu
to
k
lic
C

w

w

w

N

O
W

!

h a n g e Vi
e

N

PD

!

XC

er

O
W

F-

w

m

h a n g e Vi
e

w

PD

XC

er

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
w

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2005 ra đời dựa trên sự kế thừa và phát
triển của LDN năm 1999, đã đánh dấu một sự thay đổi lớn trong pháp luật về
công ty ở Việt Nam, đồng thời phản ánh được mục tiêu, tư tưởng của LDN
năm 2005 là hình thành một khung pháp lý chung, bình đẳng áp dụng thống
nhất cho tất cả các loại hình công ty, như công ty trách nhiệm hữu hạn
(CTTNHH), công ty cổ phần (CTCP) và công ty hợp danh. Trong đó, so với
các loại hình doanh nghiệp khác, loại hình CTCP đã nhanh chóng đáp ứng
được nhu cầu huy động vốn để mở rộng quy mô kinh doanh. Đặc biệt, đối với
loại hình CTCP, vấn đề tổ chức quản lí công ty có ý nghĩa quan trọng trong
việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa hội đồng quản trị (HĐQT), ban
giám đốc (BGĐ), các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh
nghiệp. Tổ chức quản lý nội bộ công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng
cường khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp
phần tích cực vào việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và
phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Do vậy, vấn đề tổ chức
quản lý CTCP được xem là mối quan tâm có tính chất quốc tế hiện nay. Tại
Việt Nam, dù được ghi nhận từ khá sớm và sau nhiều lần đổi mới thế nhưng
hoạt động tổ chức quản lý công ty ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều điểm hạn
chế và yếu kém. Khái niệm “tổ chức quản lý công ty” vẫn còn rất mới mẻ.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, Việt Nam đã, đang và
luôn sẵn sàng học hỏi kinh nghiệm quý báu của các quốc gia tiến tiến, phát
triển, đặc biệt trong kỹ thuật lập pháp. Trong số các quốc gia đó, không thể
không kể đến Nhật Bản, một quốc gia tuy hay xảy ra nhiều thiên tai nhưng có
một nền kinh tế phát triển, được mệnh danh là “cường quốc kinh tế” và luôn
nằm trong top các quốc gia phát triển nhất thế giới. Không chỉ dừng lại ở lĩnh

.d o

m

1

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

vực kinh tế, trong lĩnh vực lập pháp, Nhật Bản cũng được biết đến là một
quốc gia có trình độ lập pháp phát triển ở mức độ cao. Hiện nay, khi mối quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam – Nhật Bản ngày càng được tăng cường, mở rộng,
thì pháp luật Việt Nam cũng đang có những tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu
trong công cuộc xây dựng pháp luật nói chung và hoàn thiện luật doanh
nghiệp, trong đó có vấn đề CTCP nói riêng từ đất nước mặt trời mọc. Biểu
hiện của sự hợp tác trong lĩnh vực cải cách tư pháp và pháp luật, đó là sự ra
đời của Dự án cải cách hệ thống tư pháp và pháp luật (JICA) ở Việt Nam do
Nhật Bản đầu tư và hỗ trợ chuyên gia.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ:
“Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức quản lý công ty cổ phần – Góc
nhìn từ kinh nghiệm của Nhật Bản” với mục đích làm rõ hơn các quy định của
pháp luật Việt Nam về tổ chức và quản lý CTCP, đồng thời đưa ra một số
kinh nghiệm của pháp luật Nhật Bản về CTCP, qua đó mong muốn góp sức
mình vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về CTCP nói chung trong
tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về CTCP nói chung và tổ chức quản lý CTCP nói riêng là vấn
đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu sau:
- Luận văn sĩ luật học, Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần Những
vấn đề lý luận và thực tiễn (2004) của Cao Thị Kim Trinh. Luận văn tập trung
làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và quản lý nội bộ CTCP.
Đồng thời, luận văn đã chỉ ra và phân tích một số điểm bất cập của pháp luật
Việt Nam về tổ chức quản lý nội bộ CTCP và đề xuất các giải pháp để hoàn
thiện.

