Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm ổng nhựa

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một khoảng thời gian để sinh viên bắt đầu làm quen với tác
phong làm việc ở môi trường thực tế. Đối với sinh viên, đây là một giai đoạn chuyển giao
giữa những kiến thức được đào tạo tại nhà trường và thực tế ngoài doanh nghiệp, để có
thể áp dụng những gì đã học và tìm kiếm cho mình một công việc phù hợp với năng lực.
Còn đối với các doanh nghiệp, đây có thể được xem là giai đoạn mà các doanh nghiệp có
nhu cầu tuyển chọn nhân sự cho công ty trong tương lai có thể xem xét, đánh giá, tuyển
chọn những sinh viên phù hợp với nhu cầu phát triển của công ty.
Qua quá trình tìm hiểu, em đã được nhận vào thực tập tại Công ty cổ phần nhựa Đà
Nẵng trong khoảng thời gian từ ngày 20/10/2014 đến ngày 30/11/2014, với đề tài: “Hoàn
thiện công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm ổng nhựa tại công ty cổ phần Nhựa
Đà Nẵng”
Trong khoảng thời gian thực tập tại công ty, em đã có cơ hội được tiếp xúc với môi
trường làm việc trong thực tế, bổ sung thêm các kiến thức khi học trên trường, được gặp
gỡ và học hỏi kinh nghiệm quản lý, làm việc của các cán bộ quản lý, các nhân viên trong
công ty, đã phần nào giúp em có được kinh nghiệm làm việc cho bản thân sau này.

Sau một thời gian thực tập tại công ty cổ phẩn nhựa Đà Nẵng, em đã hoàn thành
báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô Mai Thị
Hồng Nhung – Giảng viên hướng dẫn thực tập và anh Nguyễn Hữu Tuyến trong phòng
kinh doanh của công ty đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ dẫn em trong suốt quá trình
thực tập tại công ty, giúp em hoàn thành tốt báo cáo trong kì thực tập này.
Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 28 tháng 11 năm 2014
Sinh viên thực hiện

Lê Thị Tuyết Ngân

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Diễn giải

HĐQT

Hội đồng quản trị

ĐHĐCĐ

Đại hội đồng cổ đông

BKS

Ban kiểm soát

CBCNV

Cán bộ công nhân viên


TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

DANH MỤC HÌNH ẢNH

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

MỤC LỤC

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, vấn đề mà doanh nghiệp đối mặt không những khan hiếm hàng hoá, hay
làm thế nào để thỏa mãn nhu cầu khách hàng, hay tăng doanh số bán, hay thu được nhiều
lợi nhuận mà còn làm thế nào để quản trị tốt được hệ thống kênh phân phối sản phẩm là
một trong những vẫn vấn đề nan giải và cấp bách. Hệ thống kênh phân phối là cầu nối
giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, nếu thiếu hệ thống kênh phân phối thì bất kỳ công ty
nào cũng khó có thể tồn tại và phát triển vì không phải lúc nào doanh nghiệp cũng đưa được
sản phẩm đến được với người tiêu dùng cuối cùng. Và công tác quản trị kênh phân phối là
một trong những công việc quan trọng trong bộ phận Marketing, sẽ giúp doanh nghiệp tạo
lập và duy trì được lợi thế canh tranh dài hạn trên thị trường. Vì vậy việc quản trị kênh phân
phối hiệu quả là vấn đề luôn đòi hỏi sự nổ lực nghiên cứu và tức thời đã trở thành cấp bách
dành cho các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam trong xu thế hội nhập như hiện nay.
Đó là lý do em thực hiện đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối
sản phẩm ổng nhựa tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng”.
1. Đối tượng nghiên cứu
“Hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối sản phẩm ống nhựa tại công ty nhựa Đà
Nẵng”
2. Phạm vi nghiên cứu
-

Quan sát và tìm hiểu thực tế tại công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng.

-

Nghiên cứu số liệu từ năm 2010- 2014

-

Các tài liệu có liên quan đến đề tài này ( sách, báo, website, …)

3. Phương pháp nghiên cứu
-

Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp: sách, bài báo, các nghiên cứu thực chứng, nguồn

dữ liệu nội bộ trên website công ty http://www.danaplast.vn/
4. Bố cục đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tình hình hoạt động phân phối của sản phẩm ống nhựa tại công ty nhựa
Đà Nẵng.
Chương 3: Một số giải pháp quản trị kênh phân phối sản phẩm ống nhựa tại công
ty cổ phần nhựa Đà Nẵng.

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan về phân phối
1.1.1.

Khái niệm phân phối
Phân phối là quá trình kinh tế và những điều kiện tổ chức liên quan đến việc điều

hành và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
Phân phối bao gồm toàn bộ quá trình hoạt động theo không gian, thời gian nhằm
đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Phân phối trong Marketing gồm các yếu tố cấu thành sau: người cung cấp, người
trung gian, hệ thống kho tàng, bến bãi, phương tiện vận tải, cửa hàng, hệ thống thông tin
thị trường…
1.1.2.

Vai trò phân phối
Góp phần trong việc thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu: Việc thỏa mãn nhu

cầu thị trường là bản chất của hoạt động Marketing. Muốn đạt được điều này đòi hỏi có sự
đóng góp của nhiều yếu tố: sản phẩm phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, chất
lượng sản phẩm tốt, giá cả hợp lý, thông tin rộng rãi cho người tiêu dùng biết về sản phẩm
nhưng điều quan trọng là sản phẩm phải sẵn sàng có mặt trên thị trường, đúng lúc, đúng
nơi, để đi vào tiêu dùng. Đây là phần đóng góp của hoạt động phân phối.
Hoạt động phân phối còn giúp công ty liên kết hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty với khách hàng, triển khai tiếp các hoạt động khác của Marketing như giới thiệu
sản phẩm mới, khuyến mãi, chính sách giá cả, dịch vụ hậu mãi,… nhằm thỏa mãn nhiều
nhu cầu thị trường.
Qua hoạt động phân phối, việc trao đổi thông tin từ người tiêu dùng đến nhà sản
xuất giúp các nhà sản xuất kịp thời điều chỉnh các chương trình Marketing thích ứng với
thị trường.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt phân phối trở thành công cụ hữu hiệu giúp
công ty đứng vững trên thương trường. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự bùng
nổ thông tin, các công cụ khác của Marketing- Mix như sản phẩm, quảng cáo, chương
trình khuyến mãi,… có thể dễ bị các đối thủ bắt chước hoặc mô phỏng, thế nhưng việc
xây dựng và giữ vững một hệ thống phân phối mạnh là một thách thức không dễ gì thực
hiện một sớm một chiều. Trong trường hợp này các công ty tập trung nổ lưc vào hoạt
động phân phối như một công cụ cạnh tranh chính nhằm tạo ra một lợi thế lâu dài cho
công ty.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 1


