Tải bản đầy đủ

SKKN biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 THCS năm học 2015 2016

Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

1. MỞ ĐẦU.
1.1. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS có vị trí rất quan trọng, không chỉ
giúp các em cảm nhận được cái đẹp của tác phẩm văn chương mà đó thực sự là
những bài học làm người. Chương trình Ngữ văn THCS chia làm ba phân môn: Văn,
Tiếng Việt và Tập làm văn, trong đó ở lớp 9 thì phân môn Tập làm văn chiếm số
lượng khá lớn và quan trọng, đặc biệt là phần kiểu văn nghị luận văn học. Nghị luận
văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân môn tập làm văn
nói chung. Học văn nghị luận đã khó, để làm được một bài văn nghị luận hay lại
càng khó hơn. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân tích, đánh giá từ
khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, về văn học, về lịch sử ... và đặc biệt
là kỹ năng trình bày.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, kỹ năng viết văn của học sinh lớp 9 ở trường
THCS còn nhiều hạn chế. Nhiều em còn chưa nắm chắc được các bước làm bài văn
nghị luận, chưa xác định rõ yêu cầu của đề bài. Việc sử dụng luận cứ làm sáng tỏ
luận điểm cũng như sử dụng luận cứ chưa được phù hợp do đó bài viết rời rạc, khô
khan, dùng câu, từ chưa chuẩn xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa chặt chẽ,
chưa có sức thuyết phục.

Để viết được bài văn hay đòi hỏi học sinh cần phải có kiến thức văn học và kỹ
năng cơ bản khi viết bài. Với kiểu bài nghị luận này, học sinh phải được thực hành
luyện viết thật nhiều để các em có kỹ năng làm văn và giúp viết bài văn nghị luận
tốt hơn bởi nghị luận văn học nhằm hình thành, phát triển khả năng lập luận chặt
chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức thuyết phục, đặc
biệt khi bày tỏ ý kiến bản thân về một tác phẩm văn học lại rất cần thiết. Bởi vậy,tôi
đã giành nhiều thời gian tìm tòi nghiên cứu và rút ra “Một số biện pháp rèn kỹ
năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 - THCS” giúp hướng dẫn và
rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận
văn học nói riêng góp phần năng cao chất lượng giáo dục bộ môn trong nhà trường.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn trong
trường THCS, “Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học
sinh lớp 9” khảo sát thực tiễn chất lượng dạy – học, đánh giá thực trạng và trình bày
một số nguyên nhân về thực trạng chất lượng dạy – học phần nghị luận văn học lớp
9 hiện nay, đồng thời sâu nghiên cứu và trình bày một số giải pháp rèn kỹ năng làm
văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 trung học cơ sở.
1


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Trên cơ sở thực trạng chất lượng bộ môn Văn, đặc biệt là phần Tập làm văn
kiểu văn nghị luận văn học của học sinh lớp 9 ở trường THCS năm học 2013 – 2014
và năm học 2014 – 2015, đề tài đi sâu nghiên cứu và trình bày một số giải pháp rèn
kỹ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 trung học cơ sở.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận:
Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống. Mỗi tác phẩm văn chương là một
mảng cuộc sống được nhà văn chọn lọc phản ánh. Môn văn trong nhà trường có một
vị trí rất quan trọng, có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của học sinh. Văn
học "chắp đôi cánh" để các em đến với thời đại văn minh, với nền văn hóa, xây
dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống, trang bị cho các em vốn sống, hướng các


em tới đỉnh cao của cái đẹp. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Dạy làm văn
chủ yếu là dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách
trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói”...
Nghị luận văn học là một kiểu bài khó, học văn nghị luận đã khó, để làm được
một bài văn nghị luận hay lại càng khó hơn. Vì vậy việc tìm tòi và rèn luyện các kỹ
năng để làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng là vấn đề
đòi hỏi người thầy phải quan tâm rèn luyện cho học sinh, giúp học sinh phát triển
khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu
sức thuyết phục. Muốn vậy người thầy cần nắm chắc đặc trưng văn nghị luận; đặc
điểm của nghị luận văn học, các bước làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học. cụ
thể là:
- Nghị luận văn học, cụ thể là nghị luận về một tác phẩm truyện (đoạn trích)
hoặc nghị luận về một bài thơ (đoạn thơ) là sự kế thừa và nâng cao kiến thức đã
cung cấp, kỹ năng rèn luyện ở các lớp trước, như ở lớp 7 các em được học phép lập
luận giải thích, lập luận chứng minh. Hay ở lớp 8, các em học khá kỹ về văn lập
luận, về cách nói, cách viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố tự sự, miêu tả và
biểu cảm… Ở lớp 9, các em phải vận dụng nhiều thao tác, kỹ năng giải thích, chứng
minh, phân tích, bình giảng… Điều này học sinh hiểu rõ để khi viết văn nghị luận
2


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

văn học, các em sẽ có hướng trình bày môt cách có lí , hấp dẫn về những cảm nhận,
suy nghĩ , đánh giá của mình về một vấn đề văn học thật sang tạo và hợp lí.
- Vấn đề nghị luận cần được xác định cụ thể, chính xác trước khi làm bài. Vấn
đề nghị luận chính là tư tưởng là cốt lõi, là chủ đề của một bài văn nghị luận. Nó
chính là mạch ngầm làm nêm tính thống nhất, chặt chẽ của bài văn.
- Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của văn nghị luận nói chung và nghị luận văn
học nói riêng, yêu cầu giáo viên phải nắm chắc đặc trưng riêng của từng kiểu loại,
kỹ năng làm văn ở hai kiểu loại: nghị luận về một tác phẩm (đoạn trích) truyện.
Nghị luận về một bài thơ (đoạn thơ) .
- Trong văn nghị luận chú ý tìm luận điểm và xây dựng, triển khai luận điểm
và sử dụng tốt các phép lập luận. Bố cục riêng của nghị luận văn học.
- Trên cơ sở đó giáo viên hướng dẫn cụ thể cho HS qua các tiết bài dạy trên
lớp, rèn luyện kỹ năng làm bài qua bốn bước (tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài
và sửa lỗi).
2.2. Thực trạng chất lượng dạy và học văn nghị luận của học sinh lớp 9 –
THCS
2.2.1. Thực trạng.
Trong những năm gần đây, chất lượng môn Ngữ văn trong trường THCS có
phần giảm sút. Một bộ phận không nhỏ học sinh không có hứng thú trong việc học
tập bộ môn này. Do nhận thức sai lầm của các bậc phụ huynh, họ cho rằng việc học
giỏi môn văn cũng như thi đại học vào khối C ít có cơ hội chọn ngành nghề và khó
tìm được việc làm có thu nhập cao nên chưa đầu tư thỏa đáng cho việc học tập của
con em. Ở trường THCS và THPT việc học Ngữ văn ở học sinh chỉ mang tính đối
phó, vì vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bộ môn cũng như tâm lý người
dạy. Nhiều học sinh có thái độ thờ ơ với môn học, ít đầu tư thời gian, không chú
trọng rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kỹ năng làm văn nghị luận dẫn đến bài làm của
các em còn nhiều hạn chế: Bài viết rời rạc, khô khan, dùng câu dùng từ chưa chính
xác, bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa chặt chẽ, chưa có sức thuyết phục, vốn từ
nghèo nàn nên diễn đạt lủng củng tối nghĩa, dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi
chính tả, từ địa phương...Nhiều học sinh chưa xác định rõ yêu cầu của đề bài, chưa
xác định được luận điểm (ý chính) của bài văn. Một số em không sử dụng luận cứ
làm sáng tỏ luận điểm, sử dụng luận cứ không phù hợp. Học sinh không bày tỏ được
suy nghĩ, ý kiến, nhận xét đánh giá của mình về đối tượng nghị luận và hạn chế
trong khả năng liên hệ. Bởi vậy chất lượng học tập của học sinh còn thấp, cụ thể
khảo sát chất lượng các bài kiểm tra ở học kỳ II năm học 2013 – 2014, kết quả như
sau:
3