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

2

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

- Khóa luận tốt nghiệp, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức
quản lý nội bộ công ty cổ phần (2009) của Hoàng Ánh Nguyệt; Khóa luận tốt
nghiệp, Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm
2005 (2012) của Nguyễn Thị Hồng;…
- Bài viết: “Vấn đề tổ chức quản lý công ty cổ phần theo Luật doanh
nghiệp” của TS. Đồng Ngọc Ba, Tạp chí Luật học số 02/2001; “So sánh cấu
trúc quản trị công ty điển hình trên thế giới” của TS. Phạm Văn Tuyết, Tạp
chí Khoa học pháp lý số 6/2006; “Một số so sánh về công ty cổ phần theo
Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam” của Nguyễn Thị Lan
Hương, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 25/2009…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích làm rõ một
số khía cạnh pháp lý trong hoạt động tổ chức và quản lý CTCP, chưa đi sâu
nghiên cứu toàn diện những quy định pháp luật, những hạn chế, bất cập trên
cơ sở so sánh và tiếp thu kinh nghiệm từ pháp luật Nhật Bản về vấn đề tổ
chức và quản lý CTCP.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung pháp lý cơ bản về tổ
chức và quản lý CTCP theo LDN 2005, cụ thể như bản chất pháp lý của
CTCP, quy định của pháp luật về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý CTCP, quy
định của pháp luật về thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy tổ chức quản lý CTCP (ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ/TGĐ, BKS), quy
định của pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý CTCP và quy định của pháp
luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong CTCP. Ngoài ra, luận văn còn tìm
hiểu một số thành tựu hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý CTCP của Nhật
Bản, từ đó rút ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề
này.

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

3

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn có sự kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp; đặc biệt,
luận văn rất chú trọng đến phương pháp so sánh pháp luật để giải quyết nội
dung của đề tài.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện, có
hệ thống các vấn đề lý luận về tổ chức và quản lý CTCP, từ đó hoàn thiện các
quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của pháp
luật Nhật Bản.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Với mục đích được trình bày ở trên,
luận văn đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát một số vấn đề lý luận về CTCP và tổ chức quản lý CTCP.
Trong đó, chỉ ra được khái niệm, đặc điểm của CTCP và tổ chức quản lý
CTCP, khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về tổ chức quản lý CTCP.
- Trình bày khái quát một số mô hình tổ chức quản lý CTCP theo pháp
luật Nhật Bản và một số quốc gia trên thế giới.
- Phân tích, bình luận thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về tổ
chức quản lý CTCP gồm:
+ Quy định về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý CTCP;
+ Quy định về thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong
bộ máy tổ chức quản lý CTCP.
+ Quy định về nghĩa vụ của người quản lý CTCP;
+ Quy định về kiểm soát giao dịch tư lợi trong CTCP.
- Phân tích, đánh giá một số thành tựu hoàn thiện pháp luật về tổ chức
quản lý CTCP của Nhật Bản và đề ra một số gợi ý yêu cầu đặt ra đối với việc
tổ chức quản lý CTCP.

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

4

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức
quản lý CTCP từ việc tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm hai phần sau đây:
Chƣơng 1: Khái quát chung về công ty cổ phần và tổ chức quản lý
công ty cổ phần.
Chƣơng 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về tổ chức
quản lý công ty cổ phần và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật từ kinh
nghiệm của Nhật Bản.

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

5

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ TỔ
CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm, đặc điểm về công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm công ty cổ phần
Vào thế kỷ XVIII, XIX, cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước châu
Âu và Bắc Mỹ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà
tư bản ngày một lớn, mô hình sản xuất kinh doanh theo đó được mở rộng,
mức độ cạnh tranh và độc quyền giữa các nhà tư bản ngày một gắt gao buộc
họ phải đi đến thỏa hiệp với nhau nhằm thu được tối đa lợi nhuận cũng như
tăng cường sự bành trướng và thế lực kinh tế của mình. Chính yêu cầu này đã
làm xuất hiện loại hình CTCP bởi nó thỏa mãn được những mong muốn mà
các nhà tư bản đặt ra, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư
bản. Qua các CTCP, sự tập trung đã thực hiện được trong nháy mắt. Công ty
Đông Ấn (the East India Company hay East India Trading Company, English
East India Company, sau đó là British East India Company) được coi là một
trong những CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới, được thành lập theo một
sắc lệnh ngày 31/12/1960 của Nữ hoàng Anh Elizabeth I với tên gọi Governor
and Company of Merchants of London trading into the East Indies bởi một
nhóm 218 người, được cấp phép độc quyền kinh doanh, [4], [26]. Như vậy,
khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập
pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành
trong hoạt động kinh doanh, do nhu cầu của các nhà kinh doanh và sau đó
được pháp luật thừa nhận và hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Trải qua
quá trình phát triển lâu dài, ngày nay CTCP trở thành loại hình kinh doanh có
mặt ở hầu hết khắp các quốc gia trên thế giới và hoạt động trong rất nhiều lĩnh
vực, với ưu thế về chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, khả năng huy động vốn
rộng rãi trong công chúng để đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau, số lượng

