Tải bản đầy đủ

Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam (BIDV) – PGD tp pleiku

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan chuyên đề :”Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay
tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV)
– PGD Tp Pleiku” là công trình nghiên cứu riêng của em. Các số liệu, kết
quả nêu trong chuyên đề là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị thực tập. Nếu có dấu hiệu sai lệch em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Đà Nẵng, ngày… tháng… năm 2015
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Phương Thảo

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

DANH MỤC VIẾT TẮT

CBCNV

: Cán bộ công nhân viên

CBTD

: Cán bộ tín dụng

CNVC

: Công nhân viên chức

CVTD

: Cho vay tiêu dùng

DNCV

: Dư nợ cho vay

HGĐ

: Hộ gia đình

KH

: Khách hàng

NH

: Ngân hàng

NH ĐT&PTVN

: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam

NHNN



: Ngân hàng nhà nước

NHTM

: Ngân hàng thương mại

PGD

: Phòng giao dịch

TCTD

: Tổ chức tín dụng

TMCP

: Thương mại cổ phần

TP

: Thành phố

TSĐB

: Tài sản đảm bảo

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

Tên
Hình 2.1
Bảng 2.1

Bảng 2.2

Bảng 2.3

Bảng 2.4

Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Tình hình huy động vốn của NH TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3 năm 2012-2014
Tình hình cho vay chung tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3 năm 2012-2014
Kết quả hoạt động kinh doanh NH TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3 năm 2012-2014
Tình hình chung về cho vay tiêu dùng tại NH TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3 năm 2012-2014

Trang
15
18

19

20

27

Tình hình cho vay tiêu dùng theo thời hạn tại NH TMCP Đầu
Bảng 2.5

tư và Phát triển Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3 năm 2012-

29

2014
Tình hình cho vay tiêu dùng theo mục đích sử dụng vốn tại
Bảng 2.6

NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua

31

3 năm 2012-2014
Tình hình cho vay tiêu dùng theo đối tượng tại NH TMCP
Bảng 2.7

Đầu tư và Phát triển Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3 năm

33

2012-2014
Tình hình cho vay tiêu dùng theo hình thức đảm bảo tại NH
Bảng 2.8

TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-PGD Tp Pleiku qua 3
năm 2012-2014

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2

34


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang
MỤC LỤC

Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một
số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết
lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả rủi ro tín dụng. Phân loại
cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:............................................................................5

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế thị
trường theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế,
trong đó hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng là xu thế tất yếu trong tiến trình
phát triển của nền kinh tế thế giới. Chính điều này tạo ra sự phát triển và mở
rộng không ngừng của các ngân hàng hiện nay. Đây cũng là một thách thức
lớn khi các ngân hàng tham gia thị trường phải đối đầu. Trong điều kiện cạnh
tranh gay gắt này, buộc các ngân hàng phải tìm hướng đi mới, đưa ra dịch vụ,
sản phẩm mới thu hút khách hàng.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định thương mại giữa
Việt Nam và các nước được ký kết, nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục
với tốc độ cao; đời sống của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải tiến.
Năng suất sản xuất tăng cao đã tạo ra lượng hàng hóa phong phú và đa dạng,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Thực hiện chính sách mở cửa, bộ
mặt nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi mạnh, đời sống của người dân ngày
càng nâng cao, tiến đến cuộc sống thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần,
ngoài những nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, uống, đồ mặc thì nhu cầu cuộc sống
được nâng cao hơn như nhà đẹp tiện nghi, xe cộ hiện đại, du lịch, du học nước
ngoài,… Do đó, đôi khi người dân cho phép mình chi tiêu vượt quá mức thu
nhập dẫn đến nhu cầu vay mượn để tiêu dùng tăng lên. Điều này đã tạo ra thị
trường cho vay tiêu dùng đối với các ngân hàng thường lại diễn ra cạnh tranh
cao.
NHĐT&PTVN có truyền thống phục vụ đầu tư và phát triển, thực hiện
nhiệm vụ huy động mọi nguồn vốn để đầu tư và phát triển, góp phần thực
hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Hiện nay hoạt động tín dụng
vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của NHĐT&PTVN và đây là hoạt
động tiềm ẩn nhiều rủi ro xong cũng là hoạt động mang lại cho ngân hàng lợi
nhuận cao nhất. Song để thực hiện tốt vai trò của mình cũng như có thể đứng
vững trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, các NHTM luôn tìm cách đa
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 1


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng, đặc biệt là việc mở rộng thêm nhiều
hình thức tín dụng nhằm tăng cường nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như đáp
ứng nhu cầu của khách hàng. Một trong những hình thức đó phải kể đến hoạt
động tín dụng tiêu dùng.
Nắm bắt được nhu cầu của người dân cũng như làm tăng tính cạnh tranh
với các ngân hàng bạn. NHĐT&PT đã triển khai nhiều loại hình tín dụng tiêu
dùng đối với khách hàng cá nhân. Đặc biệt là PGD TP Pleiku trong những
năm gần đây đã không ngừng đẩy mạnh dư nợ tín dụng tiêu dùng, đã từng
bước cải thiện quy trình, quy chế cho vay phù hợp nhu cầu của người dân,
những đảm bảo an toàn tín dụng. Tuy nhiên về chính sách cũng như quy chế
cho vay của PGD vẫn còn tồn tại những vướng mắc khách quan, chủ quan
làm ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng tín dụng tiêu dùng của PGD.
Qua thời gian tìm hiểu và thực tập tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – PGD TP Pleiku, việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp khắc phục
những khó khăn và đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng tiêu dùng tại PGD một
cách phù hợp và khoa học là vô cùng cần thiết. Đó cũng là lý do tôi chọn đề
tài:”Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV) – PGD Tp Pleiku” làm đề
tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tìm hiểu tại các NHTM trên địa bàn Gia
Lai cũng như trong quá trình thực tập tại PGD Tp Pleiku đã cho tôi thấy được
tầm quan trọng của tín dụng tiêu dùng trong tình hình hiện nay. Việc nghiên
cứu đề tài nhằm đưa ra cho chúng ta tình hình thực trạng và những giải pháp
nhằm mở rộng tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Phát triển và Đầu tư Việt
Nam – PGD Tp Pleiku. Thông qua việc xây dựng phương pháp mở rộng tín
dụng tiêu dùng thực tiễn, tận dụng thế mạnh của mình và khai thác tiềm năng
vốn có của thị trường,.. Thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro
cho PGD và đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 2