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Mặt khác khi có sự thay đổi từ các thành tố Marketing- Mix đòi hỏi chính sách
phân phối phải thay đổi theo cho thích hợp chẳng hạn nếu công ty quyết định tung một
sản phẩm mới ra thị trường, chính sách định giá cho sản phẩm mới, một chương trình
thông tin về sản phẩm mới phải được thực hiện. Như vậy, mục tiêu và chính sách phân
phối cũng phải thay đổi theo cho thích hợp.
1.1.3.

Chức năng phân phối
• Thông tin, giới thiệu
Quá trình phân phối thực hiện các chức năng thông tin, thu thập thông tin về khách

hàng tiềm năng và khách hàng hiện có, thông tin về đối thủ cạnh tranh.
• Kích thích tiêu thụ
Truyền bá các thông tin về hàng hóa và các chương trình khuyến khích tiêu thụ
khác đến với khách hàng và trung gian.
• Tiếp xúc, thiết lập mối quan hệ
Công ty phải thực hiện các quan hệ tiếp xúc để xác định ai là người mua hàng ở các
giai đoạn khác nhau trong kênh.
• Thích ứng, hoàn thiện sản phẩm
Các thành viên của kênh thực hiện các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả của quá
trình trao đổi, tăng tính thích ứng và hoàn thiện sản phẩm thông qua các hoạt động như:
phân loại hàng hóa, đóng gói, cung cấp các dịch vụ bảo hành, sửa chữa, lắp ráp, tư vấn.
• Thương lượng
Thông qua việc thực hiện các thỏa thuận, đàm phán liên quan đến giá cả và các
điều kiện bán hàng, thực hiện việc chuyển giao sở hữu hàng hóa và dịch vụ.
• Lưu thông hàng hóa
Thông qua hoạt động vận chuyển, bảo quản và lưu kho hàng hóa làm cầu nối giữa
sản xuất và tiêu dùng. Điều hòa cung cầu giữa các khu vực thị trường và giữa các thời
điểm tiêu dùng khác nhau.
• Tài chính, trang trải chi phí
Thông qua hoạt động bán hàng thu tiền, tìm kiếm các nguồn tài chính trang trải cho
các hoạt động sản xuất và hoạt động của kênh.
• Chấp nhận rủi ro
Khi mua sản phẩm từ các nhà sản xuất các trung gian phải chấp nhận nhũng rủi ro
có thể gặp do một số nguyên nhân khách quan hay chủ quan như: thay đổi thị hiếu của
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 2


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

người tiêu dùng, sản phẩm bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển lưu kho, dự trữ hoặc
những bất trắc khi cung cấp tín dụng cho khách hàng hay rủi ro về tình hình kinh tế.
1.2. Tổng quan về kênh phân phối
1.1.4.

Khái niệm kênh phân phối
Theo quan điểm Marketing, kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và cá

nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản
xuất tới người tiêu dùng.
Nói cách khác, đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động
làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng cho người tiêu dùng hoặc người tiêu dùng công
nghiệp, để họ có thể mua và sử dụng. Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hóa từ
người sản xuất qua hoặc không qua các trung gian thương mại để tới người mua cuối
cùng. Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối dược gọi là các thành viên quan
trọng trong nhiều kênh phân phối.
1.1.5.

Vai trò kênh phân phối
Kênh phân phối đóng vai trò rất quan trọng nó làm nhiệm vụ đưa sản phẩm từ nơi

sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng sao cho thoả mãn được nhu cầu và mong
muốn của khách hàng về số lượng và chủng loại sản phẩm, thời gian và nơi chốn được
cung cấp, chất lượng của sản phẩm và mức giá mà khách hàng có thể chấp nhận được.
Kênh phân phối đã trở thành công cụ cạnh tranh quan trọng trong dài hạn khi nó
trở thành một phần tài sản của công ty. Nó giúp giảm bớt những khó khăn khi đưa sản
phẩm vào thị trường nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp và góp phần nâng cao giá
trị của doanh nghiệp.
Kênh phân phối tăng cường khả năng liên kết và sự hợp tác giữa các cá nhân và tổ
chức hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối tiêu thụ trong một mục đích chung,
cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng đồng thời thoả mãn
những mục tiêu riêng của mỗi bên.
1.1.6.

Chức năng kênh phân phối
Chức năng cơ bản chung nhất của tất cả các kênh phân phối là giúp doanh nghiệp

đưa ra sản phẩm đến người tiêu dùng với đúng mức giá họ có thể mua, đúng chủng loại họ
cần, đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu. Kênh phân phối là con đường mà hàng
hóa được lưu thông từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân
phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

người sản xuất với những người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ. Tất cả các thành viên
kênh phải thực hiện các chức năng cụ thể chủ yếu sau:
-

Nghiên cứu thị trường: nhằm thu thập thông tin cần thiết lập chiến lược phân phối.

-

Xúc tiến khuyếch trương cho những sản phẩm họ bán; soạn thảo và truyền bá

những thông tin về hàng hóa.
-

Thương lượng: để thỏa thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh. Thỏa

thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác.
-

Phân phối vật chất: vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hóa.

-

Thiết lập mối quan hệ: tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm

năng.
-

Hoàn thiện hàng hóa: làm cho hàng hóa đáp ứng được những yêu cầu của người

mua, nghĩa là thực hiện một phần công việc của nhà sản xuất.
-

Tài trợ: cơ chế tài chính trợ giúp cho các thành viên kênh thanh toán

-

San sẻ rủi ro liên quan đến quá trình phân phối.

1.3.
1.1.7.