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

6

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

thành viên lớn và hầu hết không hạn chế số lượng tối đa, CTCP đã phát triển
từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến
đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia…
Khác với khái niệm về công ty hợp danh, khái niệm công ty nói chung
và CTCP nói riêng được các quốc gia khác nhau trên thế giới có những quan
niệm, cách hiểu khá tương đồng. Cụ thể:
Luật Thương mại (LTM) Pháp nhìn nhận công ty với một khái niệm
khá cụ thể, đó là: “Công ty là một hợp đồng, theo đó hai hay nhiều người thỏa
thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của những người đó vào một
hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó. Các thành
viên trong công ty cùng nhau chịu lỗ”, [14], theo LTM Pháp, dựa vào trách
nhiệm của các thành viên thì có các loại hình công ty như công ty hợp danh,
CTCP, công ty hợp vốn và CTTNHH. Trong đó, CTCP hay còn gọi là công ty
vô danh (SA) được ra đời khá sớm, ở đó phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn pháp
định tối thiểu là 25.000 FF (đối với các công ty không phát hành chứng
khoán) và 1.500.000 FF (đối với các công ty phát hành chứng khoán); mệnh
giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100 FF; các cổ đông có quyền tự do chuyển
nhượng cổ phần; nếu đủ điều kiện công ty có thể phát hành chứng khoán để
huy động vốn, [26]
Trong khi đó, LTM Đức cho rằng: “Công ty là sự liên kết của hai hay
nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng nhiều sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành
các hoạt động để nhằm một mục tiêu nào đó”, [4]. Theo LTM Đức, có hai
nhóm công ty là công ty đối nhân và công ty đối vốn. Trong đó công ty đối
nhân gồm hai loại hình cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn
giản; công ty đối vốn gồm hai loại hình là CTTNHH và CTCP. Theo đó,
CTCP là mô hình công ty có tư cách pháp nhân sau khi tiến hành đăng ký
kinh doanh; vốn điều lệ khi thành lập CTCP tối thiểu là 50.000 EUR và được

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

7

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

chia thành các cổ phần có mệnh giá thấp nhất là 1 EUR; cổ đông của CTCP
có thể là cá nhân hoặc tổ chức; các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các
khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà mình sở hữu; cổ phần
của công ty được tự do chuyển nhượng và CTCP được phát hành các loại cổ
phần khác nhau để huy động, [19].
Điều 1041 Luật công ty Anh 2006 định nghĩa: “CTCP có nghĩa là một
công ty có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố
định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố
định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm
giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khá; được thành lập trên
nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không
có những người khác”, [26].
Đối với pháp luật Nhật Bản, Luật công ty (LCT) của Nhật Bản (会社
法) được thông qua năm Bình Thành thứ 17 (tức năm 2005). Theo quy định
của Khoản 1 Điều 2 Luật này, có bốn loại hình công ty cơ bản là công ty cổ
phần (Kabushiki kaisha – 株式会社), công ty hợp danh (Gomei gaisha – 合名
会社), công ty hợp vốn (hay hợp tư) (Goshi gaisha - 合資会社) và công ty
hợp đồng (Godo gaisha - 合同会社). Trong đó, công ty hợp danh, công ty
hợp vốn và công ty hợp đồng được gọi chung là các công ty thị phần, qua đó
có sự phân biệt rõ rệt với CTCP. CTCP là mô hình công ty mà trong đó
những cổ đông là những người góp vốn, sẽ tiến hành việc kinh doanh và phân
chia lợi nhuận theo quyền hạn và nghĩa vụ của mình dựa trên cổ phần mình
đóng góp , [27].
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc mô hình CTCP ở một số quốc gia trên
thế giới, pháp luật Việt Nam, cụ thể là LDN 2005 đã đưa ra khái niệm về
CTCP như sau: “CTCP là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

8

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá
nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có
quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. Công ty
cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để
huy động vốn” (Điều 77). Từ định nghĩa trên có thể thấy, LDN 2005 đã không
đưa ra một khái niệm mang tính chất khái quát mà chỉ liệt kê những dấu hiệu
pháp lý để nhận diện CTCP, qua đó góp phần xác định tư cách pháp lý tồn tại
của CTCP theo pháp luật Việt Nam, đồng thời giúp phân biệt loại hình CTCP
với các loại hình doanh nghiệp khác. Dưới góc độ so sánh có thể thấy rằng,
khái niệm về CTCP trong LDN 2005 đã có sự thay đổi lớn, phù hợp hơn so
với quy định tại Điều 30 của LCT năm 1990 và đã kế thừa một cách khá hoàn
thiện so với quy định tại Điều 51 của LDN năm 1999.
Như vậy, về bản chất của CTCP, pháp luật Việt Nam và pháp luật của
một số nước trên thế giới có cách hiểu khá tương đồng khi quan niệm đây là
mô hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn, với đặc điểm quan trọng là sự
tách bạch về tài sản giữa tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông, trong
đó các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi
phần vốn góp vào công ty; vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ
phần; trong quá trình hoạt động, CTCP được phát hành các loại chứng khoán
ra thị trường để huy động vốn.
1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
Từ khái niệm về CTCP được quy định tại Điều 77 LDN 2005, có thể
rút ra một số đặc điểm về CTCP theo pháp luật Việt Nam, như sau:

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

9

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
w

Một là, về vốn điều lệ của CTCP:
Vốn điều lệ của CTCP là tập hợp các phần vốn do các cổ đông góp và
được ghi vào Điều lệ công ty. Vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ
phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Các cổ đông góp vốn vào công ty
bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua ít hoặc nhiều cổ phần, và
pháp luật không có quy định hạn chế số lượng tối đa cổ phần mà các cổ đông
được mua. Theo đó các cổ đông có thể tự thỏa thuận với nhau và ghi vào Điều
lệ công ty. Thiết nghĩ, điều này góp phần hạn chế khả năng tập trung quyền
lực và thâu tóm công ty trong tay một hoặc một số cổ đông lớn.
Cổ phần của công ty được thể hiện dưới hình thức chứng khoán đó là
cổ phiếu. Cổ phiếu là chứng chỉ do CTCP phát hành hoặc bút toán ghi sổ
chứng nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.
Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần
phổ thông được quyền cháo bán của công ty. Quy định này nhằm gắn bó lợi
ích của các cổ đông sáng lập với lợi ích của công ty, qua đó đề cao trách
nhiệm của các cổ đông sáng lập đối với hoạt động kinh doanh của công ty.
Hai là, về tư cách pháp lý của CTCP:
Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định một tổ chức được công
nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: “Được thành lập hợp
pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức
khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Trong khi đó, CTCP là một tổ chức
kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, tiến hành các hoạt động kinh
doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và có tài sản độc lập, chịu trách
nhiệm bằng tài sản đó. Như vậy, CTCP thỏa mãn đầy đủ của một pháp nhân,
do đó theo quy định tại Khoản 2 Điều 77 LDN 2005 thì CTCP có tư cách

.d o

m

10

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trước
đây gọi là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh).
Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của công ty bằng tài sản của mình. Với tư cách là một pháp nhân, thông qua
đại diện của mình, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự
trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án.
Ba là, về cổ đông của CTCP:
Là một loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn, vốn của CTCP được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, và người sở hữu cổ phần gọi
là cổ đông của công ty. Với tính chất là công ty đối vốn nên các thành viên
của công ty thường chỉ quan tâm tới vấn đề năng lực tài chính mà không quan
tâm nhiều đến vấn đề nhân thân như các loại hình doanh nghiệp khác. Khi
tham gia thành lập công ty hoặc kết nạp cổ đông mới, thông thường các cổ
đông chỉ quan tâm đối tượng có đủ khả năng và tài chính để tham gia vào
công ty và trở thành cổ đông của công ty hay không.
LDN 2005 không giới hạn số lượng cổ đông tối đa của CTCP mà chỉ
quy định số lượng cổ đông tối thiểu. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều
77 LDN 2005, CTCP phải có ít nhất là 3 cổ đông trong quá trình hoạt động.
So với việc quy định số lượng cổ đông tối thiểu là 7 của LCT năm 1990, việc
quy định như hiện hành có một số ý nghĩa nhất định về mặt thực tiễn. Đồng
thời, việc quy định số lượng thành viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ
quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của CTCP.
Bốn là, về chế độ chịu trách nhiệm tài sản:
Theo Điều 77 LDN năm 2005 thì cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã
góp vào công ty. Tức là, cổ đông của CTCP chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối
với các khoản nợ của công ty. Với tư cách là một pháp nhân, CTCP sẽ tự chịu

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

11

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty, cổ đông không phải chịu
trách nhiệm thay CTCP về các khoản nợ của công ty.
Có thể thấy rằng, sự tách biệt rõ ràng về tài sản của công ty và tài sản
của thành viên công ty đã giúp cho các cổ đông của CTCP có thể hạn chế
được rủi ro trong kinh doanh; đồng thời cũng góp phần giúp các nhà đầu tư
mạnh dạn hơn khi đầu tư kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Chính lợi
thế này đã giúp các CTCP có khả năng huy động vốn rất lớn để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Năm là, về khả năng chuyển nhượng vốn:
So với mô hình công ty TNHH, phần vốn góp của cổ đông trong CTCP
(tức là cổ phần) có khả năng chuyển nhượng dễ dàng hơn. Về nguyên tắc, cổ
đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp
cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Điều 84 LDN 2005) và cổ phần ưu
đãi biểu quyết (Điều 81 LDN 2005). Cụ thể:
- Đối với việc cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng:
quy định này xuất phát từ bản chất của cổ phần ưu đãi biểu quyết và đối
tượng được mua cổ phần ưu đãi biểu quyết. Chỉ có tổ chức được Chính phủ
ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
Bởi vây, cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ có giá trị gắn liền với chính các cổ
đông sáng lập và tổ chức được Chính phủ ủy quyền nắm giữ nó mà không thể
chuyển nhượng cho người khác.
- Đối với việc không cấm việc chuyển nhượng vốn của các cổ đông
sáng lập trong ba năm đầu, nhưng LDN đã đưa ra những quy định nhằm hạn
chế việc chuyển nhượng. Thời hạn ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp
giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp, các cổ đông sáng lập có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác,
nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