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

Các bài
kiểm tra
Bài viết số 7
(Tiết 134, 135)
Kiểm tra truyện
hiện đại (Tiết 156)
Kiểm tra học kì

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu , kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

0

0

12/39

30.8

15/39

38.5

12

30.8

0

0

10/39

25.6

20/39

51.3

9

23.1

0

0

8/39

20.5

22/39

56.4

9/39

23.1

2.2.2 Nguyên nhân.
a. Về phía giáo viên:
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp
trực quan vào tiết học còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu bài của
học sinh.
- Thời lượng trong phân môn Tập làm văn cho mỗi thể loại chỉ có 45 phút
thực hành nên học sinh ít có thời gian để luyện viết, mà chủ yếu là giáo viên lồng
ghép để HS được thực hành trong những buổi học bồi dưỡng, và làm bài tập giáo
viên ra ở nhà.
- Giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có nhiều kỹ năng trong việc bồi
dưỡng học sinh nên kết quả chưa cao.
b. Về phía học sinh:
- Một số học sinh không nắm chắc được đặc trưng riêng biệt của văn nghị
luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng.
- Một số em không nắm chắc được các bước làm bài văn nghị luận và kỹ năng
làm bài.
- Một số học sinh lười học, chán học nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ
học văn.
- Ý thức làm bài rất thụ động, trông chờ, ỷ lại mỗi khi kiểm tra. Cô giáo ra bài
tập thì làm đối phó, qua loa, ngại viết, ngại thực hành.
- Một số đông các em lại ngại đọc sách báo, tài liệu tham khảo, thậm chí kể cả
văn bản trong không có tư liệu, luận cứ cho bài làm.
- Một số em điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn, không có điều kiện để
mua tài liệu tham khảo trang bị kiến thức cho bài viết.
- Năng lực cảm thụ thơ, văn còn yếu; kỹ năng viết đoạn văn còn nhiều hạn
chế. Nhiều em cách trình bày, diễn đạt còn quá non, trình bày còn cẩu thả.
2.3. Các biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh.
4


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

2.3.1. Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề bài:
Muốn làm được bài nghị luận về tác phẩm văn học phải hiểu biết về tác giả,
tác phẩm, thể loại, đề tài, nội dung, đặc sắc nghệ thuật... Tác phẩm đó hấp dẫn ở chỗ
nào, ý nghĩa của đề tài, các nhân vật,... làm cho mình thích thú, từ đó nâng lên thành
những nhận xét, nhận định về tác phẩm đó. Vì vậy mà khâu tìm hiểu đề bài là vô
cùng quan trọng.
- Tìm hiểu đề bài để xem đề bài đó yêu cầu gì? Phạm vi (giới hạn) của đề bài.
- Xác định yêu cầu của kiểu loại (phân tích, suy nghĩ, cảm nhận…) để có định
hướng làm bài. Đề bài cần chú ý các từ ngữ mệnh lệnh như: phân tích, suy nghĩ,
cảm nhận ... thì đòi hỏi bài làm phải khác nhau như thế nào (nếu là đề phân tích thì
giáo viên phải hướng dẫn, lưu ý cho học sinh đề yêu cầu phân tích tác phẩm để nêu
ra nhận xét. Đề suy nghĩ thì yêu cầu đề xuất nhận xét về tác phẩm trên cơ sở một tư
tưởng, góc nhìn nào đó. Ví dụ quyền sống của con người, địa vị của người phụ nữ
trong xã hội... và lưu ý đây không phải là hai kiểu bài.
- Đối với những đề bài không có từ nghĩ mệnh lệnh, ta cần chú ý đến nội dung
yêu cầu nghị luận để lựa chọn cách làm phù hợp.
Cụ thể:
- Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần
xác định yêu cầu cụ thể của đề bài là loại bài gì? (bàn về nhân vật trong tác phẩm
(hoặc đoạn trích) ; Bàn về nội dung của tác phẩm (hoặc đoạn trích) bàn về nghệ
thuật của tác phẩm (hoặc đoạn trích) hay bàn về đề tài của tác phẩm (hoặc đoạn
trích)
Ví dụ: Khi nghị luận về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích
truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Giáo viên hướng dẫn học sinh
xác định được yêu cầu của đề: Kiểu văn bản: nghị luận về đoạn trích truyện; Nội
dung nghị luận: vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên; Phạm vi (giới hạn) của đề: anh
thanh niên trong đoạn trích truyện “Lặng lẽ SaPa”. Từ đó học sinh sẽ xác định cụ
thể nội dung cần viết.
- Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải xác định phạm
vi đối tượng mà đề yêu cầu (Nghị luận về một bài thơ hay một đoạn thơ). Cần xác
định được đề tài và nội dung của đề bài. Hướng nghị luận (do đề quy định hay do
người viết lựa chọn).
Cần lưu ý thêm đối với học sinh là: đối với nghị luận về tác phẩm thơ hoặc
đoạn trích thơ thì các từ ngữ mệnh lệnh có sắc thái riêng: từ phân tích chỉ định về
phương pháp: từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người viết; từ suy nghĩ
nhấn mạnh đến nhận định, phân tích của người làm bài. Trường hợp không có từ
5