Các loại kênh phân phối
Kênh cấp không
Kênh phân phối trực tiếp là hình thức phân phối mà ở đó người sản xuất bán sản

phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng không thông qua các trung gian phân phối.
Hình thức phân phối này được sử dụng trong trường hợp các nhóm tiêu dùng có
đơn đặt hàng hoặc tiêu dùng có tính chất nội bô, phạm vi mua hàng nhỏ hẹp.
Ưu điểm của mạng lưới này đẩy nhanh tốc độ lưu thông sản phẩm, nâng cao được
sự chủ động của doanh nghiệp trong các quyết định phân phối và thu được lợi nhuận cao.
Nhưng nó bị hạn chế vì quá trình quản lý khá phức tạp, nguồn vốn và nguồn nhân lực của
Công ty bị phân tán .
Người sản xuất

Người tiêu dùng
Hình 1.1. Kênh phân phối cấp 0

1.1.8.

Kênh cấp một
Với hình thức phân phối này thì Công ty bán hàng hoá của mình cho người bán lẻ

và người bán lẻ bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng. Hình thức phân phối này được áp
dụng trong trường hợp phân phối các mặt hàng có tính chất phổ biến nhiều như bột giặt,
nước giải khác...
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 4


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Ưu điểm của loại hình này là giải phóng cho nhà sản xuất chức năng lưu thông,
nâng cao trình độ chuyên môn hoá và năng lực sản xuất.
Người sản xuất

Người bán lẻ

Người tiêu dùng

Hình 1.2. Kênh phân phối cấp 1
1.1.9.

Kênh cấp hai
Đây là hình thức phân phối được áp dụng rất phổ biến cho các xí nghiệp sản xuất ở

một nơi nhất định nhưng cung cấp sản phẩm ở nhiều nơi. Loại kênh phân phối này có sự
dịch chuyển hàng hoá hơn hai loại trên, nó còn có thể có nhiều trung gian khác tham gia,
hiện nay nó được áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp. Ưu điểm của loại kênh phân phối
này là tạo điều kiện cho nhà sản xuất và các trung gian phân phối nâng cao khả năng
chuyên môn hoá. Do đó nó tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm .
Tuy nhiên nó bị hạn chế do phải qua nhiều trung gian nên việc quản lý và điều
hành các trung gian là rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có trình độ
và kinh nghiệm cao.
Người sản
xuất

Người bán
buôn

Người
bán lẻ

Người tiêu
dùng

Hình 1.3 . Kênh phân phối cấp 2
1.3.1. Kênh cấp ba
Trong một số các trường hợp, các nhà sản xuất có tính thời vụ thường sử dụng đại
lý hoặc môi giới nhằm thay thế cho tổ chức tiêu thụ của mình với tư cách trung gian bán
buôn hàng hoá. Kiểu kênh phân phối dạng đầy đủ này đáp ứng tốt nhất nhu cầu phân công
lao động xã hội cả giữa sản xuất và lưu thông và trong nội bộ lưu thông, cho phép xã hội
hoá tối đa dạng hoạt động thương mại trên mọi vị trí thị trường bán lẻ và địa điểm phân
bố dân cư.
Người sản xuất
2. Ư

Đại lý

Người bán lẻ

Người tiêu
dùng

Hình 1.4. Kênh phân phối cấp 3

1.4.

Hoạt động của kênh phân phối

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 5


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Kênh phân phối hoạt động thông qua các dòng vận động ( dòng chảy). Các dòng
vận động này kết nối các thành viên của kênh lại với nhau.
Các dòng vận động chủ yếu là:
-

Dòng chuyển quyền sở hữu: Mô tả việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm được

chuyển từ thành viên này sang thành viên khác trong kênh. Mỗi hành vi mua bán xảy ra
trong kênh là một lần hàng hoá được chuyển quyền sở hữu sản phẩm và các điều kiện mua
bán.
-

Dòng đàm phán: Giữa các thành viên trong kênh tác động qua lại lẫn nhau để phân

chia các công việc phân phối cũng như trách nhiệm và quyền lợi của mỗi thành viên.
-

Dòng vận động vật chất của sản phẩm: Đây là sự chuyển hàng hoá vật phẩm thật

sự trong không gian và thời gian từ địa điểm sản xuất đến địa điểm tiêu dùng qua hệ thống
kho tàng và phương tiện vận tải. Tham gia vào dòng vận động vật chất có các công ty vận
tải, các công ty kho vận. Đây là dòng chảy chiếm tỷ trọng chi phí lớn nhất trong tổng chi
phí phân phối.
-

Dòng thanh toán: Mô tả sự vận động của tiền tệ và các chứng từ thanh toán ngược

từ người tiêu dùng qua các trung gian thương mại trở lại người sản xuất hoặc người nhập
khẩu. Mỗi hệ thống kênh phân phối có một cơ chế và phương thức thanh toán nhất định.
Dòng thanh toán trong hệ thống kênh phân phối hiện đại có đặc điểm là tách rời khỏi dòng
chuyển quyền sở hữu và dòng hàng hoá vật chất. Tình trạng nợ nần và thanh toán gối đầu
là hiện tượng phổ biến trong các kênh phân phối.
-

Dòng thông tin: Giữa các thành viên trong kênh phải trao đổi thông tin cho nhau,

có thể là trao đổi giữa hai thành viên kế cận hoặc không kế cận. Các thông tin trao đổi là
khối lượng, chất lượng, giá sản phẩm, thời gian và địa điểm giao nhận hàng, thanh toán…
Dòng thông tin từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng đều là dòng thông tin hai
chiều. Dòng thông tin hoạt động trước, trong và sau khi thực hiện các dòng vận động
khác. Các tổ chức bổ trợ như công ty vận tải cũng tham gia vào dòng vận động này.
-

Dòng xúc tiến: Mô tả những hoạt động xúc tiến hỗn hợp hỗ trợ lẫn nhau giữa các

thành viên trong kênh. Thông thường đây là sự hỗ trợ về các phương tiễnúc tiến của người
sản xuất lớn cho tất cá các thành viên trong kênh như: người sản xuất thực hiện hoạt động
quảng cáo, khuyến mại, tuyên truyền…Trong dòng chảy này có sự tham gia của các đại lý
quảng cáo. Họ cung cấp và thực hiện các dịch vụ quảng cáo. Người sản xuất và các đại lý
quảng cáo sẽ cùng làm việc để phát triển các chiến lược xúc tiến có hiệu quả trong kênh.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 6


Chuyên đề tốt nghiệp
-

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Dòng đặt hàng: Đây chình là phương thức và cơ chế thu thập, tập hợp và xử lý đơn