12

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
w

không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ. Quy
định này xuất phát từ vai trò quan trọng của các cổ đông sáng lập đối với hoạt
động kinh doanh của CTCP trong giai đoạn đầu thành lập và hoạt động.
Trong giai đoạn đầu, CTCP có hoạt động tốt hay không, có phát triển và đạt
được sự hưng thịnh hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò của cổ đông sáng
lập. Vì vậy, việc gắn lợi ích của cổ đông sáng lập với lợi ích của công ty
thông qua số cổ phần tối thiểu mà các cổ đông sáng lập phải nắm giữ (ít nhất
20% cổ phần phổ thông) và cơ chế chuyển nhượng vốn bị hạn chế sẽ đòi hỏi
các cổ đông sáng lập phải nổ lực và tập trung rất cao trong quản lý, điều hành,
đặc biệt khi công ty gặp khó khăn trong kinh doanh.
Việc LDN 2005 cho phép cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần
đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư ở CTCP có khả năng nhanh nhậy, linh
hoạt trong việc chuyển đổi hình thức đầu tư, chủ động hơn trong việc sử dụng
nguồn vốn đầu tư của mình. Điều này góp phần giúp họ nhanh chóng nắm bắt
thời cơ tìm kiếm lợi nhuận thông qua chuyển nhượng cổ phần ở công ty này
và đầu tư mua cổ phần ở một công ty khác. Như vậy, cơ chế chuyển nhượng
vốn của cổ đông trong CTCP có sự thông thoáng hơn nhiều so với cơ chế
chuyển nhượng vốn của thành viên CTTNHH. Bởi, đối với công ty TNHH
muốn chuyển nhượng vốn, thành viên công ty TNHH phải chào bán cho các
thành viên còn lại trong công ty theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ
trong công ty với cùng một điều kiện và chỉ được chuyển nhượng cho người
không phải là thành viên công ty khi các thành viên công ty không mua hoặc
mua hết trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày chào bán.
Sáu là, về việc phát hành chứng khoán:
Theo khoản 3 Điều 77 LDN 2005 thì CTCP có quyền phát hành các
loại chứng khoán để huy động vốn theo quy định của pháp luật. Chứng khoán
được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử,

.d o

m

13

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
w

bao gồm các loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần,
chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm
chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. CTCP có quyền phát hành chứng
khoán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định.
Với cơ chế huy động vốn linh hoạt, mô hình CTCP đã góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có cơ hội đầu tư
có lợi và an toàn. Các cá nhân mua cổ phiếu được hưởng lợi tức cổ phần, bên
cạnh đó họ còn được hưởng lợi nhuận đáng kể từ sự tăng giá của cổ phiếu khi
công ty làm ăn có hiệu quả. Mặt khác, CTCP cũng là hình thức đầu tư giúp
nhà kinh doanh hạn chế được những rủi ro, tránh được rủi ro bằng cách cùng
lúc đầu tư vào nhiều công ty khác nhau. Bên cạnh đó, các cổ đông có quyền
tham gia quản lý công ty theo điều lệ của công ty và được pháp luật bảo đảm.
Các cổ đông được hưởng ưu đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát
hành của công ty trước khi công ty đem bán rộng rãi ra ngoài công chúng.
Hơn thế nữa, cơ chế huy động vốn linh hoạt còn giúp cho CTCP có khả năng
chủ động được về nguồn huy động vốn mỗi khi cần nguồn vốn lớn tham gia
vào các dự án lớn và từ đó tạo nên sự chủ động trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, góp phần vào thành công của doanh nghiệp.
1.1.3. Khái niệm về tổ chức quản lý công ty cổ phần
Tổ chức quản lý công ty có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài
hòa các mối quan hệ giữa HĐQT, BGĐ, các cổ đông và các bên có quyền lợi
liên quan trong doanh nghiệp. Tại Việt Nam, tư tưởng tổ chức quản lý doanh
nghiệp đã được ghi nhận từ LCT và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990.
Mặc dù vấn đề tổ chức quản lý doanh nghiệp rất quan trọng, nhưng thực tế nó
chưa được quan tâm đúng mức. Ở nhiều công ty, việc tổ chức quản lý còn
nặng nề, máy móc và chịu ảnh hưởng của tư duy quản lý hành chính lỗi thời
của cơ chế kinh tế bao cấp. Kế thừa và khắc phục những hạn chế bất cập trong