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

ngữ mệnh lệnh, người viết phải bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề được nêu trong đề
bài. Và cần lưu ý thêm sự khác biệt chỉ là sắc thái không phải là kiểu bài khác nhau.
Cụ thể: Khi nghị luận về vẻ đẹp thiên nhiên mùa xuân xứ Huế qua bài thơ
“Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh
tìm hiểu yêu cầu của đề bài: kiểu văn: nghị luận về đoạn thơ; Nội dung nghị luận:
bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế. Phạm vi: 6 câu thơ đầu. Từ đó định hướng
viết bài.
- Đưa đối tượng phải bàn bạc (nhân vật, chủ đề, nội dung, nghệ thuật .....) gắn
câu hỏi tìm ý để có những ý kiến cụ thể (Điều nổi bật nhất, nét tiêu biểu cụ thể? Chi
tiết nào biểu hiện? ý nghĩa xã hội như thế nào ? Giá trị tiêu biểu ra sao ?.....)
- Cần hiểu đúng, đầy đủ nội dung yêu cầu của đề, tránh sai lạc, xác định được
giới hạn phạm vi yêu cầu của đề (chứng minh, giải thích hay phân tích, suy nghĩ,
cảm nhận...) để từ đó lựa chọn lí lẽ, dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu cho bài làm.
2.3.2. Hiểu rõ hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm có vai trò rất quan trọng khi cần đánh giá nhận xét
một tác phẩm văn học. Đặt tác phẩm vào hiện thực xã hội lúc đó, ta sẽ hiểu rõ và
nhìn nhận đúng hơn về tâm trạng, hành động suy nghĩ của nhân vật trong một tác
phẩm (hoặc đoạn trích) hay tình cảm, cảm xúc của nhân vật được thể hiện trong một
bài thơ. Từ đó có thể làm rõ các vấn đề: Tại sao đối tượng lại có hành động, suy
nghĩ như vậy ? Hành động suy nghĩ đó bộc lộ tâm trạng cảm xúc như thế nào ? Tâm
trạng cảm xúc đó nói lên phấm chất gì của đối tượng .
Ví dụ: Khi làm bài văn nghị luận với đề: Những đặc sắc trong bài thơ “Viếng
lăng Bác” của Viễn Phương. Học sinh cần phải nắm rõ hoàn cảnh sáng tác bài thơ
là: Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống
nhất, lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền
Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ Viếng Lăng Bác được viết trong dịp đó và in
trong tập " Như mấy mùa xuân " (1978). Để thấy được lòng thành kính, niềm xúc
động sâu sắc của nhà thơ và tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác. Cùng
với giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm ngôn
ngữ bình dị mà cô đúc ta thấy được mong muốn của người con miền Nam là được ở
gần Bác mãi mãi, muốn làm vui làm khuây, làm vợi nỗi vắng vẻ trong lăng của con
người đã suốt đời hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, con người lúc sinh thời
đã dành trọn tình thương yêu cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt cho đồng bào
miền Nam ruột thịt.
Hay ở bài “Mùa xuân nho nhỏ”, ta thấy bài thơ được ra đời trong một hoàn
cảnh không bình thường nhưng lại làm nên giá trị phi thường của tác phẩm. Bài thơ
6


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

được Thanh Hải viết tháng 11 năm 1980, trong một hoàn cảnh – Thanh Hải đang
nằm trên giường bệnh và không bao lâu nhà thơ qua đời. Cái hoàn cảnh đó có lẽ
khiến người ta chán nản, bi quan và tuyệt vọng nhưng Thanh Hải thì không: một
niềm tin yêu cuộc sống mãnh liệt. Là sự yêu mến mùa xuân đất trời, mùa xuân đất
nước, đân tộc và hơn nữa còn muốn hóa thân mình, góp vào mùa xuân đất nước một
cách âm thầm, khiêm nhường, lặng lẽ và dài lâu, bền bĩ. Cái hoàn đó tác động rất
lớn đến bạn đọc, đến học sinh.
2.3.3. Xác định luận điểm rõ ràng, xây dựng bố cục chặt chẽ.
2.3.3.1. Xác định luận điểm.
Luận điểm là linh hồn của bài văn nghị luận. Có luận điểm rõ ràng, bài văn sẽ
mạch lạc, các ý trình bày không bị lộn xộn, lủng củng. Khi triển khai các luận điểm
sẽ dễ tìm luận cứ, luận chứng và lí lẽ. Để có luận điểm rõ ràng phải đọc kỹ yêu cầu
của đề bài, xác định giới hạn phạm vi yêu cầu của đề và trả lời các câu hỏi tìm ý:
Điều nổi bật nhất để có thể làm rõ vấn đề là gì? Điều đó được biểu hiện qua những
chi tiết cụ thể nào.
* Cách tìm luận điểm:
+ Đọc kỹ đề và xem đề bài yêu cầu nghị luận điều gì? Ta sẽ xác định được
luận điểm.
+ Luận điểm nằm ở kết cấu (bố cục truyện, bài thơ)
+ Luận điểm thể hiện qua tính cách, hình dáng, lời nói, hành động và tâm
trạng của nhân vật (nếu là truyện) hoặc qua kết cấu, mạch cảm xúc (nếu là tác phẩm
thơ).
+ Luận điểm có thể nằm ngay ở nội dung và hướng dẫn học sinh tím các luận
điểm và trình bày luận điểm trong bài viết, một bài văn được coi là hệ thống, mạch
lạc, rõ ràng thì cần phải phân tách các ý. Bài văn có bao nhiêu ý lớn thì sẽ được trình
bàybằng bấy nhiêu đoạn văn.
+ Luận điểm là câu chủ đề của đoạn, câu mang nội dung, khái quát ý của toàn
đoạn. Câu mang luận điểm thường ngắn gọn, đủ thành phần câu.
Ví dụ: Các luận điểm khi suy nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong truyện
Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là:
Luận điểm 1: Anh thanh niên là người yêu nghề, có trách nhiệm cao vưói
công việc.
Luận điểm 2: Anh thanh niên là người giàu ý chí, nghị lực
Luận điểm 3: Anh thanh niên là người chân thành cởi mở, yêu thương quan
tâm tới mọi người.
7