đặt hàng giữa các thành viên của kênh phân phối. Những nhu cầu của người tiêu dùng
cuối cùng hoặc người mua phải được chuyển trở lại người sản xuất một cách kịp thời để
được đáp ứng. Người sản xuất làm các quyết định phân phối hằng ngày dựa theo các đơn
đặt hàng nhận được.
-

Dòng chia sẻ rủi ro: Trong quá trình phân phối tiêu thụ sản phẩm chứa đựng nhiều

rủi ro bao gồm các rủi ro về thiệt hại vật chất trong vận chuyển và bảo quản dự trữ sản
phẩm, các rủi ro về tiêu thụ sản phẩm do nhu cầu thị trường thay đổi…Dòng chia sẻ rủi ro
chính là cơ chế phân chia trách nhiệm gánh vác những thiệt hại do rủi ro của từng thành
viên trong kênh.
-

Dòng tài chính: Đây chính là dòng tạo vốn và hỗ trợ vốn trong các kênh phân phối.

Trong quá trình lưu thông sản phẩm ở những cấp độ kênh nhất định, vào những thời điểm
nhất định, các thành viên kênh có thể có nhu cầu vốn rất lớn để thanh toán. Cơ chế tạo
vốn trong kênh có thể giúp cho họ có được nguồn vốn thanh toán dễ dàng, nhanh chóng.
-

Dòng thu hồi, tái sử dụng lại bao gói: Đây là dòng bắt buộc đối với các hệ thống

kênh phân phối của một số loại sản phẩm. Các doanh nghiệp sản xuất bắt buộc phải sử
dụng lại những bao gói dùng nhiều lần nhằm giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường.
Tất cả các dòng vận động và các chức năng trong kênh đều rất cần thiết. Song các
thành viên trong kênh đều có thể tham gia vào các dòng vận động ở những mức độ khác
nhau. Nghiên cứu các dòng vận động này cũng cung cấp cho doanh nghiệp những thông
tin cần thiết trong hoạt động quản lý kênh.
1.5.

Các thành viên tham gia kênh phân phối
1.5.1. Nhà sản xuất
Nhà sản xuất luôn được coi là người khởi nguồn của các kênh Marketing. Họ chính

là người cung cấp cho thị trường những sản phẩm và dịch vụ, họ hết sức phong phú và đa
dạng. Thông thường, những người sản xuất không có kinh nghiệm trong việc phân phối,
nếu có làm thì hiệu quả không cao. Chính vì thế cần xuất hiện trung gian. Vì vậy, các công
ty sản xuất thường có chi phí trung bình cao cho các công việc phân phối khi họ tự thực
hiện.
Nhà sản xuất có thể tự đưa ra thị trường sản phẩm của mình. Tuy nhiên, nếu thị
trường rộng lớn thì họ làm việc này không hiệu quả với chi phí cao hơn do:

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 7


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

- Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất không ở vị trí thuận lợi để phân phối sản phẩm
của họ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
- Không đủ nguồn nhân lực: chi phí cố định của việc thực hiện các chức năng phân
phối là tương đối cao.
- Không chuyên môn hóa và phân công lao động.
Chính vì vậy, bằng việc chuyển các công việc phân phối cho các thành viên khác
của kênh, người sản xuất có thể tiết kiệm được chi phí tương đối. Điều này cho phép họ
có thể đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn.
Với tư cách là thành viên kênh, nhà sản xuất có vai trò là người khởi nguồn của các
kênh phân phối, là người phải thiết kế và quản lý kênh phân phối để đảm bảo sản phẩm
của mình luôn sẵn sàng cho thị trường và đạt được các mục tiêu thị trường khác.
1.5.2. Nhà bán buôn
Các tổ chức kinh doanh độc lập vè sở hữu. Họ tham gia vào kênh Marketing với
chức năng mua, sở hữu hàng hóa, dự trữ và quản lý sản phẩm với số lượng lớn và bán lại
với khối lượng nhỏ hơn cho các khách hàng là các tổ chức kinh doanh khác nhau. Những
nhà bán buôn giữ chức năng quan trọng trong hệ thống phân phối và nhất là quá trình vận
chuyển, dự trữ, bảo quản và phân loại sản phẩm. Nhà bán buôn được chia thành 3 loại:
-

Người bán buôn sở hữu hàng hóa thực sự: các doanh nghiệp kinh doanh độc lập sở

hữu. Họ tham gia vào kênh phân phối với chức năng mua, sở hữu hàng hóa, dự trữ và
quản lý sản phẩm với khối lượng lớn và bán lại với số lượng nhỏ hơn các khách hàng là
những đơn vị kinh doanh khác.
-

Đại lý, môi giới và chủ bán buôn hưởng hoa hồng: những doanh nghiệp kinh doanh

độc lập, đảm bảo hoạt động phân phối sỉ, tham gia đàm phán nhưng không sở hữu hàng
hóa. Họ chỉ được nhận một khoản tiền hoa hồng hoặc lệ phí nhất định trên doanh số bán
ra.
-

Chi nhánh và đại diện bán của nhà sản xuất: các tổ chức của nhà sản xuất đặt tại

các khu vực thị trường với chức năng thay mặt nhà sản xuất bán sỉ các sản phẩm của họ.
Quyền sở hữu hàng hóa và điều hành hoạt động phân phối của họ đều do nhà sản xuất
đảm nhiệm.
1.5.3. Nhà bán lẻ