.d o

m

14

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

LCT năm 1990, sau đó là LDN năm 1999, LDN 2005 đã có nhiều chế định cụ
thể, rõ ràng về tổ chức quản lý, điều hành công ty. Nhưng cho đến nay, khái
niệm “tổ chức quản lý công ty” ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ.
Trước tiên, để hiểu được khái niệm trên thì cần có sự phân biệt rõ khái
niệm tổ chức quản lý nội bộ công ty và tổ chức quản lý kinh doanh. Theo đó:
- Tổ chức quản lý kinh doanh là công tác sắp xếp, điều hành, quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện.
- Tổ chức, quản lý nội bộ công ty là quá trình tác động của cổ đông tới
hoạt động của toàn công ty nhằm đảm bảo quyền lợi của mình và xã hội.
Rộng hơn, tổ chức quản lý nội bộ công ty phát triển đến quyền lợi của người
liên quan không chỉ là cổ đông mà còn là nhân viên, khách hàng, nhà cung
cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước. Vì thế, theo quy chế quản lý nội bộ
công ty của Bộ Tài chính ban hành vào tháng 3 năm 2007, quản lý nội bộ
công ty được định nghĩa là “hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty
được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền
lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”, [1].
Với hai cách hiểu như trên, luận văn chỉ tập trung tìm hiểu về tổ chức
quản lý CTCP dưới góc độ tổ chức, quản lý nội bộ của CTCP. Dưới góc độ
này, chúng ta cũng cần có sự tách bạch hai vấn đề, một là việc quản lý CTCP,
và hai là việc tổ chức CTCP:
- Nói đến quản lý công ty là nói đến mối liên hệ giữa các bộ phận trong
công ty. Cụ thể hơn, đối với CTCP, đó là mối liên hệ giữa các cổ đông khác
nhau trong việc quyết định đường lối và hoạt động của công ty. Có một số
khái niệm về quản lý công ty nói chung được đưa ra như sau:
+ Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), quản lí công ty
là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lí mà theo đó các công ty được
điều hành theo một ý chí thống nhất; việc quản lí công ty cho phép tạo ra một

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

15

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to
w

cơ chế mà các mục tiêu của công ty được xác lập, tạo ra các phương tiện để
đạt được các mục đích đã đề ra và giám sát việc thực hiện , [10].
+ Theo ngân hàng thế giới (WB), quản lí công ty được coi là một hệ
thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các thông lệ quản lý của các
công ty. Nó cho phép các công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và
nhân lực, hoạt động một cách hiệu quả, tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho
các thành viên trong khi vẫn tôn trọng các quyền lợi của những người có
quyền, những người có lợi ích liên quan và của xã hội ,[7].
+ Theo ngân hàng phát triển châu Á (ADB), quản lý công ty bao gồm
một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức
danh quản lý, các chủ nợ, Chính phủ và những người có quyền, lợi ích liên
quan khác và một hệ thống các cơ chế để đảm bảo cho các quy chế nói trên
được thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp ,[2].
- Trong khi đó, nói đến tổ chức công ty là đề cập tới hoạt động tổ chức
và điều hành công ty. Như vậy, tổ chức quản lý công ty sẽ xác định rõ sự
phân bổ các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khác nhau trong công ty.
Từ việc phân tích khái niệm quản lý công ty ở trên, ta có thể suy ra kết
luận: “Tổ chức và quản lý CTCP là hệ thống các thiết chế, theo đó việc tổ
chức quản lý công ty được thực hiện trên cơ sở phân định rõ ràng về quyền,
nghĩa vụ của các chủ sở hữu, người quản lý, những người có lợi ích liên quan,
và các phương pháp áp dụng theo một trình tự, thủ tục nhằm đảm bảo tổ chức
và hoạt động của công ty một cách hiệu quả nhất”. Nói tóm lại, việc quản lý
và tổ chức CTCP bao gồm rất nhiều nội dung, trong đó phải kể đến các nội
dung cơ bản sau: (i) cơ cấu bộ máy quản lý nội bộ của CTCP; (ii) Chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy quản lý nội bộ CTCP;
(iii) nguyên tắc hoạt động và thủ tục thông qua các quyết định.