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

Luận điểm 4: Anh thanh niên là người khiêm tốn, biết tổ chức cuộc sống khoa
học. nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Sau khi tìm được luận điểm, hướng dẫn HS sắp xếp theo trỡnh tự hợp lớ để phù
hợp với triển khai luận điểm.
* Trình bày luận điểm:
Luận điểm trong bài văn có thể được trình bày theo 2 cách:
- Trình bày luận điểm theo phương pháp diễn dịch: Luận điểm là câu chủ đề
đứng ở đầu đoạn, các câu sau khai triển vấn đề làm rõ luận điểm.
Ví dụ: Trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải có luận điểm ở khổ 1.
Bức tranh mùa xuân hiện lên với những nét vẽ có tính chất chấm phản ánh
không gian mùa xuân tương sáng, hài hoà giữa màu sắc, đường nét, âm thanh. Đó là
hình ảnh dóng sông xanh, bông hoa tím biệc và bầu trời cao rộng, âm thanh trong
trẻo, vang vọng trong tiếng chim chiền chiện khiến mùa xuân trở nên rộn rã tươi vui,
âm thanh đó như đọng thành “từng giọt long lanh rơi”...
- Trình bày luận điểm theo phương pháp quy nạp. Luận điểm là câu chủ đề
đứng cuối đoạn, các câu phải diễn tả cụ thể, phân tích chi tiết.
Ví dụ: Nghị luận về nhân vật ông Hai trong thiên nhiên “Làng” của Kim Lân
Ông Hai yêu làng, gắn bó máu thịt với làng nhất là khi phải đi tản cư kháng chiến,
ông nhớ làng da diết khôn nguôi, đi đâu cũng khoe làng, hỏi thăm tin tức về làng.
Hơn nữa, ông muốn truyền tình cảm ấy sang đời sau con mình cũng ghi nhớ, nhà ta
ở trong làng chợ Dầu. Như thế ta thấy ông Hai là mang vẻ đẹp của người nông dân
Việt Nam truyền thống.
Ví dụ - Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích “Chiếc Lược Ngà” của
Nguyễn Quang Sáng.
GV dẫn ra cách triển khai ý- lập luận trước
- Luận điểm 1: Tình cảm của bé Thu đối với cha
a. Lí lẽ 1: Thái độ và tình cảm của bé Thu trong những ngày Ông Sáu về
phép: Kiên quyết cự tuyệt tình cảm của cha.
b. Lí lẽ 2: Thái độ và hành động của bé Thu trong buổi chia tay: Tình cha con
cảm động bị dồn nén bao lâu nay mới có dịp ùa dậy mãnh liệt sâu sắc .
- Luận điểm 2. Tình cha con sâu nặng của ông Sáu
a. Lí lẽ 1: - Trong đợt nghỉ phép ở nhà:
+ Đầu tiên là sự hụt hẫng, buồn khi thấy đứa con sợ hãi và bỏ chạy.
+ Tiếp theo là sự kiên nhẫn cảm hoá , vỗ về để đứa con nhận cha.
+ Đến phút chia tay: Có cảm nhận bất lực và buồn.
+ Khi đứa con thét lên tiếng "Ba" thì hạnh phúc tột cùng.
8


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

b. Lí lẽ 2: Khi ở căn cứ..
+ Ân hận vì đã lỡ đánh con.
+ Say sưa, tỉ mẩn làm chiếc lược ngà trên có khắc dòng chữ "Yêu nhớ tặng Thu
con của ba".
+ Trước khi trút hơi thở cuối cùng "Hình như chỉ có tình cha con là không thể
chết được" trong trái tim của ông Sáu.
- Luận điểm 3:
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động nhất là các biến thái tình cảm và
hành động của nhân vật bé Thu.
+ Cốt truyện chặt chẽ, có những tình huống bất ngờ nhưng vì xảy ra trong hoàn
cảnh thời chiến nên vẫn đảm bảo hợp lí trong vận động của cuộc sống thực tế.
+ Ngôi kể thứ nhất cùng với ngôn ngữ giản dị, mang đậm màu sắc Nam Bộ.
2.3.3.2. Xây dựng bố cục.
Trong một bài văn, việc xây dựng bố cục rất quan trọng, đối với nghị luận về
tác phẩm văn học, giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu, nắm chắc yêu cầu dàn bài
theo bố cục ba phần: mở bài, thân bài, kết bài để không nhầm lẫn với yêu cầu về bố
cục của các kiểu văn khác. Từ việc xác định được các luận điểm, giáo viên hướng
dẫn học sinh xây dựng bố cục thật rõ rang, mạch lạc.
Cụ thể đối với bài nghị luận về tác phẩm truyện (đoạn trích) thì chủ yếu là nghị
luận về nhân vật văn học, cần đảm bảo đầy đủ các phần:
- Mở bài: giới thiệu tác phẩm, nhân vật và nêu ý kiến, đánh giá sơ bộ của
mình về tác phẩm hoặc nhân vật.
- Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nhân vật có phân tích, chứng minh
bằng luận cứ tiêu biểu, xác thực và sinh động trong tác phẩm .
- Kết bài: nêu nhận định, đánh giá chung của người viết về nhân vật nghị
luận.
Hoặc đối với bài nghị luận về một đọan thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lạc
theo các phần:
- Mở bài: giới thiệu về đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nhận xét, đánh giá của
người viết (nếu phân tích một đoạn thơ thì nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác
phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó).
- Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệ
thuật của đoạn thơ, bài thơ.
- Kết bài: khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.