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 8


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Gồm các doanh nghiệp hay cá nhân bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cá
nhân hay hộ gia đình. Họ có chức năng phát hiện nhu cầu khách hàng, nhu cầu tiêu dùng
và truyền thông tin trở lại người sản xuất, thực hiện bán hàng, quảng cáo và trưng bày sản
phẩm, phân chia và sắp xếp hàng hóa thành những khối lượng phù hợp với người mua, dự
trữ hàng hóa sẵn sàng cung cấp cho người tiêu dùng và đặc biệt là cung cấp cho những
dịch vụ khách hàng.
1.5.4. Đại lý
Là các doanh nghiệp đọc lập đảm nhiệm tất cả hay phần lớn các công việc phân
phối ở việc bán buôn. Họ không sở hữu hàng hóa nhưng tham gia thực sự vào hoạt động
đàm phán, mua bán thay mặt cho các khách hàng của họ. Họ thường nhận thu nhập dưới
hình thức tiền hoa hồng trên doanh số bán hay khoản lệ phí nhất định. Đại lý có thể đại
diện cho một hoặc nhiều công ty khác nhưng không là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của
nhau.
1.5.5. Người môi giới
Nhu cầu thị trường và các quan hệ kinh tế của thị trường biến động thường xuyên
và phức tạp, người bán buôn và người bán lẻ không hẳn lúc nào cũng nhận biết và nắm
bắt được hết nhu cầu thị trường và sự biến động của nó. Môi giới ra đời đẻ tiếp nối nhu
cầu thị trường với người bán buôn và cụ thể hơn là người sản xuất, giúp cho kênh lưu
thông hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng được thuận lợi.
1.5.6. Người tiêu dùng cuối cùng
Người tiêu dùng cuối cùng bao gồm các cá nhân và người tiêu dùng công nghiệp là
điểm của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đang hướng đến. Họ tạo nên thị trường
mục tiêu của công ty, họ có quyền lựa chọn công ty, và là người ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh số của các thành viên trong kênh cũng như nhà sản xuất.
Người tiêu dùng cuối cùng có vai trò quan trọng trong kênh phân phối vì họ có
quyền lựa chọn kênh phân phối khác nhau để cung cấp hàng hóa cho họ. Tập hợp người
tiêu dùng và hành vi mua của họ thay đổi kéo theo sự thay đổi của kênh phân phối, thậm
chí trong một số trường hợp, họ sẽ đóng vai trò là người lãnh đạo kênh.
1.5.7. Các tổ chức bổ trợ
Các tổ chức tài chính, đại lý quảng cáo, tham gia phụ trợ tỏng cấu trúc kênh phân
phối của công ty với mức độ chưa cao, chưa thể hiện được tính chuyên môn.

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 9


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Các hệ thống kênh phân phối càng phát triển ở trình độ cao, các hỗ trợ hàng hóa
càng đa dạng, phong phú. Các tổ chức hỗ trợ chính: các doanh nghiệp vận tải, các doanh
nghiệp kinh doanh kho, các công ty tài chính, các doanh nghiệp lắp ráp, các doanh nghiệp
chuyên trưng bày hàng hóa.
Các tổ chức hỗ trợ không chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của các thành viên
chính thức cũng như kết quả cuối cùng của kênh phân phối. Tuy nhiên, họ góp phần quan
trọng làm cho hệ thống kênh phân phối hoạt động thông suốt và tăng hiệu quả hoạt động
của kênh.
1.6.

Quản trị kênh phân phối và hoạt động của quản trị kênh phân phối
1.6.1. Khái niệm quản trị kênh phân phối
Quản trị kênh phân phối là một trong những chiến lược chính trong hoạt động quản

trị Marketing trong các doanh nghiệp thương mại.
Quản trị kênh phân phối là toàn bộ các công việc như hoạch định, triển khai, kiểm
tra và điều hành các dòng chảy trong kênh và sự liên kết giữa các thành viên trong kênh
nhằm thực hiện các mục tiêu phân phối của doanh nghiệp.
Quản trị kênh là quản trị các kênh phân phối đã có và đang hoạt động nghĩa là cấu
trúc kênh đã được thiết kế và tất cả các thành viên trong kênh đã được tuyển chọn.
1.6.2. Hoạt động của quản trị kênh phân phối
1.6.2.1. Tuyển chọn thành viên của kênh phân phối
Để xây dựng cấu trúc kênh phân phối phù hợp, tăng khả năng cạnh tranh, công ty
cần đánh giá các trung gian về thâm niên trong nghề, những mong muốn của họ về mặt
hàng họ muốn bán, mức lợi nhuận, tỉ lệ chiết khấu,… khả năng chi trả, tính hợp tác và coi
trọng uy tín trong kinh doanh. Việc tuyển chọn các thành viên trong kênh phân phối rất
quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động của kênh. Do đó, việc tuyển chọn các
thành viên trong kênh là một việc làm rất cần thiết, phải được cân nhắc cẩn thận và kĩ
càng. Sẽ có rất nhiều thông tin khác nhau giúp cho người quản lý kênh tìm ra các thành
viên xứng đáng phù hợp. Những nguồn thông tin quan trọng nhất bao gồm:
- Quảng cáo: phương pháp tìm kiếm các trung gian tiềm năng. Bởi vì, các loại
quảng cáo trên tạp chí thương mại, truyền hình… có thể đưa ra một số lượng lớn về các
thành viên trong kênh tiềm năng để lựa chọn.
- Thông qua người bán lại: nhiều doanh nghiệp tìm thông tin các thành viên tiềm
năng của kênh thông qua các điều tra trực tiếp từ các trung gian có buôn bán dòng sản
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 10


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

phẩm của doanh nghiệp. Đối với một số doanh nghiệp sản xuất đây là một nguồn thông
tin chính về các thành viên tiềm năng.
- Lực lượng bán bên ngoài: một phần quan trọng để tìm kiếm các thành viên trong
kênh. Người bán có vị trí tốt nhất đó biết các thành viên tiềm năng của kênh trong vùng
của chính doanh nghiệp hơn bất kỳ ai trong hãng. Họ có thể thu nhận thông tin về các
trung gian có giá trị. Người bán cũng có thể có các thành viên triển vọng thật sự được sắp
xếp ưu tiên nếu công ty quyết định rằng các thành viên hiện tại của nó ở vùng lãnh thổ đó
phải được thay đổi hoặc bổ sung.
- Khách hàng của trung gian: một nguồn thông tin giúp các nhà sản xuất thấy rằng
nhiều khách hàng rất nhiệt tình đòng góp ý kiến chân thành về các trung gian.
- Từ nguồn thông tin khác: người sản xuất có thể sử dụng một số nguồn thông tin
khác để tìm kiếm các trung gian tiềm năng trong kênh như:
o Phòng thương mại và công nghiệp
o Ngân hàng
o Các nhà buôn bán bất động sản địa phương
o Các nhà tư vấn độc lập
1.6.2.2. Khuyến khích các thành viên của kênh phân phối
Các thành viên kênh khi tham gia vào quá trình phân phối, họ cũng có những nhu
cầu và mong muốn nhất định. Để họ hoạt động có hiệu quả, cần khuyến khích và động
viên họ một cách thường xuyên.
Muốn các chương trình động viên, khuyến khích đạt hiệu quả cao, trước hết, doanh
nghiệp phải hiểu nhu cầu và mong muốn của các thành viên trong kênh (những cá nhân/
tổ chức kinh doanh độc lập có sức mạnh riêng, có mục tiêu riêng và chiến lược kinh
doanh riêng và có thể có những quan điểm kinh doanh khác với nhà sản xuất). Do đó, các
thành viên kênh muốn được hưởng các chương trình và chế độ khác nhau, thích ứng với
nhu cầu, mong muốn của họ.
Chương trình động viên, khuyến khích thành viên kênh hướng tới việc tạo ra mối
liên kết chặt chẽ và lâu dài trong kênh. Chúng có thể là chương trình xúc tiến bán hàng
hướng tới các trung gian, bao gồm việc cung cấp và đảm bảo lợi ích vật chất lâu dài và ở
mức cao cho các thành viên kênh. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng áp dụng chương
trình động viên mang tính khích lệ tinh thần như mời trung gian tham gia chương trình, sự