.d o

m

16

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức quản lý CTCP, trong đó
không thể không kể đến sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn, hay sự ảnh hưởng
của cơ cấu thành viên đối với CTCP.
Như trên đã trình bày, tổ chức và quản lý công ty nói chung và đối với
CTCP nói riêng có những vai trò, ý nghĩa nhất định:
- Đối với quyền và lợi ích của các thành viên trong CTCP: Thành viên
CTCP chính là các cổ đông – người góp vốn đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh của công ty. Tất nhiên mỗi cổ đông luôn mong muốn có được lợi
nhuận khi bỏ vốn đầu tư. Và một hệ thống tổ chức quản lý tốt sẽ tạo ra sự tin
tưởng, làm cho cổ đông gắn bó hơn với công ty. Bên cạnh đó, quản lý và tổ
chức trong CTCP không chỉ là sự đảm bảo về mặt kinh tế cho các thành viên
của công ty mà còn là yếu tố đảm bảo tiếng nói của các cổ đông trong công ty,
đặc biệt là với các cổ đông thiểu số. Một hệ thống quản lý và tổ chức tốt luôn
đáp ứng được quyền lợi của mỗi cổ đông trong việc đưa ra những quyết định
về hoạt động kinh doanh, nói cách khác đó chính là tạo điều kiện cho cổ đông
thực sự được sử dụng vốn góp của mình thông qua việc điều hành công ty.
- Đối với sự ổn định và phát triển của công ty: Hoạt động của mọi
doanh nghiệp nói chung và với CTCP nói riêng đều vì mục tiêu lợi nhuận.
Mọi thành viên của công ty luôn muốn phát triển ưu thế, đem lại lợi ích cho
họ. Vì thế, vai trò của việc tổ chức, quản lý càng được nhấn mạnh. Việc tổ
chức và quản lý tốt không những giúp cho công ty hoạt động ổn định với
nguồn vốn bỏ ra mà còn làm cho nguồn vốn đó tăng lên, đó mới thực sự là tổ
chức và quản lý có hiệu quả.
- Đối với đối tác và khách hàng của công ty: Khi lựa chọn đối tác, bộ
máy quản lý cũng là một yếu tố cần xem xét. Vì vậy, hoàn thiện quản lý cũng
là tăng sức hấp dẫn của doanh nghiệp. Có nhiều đối tác cũng có nghĩa là cơ
hội phát triển dành cho công ty lớn hơn. Còn đối với người tiêu dùng, vai trò

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

17

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

quản lý công ty trở nên mờ nhạt hơn. Trong thương mại hàng hóa, quản lý và
tổ chức công ty chủ yếu thể hiện vai trò với khách hàng thông qua việc phân
phối sản phẩm: người tiêu dùng luôn lựa chọn sản phẩm từ điểm mua uy tín,
muốn vậy cần phải có bộ máy quản lý tốt. Trong thương mại dịch vụ thì quản
lý nội bộ của một công ty có ý nghĩa lớn hơn với khách hàng bởi tiêu dùng
dịch vụ là một quá trình, muốn chọn được dịch vụ tốt, người tiêu dùng cũng
cần xem xét nhà cung cấp có hoạt động ổn định hay không.
- Đối với nền kinh tế: Doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng là
một bộ phận của nền kinh tế. Chính vì vậy sự tăng trưởng của chúng góp phần
ổn định và phát triển cho cả nền kinh tế. Một hệ thống tổ chức quản lý tốt sẽ
đưa công ty đến sự thịnh vượng. Do đó, vấn đề tổ chức và quản lý CTCP
cũng có những ý nghĩa và vai trò nhất định đối với nền kinh tế.
1.2. Các mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần theo pháp luật Nhật
Bản và một số quốc gia trên thế giới
Để CTCP hoạt động trên thực tế, cần có một bộ máy quản lý hiệu quả.
Để nhận biết và phân loại các hệ thống tổ chức và quản lý công ty, các nhà
nghiên cứu trên thế giới thường dựa vào mục đích của việc tổ chức, quản lý
công ty hoặc theo cấu trúc quản lý nội bộ của công ty theo luật định.
Thứ nhất, nếu căn cứ vào mục đích của việc tổ chức, quản lý công ty,
các mô hình tổ chức quản lý CTCP thường được phân chia thành mô hình
quản lý hướng tới cổ đông và mô hình quản lý hướng tới lợi ích của tất cả các
bên có quyền lợi liên quan đến công ty. Bên có quyền lợi liên quan đến công
ty có thể hiểu là cá nhân, tổ chức có mối quan hệ liên quan đến quá trình quản
trị, điều hành, kiểm soát công ty hoặc là những chủ thể bị ảnh hưởng bởi các
hoạt động của công ty hay quyết định của công ty thông qua các cơ quan
trong bộ máy quản lý.