9


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

Việc nắm chắc bố cục rất quan trọng, để các em có kỹ năng làm bài tốt và tránh
tình trạng thiếu ý trong bài văn. Đây là bố cục chung, từ đó giúp các vận dụng vào
từng kiểu loại một cách dễ dàng.
2.3.4. Lựa chọn các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu.
Trong một văn bản nghệ thuật để diễn tả tâm trạng, cảm súc, muốn truyền tải
nội dung tư tưởng của văn bản thì nhà văn, nhà thơ thường chọn một số từ ngữ, hình
ảnh để gửi gắm, học sinh cần phát hiện cho tinh để bình giảng đúng và trúng vấn đề
tránh bình giảng, phân tích tất cả các từ ngữ hình ảnh nhưng đều hời hợt như thế bài
viết sẽ không sâu, không thuyết phục người đọc.
Đối với bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần lần lượt
nghị luận từng luận điểm thông qua việc phân tích các chi tiết tiêu biểu trong tác
phẩm (Trang phục, hình dáng cử chỉ, hành động lời nói, suy nghĩ, tâm lí của nhân
vật; nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả , hình ảnh...). Quan trọng nhất là phải
biết phân tích những chứng cứ có giá trị để làm sáng tỏ luận điểm (Nhận xét của
người viết).
Ví dụ: Khi phân tích tình cảm của bé Thu đối với cha cần chú ý các chi tiết
cử chỉ, hành động của bé Thu:
+ Trước khi nhận ông Sáu là cha " Nghe gọi con bé giật mình , tròn mắt nhìn ,
ngơ ngác lạ lùng ...Mặt nó bỗng tái đi .... vụt chạy ....kêu thét lên .........
+ Trong buổi chia tay với cha : " Kêu thét lên : Ba....aa.....ba. Vừa kêu vừa
chạy xô tới, nhanh như sóc, thót lên, dang tay ôm chặt lấy cổ ba nó......
Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ quan trọng nhất biết phân
tích sự sáng tạo độc đáo các chi tiết , ngôn ngữ hình ảnh giọng điệu , đặc biệt là các
yếu tố nghệ thuật để làm rõ từng luận điểm cụ thể.
Ví dụ: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ "Đồng Chí" của
Chính Hữu.
- Kết bài bằng 3 câu thơ dựng lên bức tranh đẹp về tình đồng chí trong chiến
đấu. Biểu tượng đẹp về cuộc đời chiến sĩ: ba hình ảnh người lính, khẩu súng, vầng
trăng trong cảnh rừng hoang sương muối trong đêm phục kích đợi giặc. Tình đồng
chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh đêm trăng mùa đông vô cùng lạnh giá trên chiến
trường.
- Hình ảnh sáng tạo: "Đầu súng trăng treo": đầy ấn tượng, cô đọng và gợi hình
, gợi cảm . Ngoài hình ảnh còn có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì đó lơ lửng,
chông chênh, trong sự bát ngát.
Ví dụ : Khi cảm nhận về khổ thơ đầu bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh, học
sinh cần chỉ ra được các từ ngữ hình ảnh điển hình:
10


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

Bỗng -> ngỡ ngàng, ngạc nhiên, bất ngờ
- Phả: Là chộn lẫn toả vào, gợi độ dày đặc của cảm giác. Hương ổi nhiều đến
mức chiếm lĩnh không gian một cách tuyệt đối triệt để phả vào trong gió. Đó là động
từ mạnh, lan toả hương thu
- Sương chùng chình: từ láy nhân hoá, cố ý chậm lại, đợi chờ điều gì.
Ngõ - Thực để sương đi qua
- Ngừ thời gian thông nối 2 mùa
- Hình như: Bối rối, nghi hoặc không chắc chắn, hỏi để thêm 1 lần khẳng định
rằng thu sang có thực là rõ nét
Ví dụ: ở khổ thơ đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” học sinh cần thấy được
những đặc sắc về nội dung.
- Sông xanh, hoa tím biếc -> tính từ chỉ màu sắc cho thấy bức tranh thiên
nhiên mùa xuân là sự pha trộn đặc biệt nhưng rất hài hoà của các màu sắc: tím biếc,
xanh, màu tươi thắm của bông hoa đang mọc lên giữa dòng sông xanh. Sông xanh
hoa tím biếc là đặc trưng của đất trời xứ Huế.
- Động từ “mọc” -> đảo ngữ -> gợi sức sống trỗi dậy mạnh mẽ của mùa
xuân, trỗi dậy từ đất, từ nước, một bông hoa tím nhỏ nhoi đậm sắc giữa dòng sông
xanh biếc.
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “Từng giọt ... hứng” -> cảm xúc say xưa ngất
ngây của nhà thơ trước vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân, nhà thơ giang
rộng vòng tay, mở rộng tấm lòng, trân trọng nâng niu đón nhận mùa xuân. Giọt long
lanh là sự liên tưởng đầy chất thơ, từng giọt sương long lanh là sự liên tưởng đầy
chất thơ, từng giọt xuân lung linh ấm áp mát dịu đang thấm vào da thịt vào lòng
người.
Hay một vớ dụ ở nghệ thuật xây dựng nhân vật anh thanh niên trong truyện
“Lặng lẽ Sa Pa”
- Xây dựng nhân vật qua điểm nhìn, sự suy nghĩ, đánh giá của nhân vật khác.
-> Nhân vật lý tưởng này hiện ra cách tự nhiên mang tính khách quan.
Hay ở truyện ngắn Làng - Nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật
- Tạo tình huống
- Ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ, địa phương ...
Khi phân tích chỉ phân tích những chi tiết chính, những điểm nhấn có giá trị
còn lại có thể phân tích lướt những phần không có giá trị cho bài để đảm bảo bài văn
vừa có chỉnh thể, vừa có trọng tâm, có điểm sáng, gây được ấn tượng.
2.3.5. Đưa lời nhận xét, đánh giá, bày tỏ ý kiến quan điểm.
11