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 11


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

kiện của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp cũng luôn tìm cách có mặt trong các sự
kiện (nếu có) của trung gian như khai trương, giới thiệu của hàng và các dịp đặc biệt khác.
1.6.2.3. Đánh giá các thành viên trong kênh phân phối
Hoạt động bán hàng của các thành viên
Hoạt động bán hàng là tiêu chuẩn quan trọng nhất hay được dùng nhất để đánh giá
hoạt động của các thành viên trong kênh thực tế. Tuy nhiên, để có dữ liệu và lực lượng
bán hàng phụ thuộc lớn mực độ điều khiển các thành viên của họ. Hoạt động bán hàng
được đánh giá theo ba mức độ so sánh như sau:
- Lực lượng hiện tại của các thành viên so với lực lượng bán hàng trong quá khứ.
- Lượng bán hàng của từng thành viên so với chỉ tiêu đặt ra.
- So sánh bán hàng của một thành viên với tổng lượng bán hàng của tất cả các
thành viên trong kênh.
Mức tồn kho
Duy trì mực tồn kho hợp lý là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
hoạt động của các thành viên trong kênh. Nhà sản xuất muốn các thành viên trong kênh
thực hiện các yêu cầu dự trữ tồn kho đều đặn thể hiện cụ thể trong thỏa thuận ban đầu
giữa nhà sản xuất và các thành viên trong kênh. Một số thỏa thuận này nghiêm ngặt rõ
ràng trong hợp đồng phân phối giữa nhà sản xuất và các thành viên.
Thái độ của các thành viên
Thái độ tích cực của các thành viên kênh đối với nhà sản xuất và dòng sản phẩm
của nó cần được đánh giá đúng mức như các tiêu chuẩn khác. Tuy nhiên, trong thực tế thái
độ của các thành viên kênh thông thường không được đánh giá nếu hoạt động bán hàng
của các thành viên kênh bình thường.
Nếu hoạt động bán hangfcuar nhà phân phối tốt, nhà sản xuất có thể không xem xét
kỹ thái độ vì cho rằng quyền lợi và sự hợp tác ở mức độ chấp nhận được chỉ khi doanh số
của nhà phân phối thấp hơn nhiều so với con số mong đợi của nhà sản xuất mới xem xét
nhân tố thái độ.
1.7.

Các mâu thuẫn, xung đột của kênh phân phối
Các loại mâu thuẫn trong kênh

- Mâu thuẫn chiều dọc: tồn tại khi có mâu thuẫn giữa các cấp khác nhau trong kênh
phân phối

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 12


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

- Mâu thuẫn chiều ngang: mâu thuẫn nãy sinh giữa các thành viên cùng một cấp của
kênh phân phối
- Mâu thuẫn đa kênh: thường xảy ra khi người sản xuất thiết lập hai hay nhiều kênh
canh tranh với nhau trong việc bán hàng cho cùng một thị trường. Mâu thuẫn đa kênh có
thể trở nên gay gắt hoặc sẵn sàng bán với giá thấp hơn do mua với một số lượng lớn.
Một số mâu thuẫn trong kênh cũng tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh. Sự canh tranh
này có thể tốt cho cả kênh mà nếu không có nó kênh sẽ trở nên ù lì và thiếu cải tiến nhưng
đôi khi xung đột cũng làm hại kênh.
Nguyên nhân gây mâu thuẫn trong kênh
Nguyên nhân chủ yếu là sự xung khắc về mục đích chẳng hạn, khi người sản xuất
muốn gia tăng khối lượng bán để gia tăng thị phần một chính sách định giá thấp thì các
đại lý lại muốn có mức lợi nhuận cao. Đây là loại mâu thuẫn khó giải quyết.
Mâu thuẫn có thể phát sinh do vai trò và quyền hạn của các thành viên được xác
đih không rõ ràng, phạm vi lãnh thổ của thị trường và các điều kiện bán hàng tín dụng…
là những yếu tố gây nên mâu thuẫn.
Mâu thuẫn còn phát sinh do lợi ích của các trung gian phân phối phụ thuộc quá
nhiều vào người sản xuất. Những đại lý độc quyền thường chịu ảnh hưởng của những rủi
ro do những quyết định về mẫu mã, mặt hàng và giá cả của người sản xuất.
Giải quyết mâu thuẫn trong kênh
Những mâu thuẫn trong kênh thường gây trở ngại cho việc vận hành có hiệu quả
hoạt động phân phối sản phẩm của doanh nghiệp. Nhưng cũng có một số mâu thuẫn tạo
nên sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kênh. Chúng có thể đòi hỏi phải cải tiến
kênh phân phối làm cho nó năng động hơn và thích ứng hơn với moi trường đã thay đổi.
Giải pháp quan trọng nhất để quản lý mâu thuẫn có hiệu quả là chấp nhận những
mục tiêu cơ bản. Các thành viên trong kênh phân phối phải thỏa mãn được với nhau về
mục tiêu cơ bản mà họ cùng theo đuổi. Mục tiêu đó có thể là tồn tại, gia tăng thị phần,
nâng cao chất lượng sản phẩm hay thỏa mãn khách hàng.
Ngoài ra, có thể tiến hành việc trao đổi người giữa hai hay nhiều cấp của kênh
phân phối, tức là người của cấp này có thể làm việc ở một cấp khác hoặc ngược lại.