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

18

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

Mục đích của việc tổ chức, quản lý CTCP có sự khác nhau giữa các
quốc gia trên thế giới. Nếu như mô hình quản lý công ty ở Nhật Bản,
Đức...thường đề cao tới lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan thì các nhà
quản lý công ty của Mỹ, Anh, Úc...thường cố gắng tối đa hóa lợi nhuận, vì lợi
ích của các cổ đông, và ở những quốc gia này, cổ đông trao cho HĐQT rất
nhiều quyền lực.
Thứ hai, căn cứ theo cấu trúc tổ chức và quản lý nội bộ của công ty
theo luật định, hiện nay, trên thế giới tồn tại chủ yếu hai mô hình cơ bản: (i)
mô hình hội đồng đơn – hay còn gọi là hội đồng một tầng, và (ii) mô hình hội
đồng kép – hay còn gọi là hội đồng hai tầng.
- Cấu trúc hội đồng một tầng: Cấu trúc hội đồng một tầng có trong pháp
luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (common law)
như Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada…; cũng như không ít các
nước thuộc dòng họ luật thành văn (civil law). Theo luật công ty Anh–Mỹ,
cấu trúc tổ chức quản lý của một CTCP gồm có: ĐHĐCĐ và Hội đồng giám
đốc (HĐGĐ). Bộ phận quản trị – điều hành của CTCP chỉ do một cơ quan
đảm nhiệm là HĐGĐ – cấu trúc hội đồng. ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn các thành
viên của HĐGĐ (thường có từ ba đến hai chục thành viên), đươc gọi là các
directors. Mọi quyền lực và các vấn đề của công ty được pháp luật đặt vào tay
của HĐGĐ, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty qui định phải
thuộc về ĐHĐCĐ. LCT của các nước thuộc dòng họ Anglo-American thường
có một qui định rất quan trọng rằng: công việc kinh doanh của công ty được
quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của HĐGĐ (hay các GĐ). Sự phân chia
quyền lực này khác với việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan của bộ
máy quản lý nội bộ CTCP vẫn thường thấy trong luật công ty của các nước
châu Âu lục địa, Trung Quốc và Việt Nam. Cũng vì thế, HĐGĐ của các công
ty theo mô hình Anh – Mỹ có rất nhiều quyền lực, hơn rất nhiều so với những

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

19

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


h a n g e Vi
e

w

N
y
bu
to

người đồng nghiệp của họ trong hội đồng quản trị công ty của các nước châu
Âu lục địa, Nhật Bản và Việt Nam. Bên cạnh đó, HĐGĐ có một quyền khá
đặc biệt, đó là việc HĐGĐ – những người làm thuê – lại quyết định việc chia
cổ tức cho các cổ đông – những ông bà chủ! Theo đó, HĐGĐ bổ nhiệm các
thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành
hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng đầu của bộ phận
điều hành là tổng giám đốc. Pháp luật công ty của các nước Anh – Mỹ không
có qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của TGĐ như trong pháp luật công ty
Việt Nam hay Nhật Bản. Quyền lực của TGĐ sẽ do HĐGĐ quyết định trên cơ
sở ủy nhiệm, vì thế, không phải các TGĐ đều có quyền lực như nhau. Tuy
nhiên, trên thực tế, TGĐ trong mô hình quản trị của Hoa Kỳ được coi là mô
hình TGĐ mạnh, nhất là khi Chủ tịch HĐGĐ kiêm nhiệm luôn chức vụ TGĐ,
hoặc HĐGĐ ủy quyền mạnh cho TGĐ. Nếu như Chủ tịch HĐGĐ các công ty
lớn ở Anh ít kiêm nhiệm chức TGĐ, thì đồng nghiệp Hoa Kỳ của họ lại hay
kiêm nhiệm hai chức danh này.
Với mô hình tổ chức quản lý ở CTCP theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu
Anh-Mỹ thì không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát
những người quản lý – điều hành công ty như ban kiểm soát (BKS) trong
LCT Việt Nam và LCT Nhật Bản hay như HĐGS trong mô hình hội đồng hai
tầng của Đức.
- Cấu trúc hội đồng hai tầng: Cấu trúc hội đồng kép có nguồn gốc từ
nước Đức, xứ sở của dòng họ luật German civil law. Cấu trúc hội đồng kép
với sự tham gia của người lao động trong các CTCP đã từng được cho là trái
tim của nền dân chủ công nghiệp Đức. Theo đó, sự tham gia của người lao
động vào cấu trúc quản trị CTCP theo luật Đức thể hiện ý niệm về mô hình
quản trị công ty hướng về những người có quyền lợi liên quan, khác với mô
hình quản trị kiểu Anh-Mỹ nhằm hướng tới cổ đông.

.d o

m

w

o

.c

lic

k
c u -tr a c k

C

m

20

o

.d o

w

w

w

w

w

C

lic

k

to

bu

y

N

O
W

!

XC

er

O
W

F-

w

PD

h a n g e Vi
e

!

XC

er

PD

F-

c u -tr a c k

.c


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×