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

Đưa lời nhận xét, đánh giá, bày tỏ ý kiến quan điểm là kỹ năng rất cần thiết
trong văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng. Vì trong văn nghị
luận văn học, nhất là nghị luận về nhân vật văn học là trình bày những nhận xét
đánh giá (tức là ý kiến bình luận) của mình về nhân vật trong một tác phẩm cụ thể .
Tức là người viết phải bày tỏ thái độ, suy nghĩ, quan điểm của mình trước vấn đề
nghị luận. Các nhận xét đánh giá về nhân vật phải xuất phát từ đặc điểm, tính cách,
ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm, được người viết phát hiện và khái quát. Các
nhận xét, đánh giá về nhân vật văn học trong bài văn nghị luận phải rõ ràng, đúng
đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. Còn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ thì
yêu cầu người viết phải trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ
thuật của đoạn thơ, bài thơ. Các nhận xét đánh giá đó phải xuất phát từ ngôn từ, hình
ảnh, giọng điệu... của bài thơ. Bài nghị luận đòi hỏi trong quá trình phân tích những
yếu tố đó sao cho những nhận xét, đánh giá phải xác đáng, cụ thể.
Vậy việc đưa lời nhận xét, ý kiến, quan điểm của người viết về vấn đề nghị
luận khi nào? Đặt vị trí đâu cho hợp lí? Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào sự chỉ
dẫn của giáo viên một cách cụ thể đén học sinh. Việc đưa lời nhận xét, đánh giá
hoặc bày tỏ thái độ quan điểm không có một qui định bắt buộc vào lúc nào và ở đâu.
Mà điều này tùy thuộc vào từng nội dung phân tích. Ta có thể nhận xét đánh giá khái
quát ở ngay phần mở bài hoặc kết thúc bài văn (Ví dụ: khi giới thiệu về bài thơ “Bếp
lửa” ta có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá: Bài thơ “Bếp lửa” là một trong
những bài thơ được bạn đọc đón nhận và vô cùng yêu mến bởi đó là những trang
thơ đầy ắp những kỉ niệm tuổi ấu thơ khi sống bên bà....hoặc Bằng Việt viết về tuổi
ấu thơ của mình bằng sự lựa chọn nhiều chi tiết độc đáo tuy bình dị nhưng không
phải ai cũng nhận ra: “Bếp lửa”. Hoặc lời nhận xét đánh giá ở phần cuối bài văn có
tác dụng khái quát lại bài văn và làn rõ được cách nhìn nhận của người viết về vấn
đề nghị luận, chẳng hạn như: “Lặng lẽ SaPa” có nhiều nhân vật nhưng nhân vật
chính là nhân vật anh thanh niên. Các nhân vật khác xuất hiện mỗi người đều có một
nghề nghiệp, một cách nói, cách suy nghĩ, hành động cụ thể, riêng biệt nhưng đều
tập trung để làm tỏa sáng nhân vật anh thanh niên... Điều đó làm nhân vật anh thanh
niên trở nên tự nhiên, sống động hơn... Cho nên đúng như nhà văn đã tâm sự: “nghĩ
cho cùng, Lặng lẽ SaPa là một bức chân dung”.
Nhận xét đánh giá, bày tỏ ý kiến có thể từ nét đẹp của nhân vật qua lời nói,
việc làm cụ thể hoặc cũng có thể qua nghệ thuật xây dựng tác phẩm. Chẳng hạn
như: Đánh giá về nghệ thuật tạo tình huống trong truyện “Bến quê” – Nguyễn Minh
Châu đã lựa chọn đưa nghệ thuật tạo tình huống truyện thật độc đáo bởi đó là tình
huống đầy nghịch lí mang tính nhận thức (....) và ẩn chứa một triết lí (....) và từ tình
12


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

huống đó, người đọc tiếp tục suy ngẫm để nhận thức nhiều bài học nhân sinh sâu
sắc khác. Hoặc thông qua các từ ngữ, hình ảnh viết về người mẹ trong bài “Ngồi
buồn nhớ mẹ ta xưa” của nhà thơ Nguyễn Duy, ta có thể nhận định: Đó là một
người mẹ nghèo, lam lũ, tần tảo vất vả, chịu thương chịu khó, một nắng hai sương.
Đó là người mẹ suốt đời thương yêu và hi sinh nhẫn nại vì con).
Việc dạy cho học sinh thao tác đưa lời nhận xét, đánh giá, quan điểm đạt hiệu
quả có hai cách để đưa: có thể đưa ra lời nhận xét, đánh giá và dẫn dắt dẫn chứng để
làm sáng tỏ hoặc cũng có khi thông qua các chi tiết rồi rút ra nhận xét đánh giá.
Điều đó tù thuộc vào sự linh hoạt trong làm bài của các em. Và nếu các em vận
dụng tốt thì bài văn nghị luận của các em sẽ chắc chắn, thuyết phục và mang màu
sắc riêng của người viết. Đây là kỹ năng rất quan trọng.
2.3.6. Kỹ năng liên hệ.
Liên hệ là một kỹ năng rất quan trọng giúp bài văn không chỉ đầy đủ mà còn
phong phú và sâu sắc. Liên hệ phản ánh rõ năng lực cảm thụ văn chương của HS.
Liên hệ được biểu hiện ở hai cách
2.3.6.1. Liên hệ với tác phẩm cùng đề tài.
Việc lựa chọn tác phẩm cùng đề tài đòi hỏi HS phải có năng lực hiểu biết về nội
dung của các tác phẩm khác mà các em không được học trong chương trình. Vì vậy
giáo viên phải yêu cầu HS tham khảo thêm tài liệu tham khảo, tìm hiểu qua phương
tiện để có vốn tư liệu phục vụ làm văn. Và từ đó các em có thể làm bài nghị luận
khác không có trong chương trình.
Ví dụ: Trong bài thơ “ Nói với con” của nhà thơ Y Phương , các em có thể liên
hệ với bài thơ “Dặn con” của Trần Nhuận Minh – đoạn thơ sau:
“…. Nhà mình sát đường, họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào
Mình tạm gọi là no đủ
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi trong thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này”
Hay khi làm nghị luận về bài thơ “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Các
em cần liên hệ đến các bài thơ nói về tấm lòng của Bác đối với dân tộc Việt Nam.
Điều này giúp thể hiện thêm tấm lòng của Bác cũng như lòng thành kinhd, biết ơn
13


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

của dân tộc Việt Nam với Bác. Các em liên hệ bài “Bác ơi”, “Theo chân Bác” của
nhà thơ Tố Hữu.
“ Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”
“Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”
(Tố Hữu, Bác ơi)
“ Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta
Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình, cho hết thảy
Như dòng sông chảy, nặng phù xa”
( Tố Hữu, Theo chân Bác)
2.3.6.2. Liên hệ bản thân.
Bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng gửi gắm đến bạn đọc bài học cuộc
sống bởi “Văn học là nhân học”. Trong quá trình làm văn, HS phải rút ra bài học
cho bản thân mình thì bài văn mới tăng tính triết lí sâu sắc. Đây là điều quan trọng ,
là đích cuối cùng của tác phẩm. Việc tự liên hệ giáo viên phải hướng dẫn cho HS
vận dụng ở phần cuối (kết bài) văn.
Ví dụ, khi nghị luận về nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”
của Nguyễn Thành Long, các em học được gì từ nhân vật trong tác phẩm: các em
phải ra sức học tập, rèn luyện tu dưỡng để xây dựng quê hương, đất nước. Hay khi
nghị luận về bài thơ “Con cò”, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” các em
tự rút ra bài học cho bản thân: ca ngợi tấm lòng của người mẹ với cuộc đời mỗi
chúng ta, chúng ta phải ghi nhớ và sống ân nghĩa, thể hiện tấm lòng biết ơn với mẹ
và sống hiếu nghĩ….
2.3.7. Thực nghiệm:
Thực nghiệm một đề kiểm tra: Tiết 134, 135 – Bài viết số 7 (Nghị luận văn học)
Đề bài: Phân tích tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy trong bài thơ “Ánh
trăng”.
Kỹ năng 1: Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề bài:
Giáo viên hướng dẫn HS tìm hiểu:
- Xác đinh kiểu văn: nghị luận về tác phẩm văn học (bài thơ) – Ánh trăng.
- Nội dung, giới hạn của đề bài: Tâm sự sâu kín của nhà thơ.
14