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 13


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ KÊNH PHÂN PHỐI CỦA SẢN PHẨM ỐNG NHỰA
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
2.1. Khái quát về công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng
2.1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triền của công ty
2.1.1.1. Lịch sử hình thành của công ty
Ngày 22/11/1976, ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đã kí quyết định số
866/QĐ – Uỷ ban thành lập xí nghiệp Nhựa Đà Nẵng với diện tích 500m2.
Khi mới thành lập xí nghiệp chỉ làm việc với trang thiết bị vẫn còn thô sơ, lạc hậu.
Hoạt động chủ yếu với nguồn vốn vay được và nhiệm vụ ban đầu là tái chế phế liệu. Đến
năm 1978 để đáp ứng công tác sản xuất, xí nghiệp đầu tư đã xây dựng cơ sở sản xuất mới
trên đường Trần Cao Vân – TP Đà Nẵng. Năm 1981, nhà máy đã hoàn thành và đưa vào
hoạt động.
Cùng với sự vận động để hội nhập với nền kinh tế thị trường, xí nghiệp thực hiên
kinh doanh xuất nhập khẩu một số mặt hàng theo giấy phép kinh doanh do Bộ thương mại
cấp ngày 16/02/1992 theo quyết định số 1844/QĐ – UB của UBND tỉnh Quảng Nam – Đà
Nẵng ngày 29/11/1993. Xí nghiệp trở thành doanh nghiệp Nhà nước với tên gọi là Công
ty Nhựa Đà Nẵng, tên giao dịch: “Plastic Đà Nẵng”.
Nhằm tăng khả năng cạnh tranh cũng như nhu cầu cổ phần hóa các công ty. Ngày
04/07/2000 theo quyết định số 90/2000/QĐ – TTg và nghị định số 03/2000/NĐCP chuyển
từ công ty trực thuộc Nhà nước thành Công ty cổ phần. Ngày 02/12/2000 Đại hội cổ đông
thành lập Công ty được tổ chức và công ty chính thức trở thành Công ty Cổ phần Nhựa
Đà Nẵng.
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
- Tên giao dịch: DANANG PLASTIC JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt: DANAPLAST
- Logo công ty:

- Địa chỉ: 371 Trần Cao Vân, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng
- Điện thoại: (05113).714.642 – 714.460 – 714.286

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 14


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

- Fax: (05113).714.561
- Email: Danangplast@gmail.com.vnn.vn
- Website: www.danaplast.vn
- Tài khoản số: 710A.00046 tại Ngân hàng Công thương T.P.Đà Nẵng
- Giấy phép thành lập: Theo Quyết Định số 90/2000/QĐ-TTg ngày 04/08/2000 của Thủ
Tướng Chính Phủ về việc chuyển đổi Công Ty Nhựa Đà Nẵng thành Công Ty Cổ Phần.
- Giấy ĐKKD: Số 3203000011– do Sở Kế Hoạch & Đầu Tư TP Đà Nẵng cấp ngày
11/12/2000.
- Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi: Do Sở Kế hoạch và Đầu tư T.P. Đà Nẵng cấp ngày
18/01/2001 về việc điều chỉnh vốn điều lệ thành 15.872.800.000 đ (Mười lăm ty, tám trăm bảy
mươi hai triệu, tám trăm ngàn đồng) theo Quyết định số 94/UB-VP do UBND thành phố Đà
Nẵng ngày 15/01/2001.
- Giấy phép ưu đãi đầu tư: Giấy phép ưu đãi đầu tư do UBND TP Đà Nẵng cấp ngày
4/4/2001.
- Vốn điều lệ hiện nay: 22.372.800.000 VNĐ
Ngày 09/11/2001, Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp phép phát hành chứng khoán ra
công chúng cho Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng. Loại cổ phiếu mà Công ty phát hành là cổ
phiếu gồm hai loại: cổ phiếu ghi tên và cổ phiếu không ghi tên. Với số lượng 1.587.280 cổ

phần thuộc sở hữu của 406 cổ đông. Bao gồm:
 2 cổ đông nhà nước, chiếm tỉ lệ 31,5%
 274 cổ đông Công ty, chiếm tỉ lệ 27,33%
 130 cổ đông bên ngoài, chiếm tỉ lệ 41,17%
Hoạt động kinh doanh chủ yếu là sản xuất sản phẩm tiêu dung từ chất dẻo, bao bì
các loại, ống nước PVC compound cứng; bán buôn lẻ các sản phẩm, vật tư nguyên liệu và
các chất phụ gia ngành nhựa; xuất nhập khẩu trược tiếp, kinh doanh các ngành nghề khác
phù hợp với qui định của pháp luật.
Ngày 23/11/2001. Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh cấp
giấy chứng nhận số 33/GNC/TTGD – LK chứng nhận Cổ phiếu công ty cổ phần Nhựa Đà
Nẵng đã đăng kí lưu chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh với mã chứng khoán DPC.
2.1.1.2. Quá trình phát triển của công ty
Theo qui định tại khoản 1 điều 29 Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của
Chính Phủ, công ty đã nộp hồ sơ xin huỷ niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 15