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

- Đề bài yêu cầu: phân tích (từ phân tích chỉ định về phương pháp: từ cảm
nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người viết).
Kỹ năng 2: Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời bài thơ.
Giáo viên hướng dẫn học sinh nhớ được hoàn cảnh ra đời bài thơ – Bài thơ
được viết khi nào? Trong hoàn cảnh nào? Ta nắm được hoàn cảnh sẽ dễ dàng hiểu
và cảm nội dung yêu cầu của đề bài vì nó quan hệ, ảnh hưởng, tác động từ hoàn
cảnh ra đời đến nội dung tác phẩm. Ta sẽ xác định:
- Bài thơ “Ánh trăng” được viết vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh, in
trong tập “Ánh trăng” – Tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt
Nam 1984.
- Nguyễn Duy viết bài thơ này vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khép
lại được ba năm. Ba năm sống trong hòa bình, không phải ai cũng nhớ gian khổ và
kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Nguyễn Duy viết “Ánh trăng” như một lời tâm
sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung
thủy, nghĩa tình.
Kỹ năng 3: Xác định luận điểm rõ ràng, xây dựng bố cục chặt chẽ.
a. Xác định luận điểm:
Từ yêu cầu nội dung của đề: Tâm sự sâu kín của Nguyễn Du trong bài thơ
“Ánh trăng” Đây là giá trị nội dung của bài thơ. Tâm sự sâu kín là những tâm sự
gì? Biểu hiện qua mạch cảm xúc và kết cấu của bài thơ, ta sẽ xác định được các luận
điểm và các luận cứ:
Luận điểm 1: - Kỉ niệm về những ngày làm bạn với ánh trăng.
Các luận cứ:
+ Thuở nhỏ gắn bó với những kỉ niệm: đồng, sông , bể...
+ Lớn lên, tham gia kháng chiến, vầng trăng trở thành ”tri kỉ”.
Luận điểm 2: - Nhân vật trữ tình đã quên vầng trăng.
Các luận cứ:
+ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống khi hòa bình lập lại.
+ Sự lãng quên của một lớp người.
+ Ánh điện, cửa gương đã làm cho con người quên đi
những năm tháng khó khăn nhưng nghĩa tình.
Luận điểm 3: - Niềm ân hận của tấc giả và ”tấm lòng” của ”vầng trăng”
Các luận cứ:
+ Niềm ân hận khôn nguôi của người khi nhận ra sự bạc bẽo, vô
tình của mình.
15


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

+ Tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy không dừng lại ở đó. Điều quan trọng là
phải tự mình bước qua những lỗi lầm của chính mình.
+ Tấm lòng của vầng trăng, của nhân dân ta quả rộng lớn, luôn bao dung,
tha thứ cho mọi sai lầm.
Sau khi xây dựng và triển khai được luận điểm, giáo viên hướng dẫn học sinh
lập dàn ý theo bố cục ba phần. Giáo viên yêu cầu HS nắm được dàn ý bài nghị luận
về một bài thơ, đoạn thơ. Qua phần xây dựng và triển khai luận điểm, giáo viên yêu
cầu HS bổ sung thêm phần mở bài và thân bài là có một bố cục đầy đủ. Sau khi xác
định rõ bố cục, nên hướng dẫn HS viết triển khai luận điểm theo cách diễn dịch hoặc
qui nạp đều đảm bảo.
Kỹ năng 4: Phát hiện các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh đặc sắc.
Trong bài thơ Ánh trăng ta cần chú ý khai thác, phân tích:
- Hình ảnh Vầng trăng trong bài thơ là hình tượng đa nghĩa: là hình ảnh thiên
nhiên; là quá khứ nghĩa tình; biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị, vĩnh hằng của đời sống
.
- Chú ý đến từ ngữ và hình ảnh đối lập: phòng buyn-dinh tối om với vầng
trăng tròn; sự xuất hiện thình lình và đột ngột ; im phăng phắc với cái giật mình”.
Các từ ngữ : ngỡ..., vội, bật, tung. ( tính từ, động từ nhanh, mạnh).
- Đặc sắc ở sử dụng lớp từ láy rất có giá trị biểu cảm: thình lình, đột ngột,
rưng rưng, vành vạnh, phăng phắc.
- Đặc sắc ở nghệ thuật: ẩn dụ ( vầng trăng, mặt nhìn mặt; nhân hóa ( hình ảnh
vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể và cái im lặng nhưng khiến con người
phải giậ mình nhận ra mình là kẻ bội bạc..)
Các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh này phải vận dụng đúng lúc đúng chỗ trong quá
trình triển khai luận điểm. Không được đưa ra một cách tùy tiện sẽ làm cho bài văn
nghiêng sang khai thác kiến thức tiếng Việt.
Kỹ năng 5: Đưa lời nhận xét, đánh giá, bày tỏ ý kiến quan điểm.
Bài thơ Ánh trăng là bài thơ hay thể hiện tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy. Khi
viết bài văn, học sinh phải đưa ra được ý kiến đánh giá của mình trước tác phẩm,
trước hình ảnh thơ thì bài văn sẽ thêm sâu sắc và thể hiện được suy nghĩ của mình.
Chẳng hạn : Đánh giá chung về bài thơ ở phần mở bài (Bài thơ Ánh trăng là bài thơ
được bạn đọc đón nhận và đánh giá cao về nội dung và nghệ thuật.) hay (Bài thơ
hấp dẫn người đọc bằng vẻ đẹp dung dị của một câu chuyện, một tâm tình riêng.
Nhà thơ vừa kể chuyện, vừa bộc lộ cảm xúc một cách tự nhiên mà chân thành).
Hoặc (Những câu thơ năm chữ đều đặn cũng góp phần làm nên giọng điệu tâm tình,
sâu lắng của bài thơ. Ở ba khổ thơ đầu, nhịp thơ trôi chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo
16


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

lời kể. Khổ thứ tư, giọng thơ chợt cất cao trước một bước ngoặt mang kịch tính.
Giọng thơ trở nên ngân nga thiết tha cảm xúc ở khổ thứ năm và cuối cùng trầm lắng
suy tư ở khổ cuối.
Kỹ năng 6: Liên hệ.
Như trên đã trình bày, liên hệ là một thao tác không thể thiếu ở bất cứ một
kiểu văn nào, đặc biệt là nghị luận văn chương. Ở bài thơ này, giáo viên yêu cầu học
sinh biết liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài, trích đoạn thơ, đoạn văn liên quan đến
nội dung của bài thơ. Ta có thể liên hệ hình ảnh vầng trăng trong một vài bài thơ
của Bác Hồ (Cảnh khuya, Rằm tháng giêng), liên hệ đến bài Bức tranh của
Nguyễn Minh Châu. Đặc biệt là rút ra bài học cho bản thân, bản thân học sinh
không chỉ hiểu được bài học từ tác phẩm mà còn làm cho bài văn tăng tính triết lí
sâu sắc về bài học cuộc sống: Bài thơ Ánh trăng gợi nhắc, củng cố cho con người
thái độ sống ân nghĩa thủy chung với quá khứu. Đó cũng là đạo lí Uống nước nhớ
nguồn của dân tộc.
Điều lưu ý sau khi ta hiểu và xác định được các kỹ năng làm bài này rồi, việc
làm văn nghị luận văn học cần được tổ chức, triển khai các kỹ năng này một cách
linh hoạt trong bố cục bài văn. Có như vậy việc làm văn trở nên dễ dàng và hiệu quả
được nâng lên rõ rệt.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Từ những hạn chế của học sinh khi làm bài văn nghị luận văn học, bản thân tôi đã
nghiên cứu tìm tòi “Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho
học sinh lớp 9 - THCS”. Trong 2 năm học 2014 – 2015 và 2015 - 2016, bản thân
kiên trì áp dụng vào giảng dạy ở khối lớp 9 và đã thu được kết khả quan, chất lượng
bài kiểm tra đạt được, cụ thể như sau:
- Học kỳ II: năm học 2014 – 2015
Kết quả các bài
kiểm tra
Bài viết số 7
( Tiết 134, 135)
Kiểm tra truyện hiện
đại (Tiết 156)
Kiểm tra học kì

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu , kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

4/36

11.1

12/36

33.3

17/36

47.2

3/36

8.3

4/36

11.1

14/36

38.9

15/36

41.7

3/36

8.3

5

23.9

17/36

47.2

12/36

33.3

2/36

5.6

- Học kỳ II – năm học: 2015 - 2016
17


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

Kết quả các bài
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu , kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
kiểm tra
Bài viết số 7
6/39 15.4 23/39 59
9/39 23.1 1/39
2.6
( Tiết 134, 135)
Kiểm tra truyện
8/39 20.5 23/39 59
8/39 20.5
0
0
hiện đại (Tiết 156)
So sánh với năm học trước cho thấy tỷ lệ các bài đạt điểm khá giỏi tăng, điểm yếu
và kém giảm hẳn. Điều đó chứng tỏ chất lượng của học sinh đã được nâng lên rõ rệt.
Qua theo dõi, đánh giá kết quả đạt được so sánh với yêu cầu cần đạt của bài văn nghị
luận văn học, tôi thấy chất lượng bài làm của học sinh có nhiều chuyển biến tích cực.
Cụ thể là:
- Đa số học sinh thấy rất tự tin trong việc làm văn bởi các em hiểu rõ về cách
làm, không còn lung túng như trước nữa.
- Học sinh đã có kỹ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học và không
bị sai kiểu loại…
- Các em đã xây dựng các luận điểm, biết triển khai luận điểm, xây dựng bố
cục tương đối chặt chẽ, hợp lý.
- Học sinh đã vận dụng được các kỹ năng như: liên hệ, phát hiện, lựa chọn các
chi tiết hình ảnh tiêu biểu vận dụng vào bài văn.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận:
Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân
môn tập làm văn nói chung. Học văn nghị luận đã khó, để làm được một bài văn
nghị luận hay lại càng khó hơn. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân
tích, đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, về văn học, về lịch
sử......... và đặc biệt là kỹ năng trình bày thể hiện lập luận chặt chẽ, trình bày những
lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức thuyết phục. Vì vậy việc rèn luyện các
kỹ năng để làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng là vấn đề
đòi hỏi người thầy phải quan tâm rèn luyện cho học sinh. Giúp học sinh rèn luyện và
sử dụng các kỹ năng làm văn nghị luận văn học vào quá trình làm văn đòi hỏi giáo
viên phải hết sức nhiệt tình, dành thời gian nhiều hơn cho các em thực hành các kỹ
năng sau đây:
- Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề bài:
- Hiểu rõ hoàn cảnh ra đời tác phẩm
18


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

- Xác định luận điểm rõ ràng, xây dựng bố cục chặt chẽ.
- Lựa chọn các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu.
- Đưa lời nhận xét, đánh giá, bày tỏ ý kiến quan điểm.
- Kỹ năng liên hệ.
Để làm tốt bài văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng, giáo viên
phải trang bị cho học sinh vốn kiến thức cơ bản đề học sinh nắm chắc đặc điểm của
văn nghị luận và nghị luận văn chương, cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn
học (thơ, truyện). hơn thế nữa học sinh tăng cường đọc thêm các tài liệu tham khảo,
tích lũy bổ sung thêm kiến thức phổ thông và kiến thức xã hội, thường xuyên rèn
luyện các kỹ năng viết bài và quan trọng hơn là biết rút kinh nghiệm từ những bài
văn trước để những bài văn sau đạt kết quả cao hơn.
3.2. Kiến nghị:
Để nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường, bản thân tôi xin đề
nghị Phòng Giáo dục và Đào tạo triển khai, phổ biến những bản sáng kiến kinh
nghiệm đã được áp dụng thành công ở các đơn vị trường để tạo điều kiện cho giáo
viên tham khảo, học tập kinh nghiệm và áp dụng trong công tác giảng dạy.
Trên đây là một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học
sinh lớp 9 bản thân rút ra trong quá trình giảng dạy. Những kết quả đạt được khi bản
thân áp dụng những biện pháp này đã đóng góp đáng kể nâng cao chất lượng học tập
của học sinh. Tuy vậy trong nội dung chắc chắn còn có những vấn đề giải quyết
chưa được thoả đáng và không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô
và đồng nghiệp góp ý, giúp bản thân tôi bổ sung để áp dụng mang lại hiệu quả cao
hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày 10 tháng 4 năm 2016
Người thực hiện

Nguyễn Thanh Huyền

19


Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 – THCS”

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, 9.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 8, 9.
3. Rèn kỹ năng viết đoạn văn- NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Một số kiến thức - kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ Văn 9 – NXB GD.
5. Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt (tác giả:
Trần Đình Chung).

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×