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

Chí Minh để thực hiện chuyển sang niêm yết sang Trung tâm GDCK Hà Nội, dự kiến
ngày giao dịch cuối cùng của cổ phiếu DPC tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh là ngày 01/06/2009. Ngày 10/6/2009 Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng có giao
dịch đầu tiên trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Hơn 30 năm hoạt động và không ngừng phát triển, Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
đã từng bước khắc phục khó khăn và đi lên mở rộng qui mô, đáp ứng nhu cầu về sản xuất.
Hiện nay, công ty đang mở rộng liên doanh với nước ngoài để sản xuất bao bì các
loại, đặc biệt là túi xốp cao cấp cho xuất khẩu, liên doanh sản xuất khung cửa nhôm cao
cấp, mở rộng dây chuyền sản xuất ống nước, đầu tư dây chuyền sản xuất bao bì ciment.
Sau khi cổ phần hóa công ty hoạt động ngày càng hiệu quả. Cùng với nỗ lực của
toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty, sản phẩm của công ty luôn được người tiêu
dung bình chọn là hàng Việt Nam chất ượng cao trong nhiều năm liền với thành tích đạt
được như sau: Huân chương lao động hạng I,II,III do Nhà nước trao tặng; Hàng Việt Nam
chất lượng cao trong 3 năm liền; Bằng khen đơn vị dẫn đầu ngành công TP Đà Nẵng. Với
chất lượng sản phẩm tốt và công tác sản xuất công cuộc qui mô rộng, công nghệ mới
Công ty đã góp phần vào công cuộc chuyên môn hóa ngành công nghiệp nhựa thành phố
Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung.
Hiện nay, nhằm khai thác triệt để những lợi thế về tài sản và thương hiệu, đặc điểm
của sản phẩm ngành nhựa, Công ty đã chọn phương án tập trung đầu tư đa dạng hóa các
loại sản phẩm nhằm tạo ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh về mặt địa lí, có nhu cầu lớn
trong các ngành công, nông nghiệp, thủy hải sản và tập trung thị trường tại miền Trung và
Tây Nguyên.
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1.2.1. Chức năng của công ty
Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng sản xuất công nghiệp, cung ứng sản phẩm nhựa
cho người tiêu dùng và các ngành sản xuất khác, thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu
trực tiếp có kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày tăng của xã hội, có tư cách pháp nhân
và hoạch toán độc lập, là nơi người lao động làm chủ tập thể của mình trong quản lý công
ty, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và
Nhà nước.
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm là hàng tiêu dùng từ chất dẻo như bao bì
các loại, ống nước PVC compound cứng, các sản phẩm gia dụng khác từ nhựa.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 16


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

- Được phép xuất khẩu trực tiếp: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản
xuất.
2.1.2.2. Nhiệm vụ của công ty
Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng hoạt động trong lĩnh vực nhựa với các nhiệm vụ sau:
− Xây dựng và thực hiện kế hoạch, nâng cao hiệu quả và mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh, đáp ứng ngày càng nhiều hàng hóa cho xã hội, tự bù đắp chi phí, tự trang trải
vốn và phải làm tròn nghia vụ đối với ngân sách nhà nước. Tận dụng năng lực sản xuất và
không ngừng nâng cao đổi mới máy móc, thiết bị, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
quá trình sản xuất của công ty.
− Thực hiện phân phối lao động và công bằng xã hội, tổ chức tốt đời sống và hoạt
động cho cán bộ công nhân viên, nâng cao trình độ văn hóa, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn cho cán bộ công nhân viên, đóng góp nghĩa vụ cho địa phương.
− Nghiên cứu, xác định nhu cầu về sản phẩm nhựa trên cơ sở có tính toán kết hợp với
khả năng sản xuất của các công ty nhựa khác, co nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức
hoạt động sản xuất có hiệu quả nhất, đảm bảo đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời
nhu cầu của khách hàng.
− Mở rộng liên doanh, liên kết với nước ngoài, trong nước.
− Quản lý chặt chẽ vật tư, tài sản của công ty, bảo vệ môi trường tổ chức kinh doanh
nhằm đảm bảo an toàn lao động. Giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Hạch toán
báo cáo trung thực theo chế độ Nhà nước quy định.
− Sản xuất kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng kí và theo mục đích thành lập
của công ty, chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình làm ra.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng được tổ chức và hoạt động theo luật Công ty của
quốc hội nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 0/2005.QH11 ngày 29/11/2005.
Các hoạt động của công ty tuân thủ luật của công ty, các luật có liên quan và điều lệ của
công ty. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty thuộc mô hình trực tuyến chức
năng.

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 17


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
Ban Kiểm Soát
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng TC - HC

Tổ
màng
mỏng

Tổ
Dệt
bao

Phòng Kỹ
thuật

Tổ
may
bao

Tổ
Tấm
Trần

Phòng Kinh
doanh

Tổ
bao


Tổ sp
PVC và
ống
nước

Phòng TC KT

Tổ
can
phao

Tổ

điện

Ghi Chú:
Quan hệ trực tuyến .
Quan hệ chức năng .
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban của công ty
a. Đại hội đồng cổ đông
Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyền lực cao nhất của
Công ty, quyết định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ Công ty quy định. Đặc biệt,
các cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng năm của Công ty và ngân sách tài
chính cho năm tiếp theo.
b. Hội đồng quản trị
Là cơ quan quản lý Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi
vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Đại hội đồng cổ đông. HĐQT có trách nhiệm giám sát Giám đốc và những

SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 18


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Mai Thị Hồng Nhung

người quản lý khác. Quyền và nghĩa vụ của HĐQT do Luật pháp và Điều lệ Công ty, các
quy chế nội bộ của Công ty và Nghị quyết ĐHĐCĐ quy định
c. Ban kiểm soát
Là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Ban
Kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh
doanh, báo cáo tài chính của Công ty. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản
trị và Ban Giám đốc.
d. Ban giám đốc
* Giám đốc:
Giám đốc Công ty là người Đại diện của Công ty trong việc điều hành mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Giám đốc Công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn
nhiệm. Giám đốc Công ty chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và pháp luật về kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
* Phó Giám đốc:
Các Phó Giám đốc Công ty giúp việc cho Giám đốc điều hành mọi hoạt động của
Công ty trong các lĩnh vực theo sự phân công và uỷ quyền của Giám đốc, chịu trách
nhiệm trước Giám đốc Công ty và pháp luật về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền.
e. Các phòng ban
*Phòng Tài chính – Kế toán:
Công tác tài chính:
-

Tham mưu cho Ban Giám Đốc về các quyết định tài chính để lựa chọn phương án

đầu tư, kinh doanh tối ưu.
-

Lập kế hoạch tài chính ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đảm bảo hiệu quả đầu

tư và kinh doanh của Công ty; kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch tài chính theo mục
tiêu đầu tư của Công ty và chịu trách nhiệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình tài
chính của Công ty; thẩm định dự án đầu tư tài chính.
-

Quản lý và theo dõi hồ sơ cổ đông, theo dõi việc chi trả cổ tức cho cổ đông.
Công tác kế toán:

-

Phản ảnh kịp thời, đầy đủ, chính xác và khoa học các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

và đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo định kỳ tháng/quý/năm.
-

Chịu trách nhiệm lập các báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước: báo cáo tài

chính, báo cáo quyết toán theo chế độ tài chính hiện hành.
SVTH: Lê Thị Tuyết Ngân_Lớp: D18QTHB3

Trang 19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×