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng Đầu tư và Phát triễn Việt Nam – PGD Tp
Pleiku.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay
tiêu dùng nói riêng của PGD Tp Pleiku.
4. Kết cấu của chuyên đề.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia
thành 3 chương như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – PGD TP
PLEIKU.
Chương 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –
PGD TP PLEIKU.
Đề tài được tập chung nghiên cứu và cố gắng đạt được những mục đích
đề ra song do những hạn chế về mặt kiến thức và thời gian nghiên cứu nên đề
tài không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết, rất mong nhận được sự
đóng góp của Qúy Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Thùy Trang – Giảng viên
hướng dẫn, chân thành cảm ơn các Thầy Cô trường Đại học Duy Tân, các cô
chú, anh chị hiện đang công tác tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam – PGD Tp Pleiku, phòng kế toán hướng dẫn và cung cấp số liệu, trao đổi
kinh nghiệm và giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này.

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU
DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1. Khái niệm cho vay
Cho vay của ngân hàng là một mặt của hình thức tín dụng ngân hàng,
theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận hoàn trả gốc và lãi đúng
thời hạn.
Cho vay là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín
dụng, vì vậy chúng ta thường hay gọi hoạt động cho vay của ngân hàng cũng
chính là hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.1.2. Nguyên tắc cho vay
Cũng giống như hoạt động tín dụng, hoạt động cho vay của ngân hàng
cũng tuân thủ theo 3 nguyên tắc như sau:
1.1.2.1.
Vay vốn phải có mục đích và đảm bảo sử dụng đúng mục đích.
Giúp ngân hàng quản lý và giảm thiểu được rủi ro cho vay. Ngân hàng
cho vay để giúp các khách hàng giải quyết nhu cầu thiếu thốn của mình trong
quá trình kinh doanh, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng
không thể cho vay để thực hiện những hoạt động kinh doanh trái phép và
không đúng chức năng. Ngân hàng có quyền ngưng cho vay và thu hồi khoản
vay nếu khách hàng vi phạm nguyên tắc cho vay này.
1.1.2.2.
Vay vốn phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó vốn phải được quay
về ngân hàng với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Vì vậy, người đi vay phải
hoàn trả cả gốc và khoản lãi do sự dụng nguồn vốn trên, và ngân hàng mới
đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động có lãi.

1.1.2.3.
Vay vốn phải có đảm bảo.
Cho vay bảo đảm không bằng tài sản là loại cho vay không có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, mà việc cho
vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng hoặc người bảo lãnh.

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 4


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Cho vay bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo
đảm như thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh bằng tài sản của người
thứ ba.
Nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh, khi
khách hàng không có khả năng trả nợ thì tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ
hai của ngân hàng. Các tài sản dùng làm đảm bảo phải là sở hữu hợp pháp của
bên đi vay, có giá trị và giá trị sử dụng, được thị trường chấp nhận.
1.1.3. Phân loại cho vay.
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền
đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả rủi ro tín
dụng. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:
1.1.3.1.

Dựa vào thời hạn cho vay.

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt
đầu nhận vốn cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Dựa vào
thời hạn, cho vay có thể chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Cho vay ngắn hạn là hình thức cho vay có thời hạn đến 1 năm. Mục
đích của cho vay này là bổ sung vốn lưu động của các tổ chức kinh tế và nhu
cầu chi tiêu cá nhân ngắn hạn.
Cho vay trung hạn là hình thức cho vay có thời hạn trên 1 đến 5 năm.
Mục đích của cho vay này là đầu tư vào tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án kinh
doanh mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích
của cho vay này là thường tài trợ đầu tư cho các dự án, cung cấp vốn cho xây
dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ
sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
1.1.3.2.
Dựa vào mục đích sử dụng vốn vay
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 5


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại dịch vụ.
Cho vay sản xuất công nghiệp: là loại cho vay đối với các tổ chức
kinh tế nhằm bổ sung vốn lưu động hay đầu tư sản xuất.
Cho vay kinh doanh thương mại và dịch vụ: là lại cho vay để bổ sung
vốn lưu động trong quá trình kinh doanh thương mại và dịch vụ.
Cho vay tiêu dùng: là loại hình cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu
dùng cá nhân như mua sắm vật dụng gia đình, y tế, du học..
Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
trong nông nghiệp như phân bón, giống cây trồng,thức ăn gia súc, thuốc trừ
sâu..
1.1.3.3.
Dựa vào hình thức đảm bảo
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các
bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh bằng tài sản của
người thứ ba, đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vồn vay. Sự bảo đảm này là
căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn
thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Cho vay đảm bảo không bằng tài sản là loại cho vay không có tài sản
cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo bằng
tài sản hình thành từ vồn vay mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng đó hoặc người bảo lãnh mà ngân hàng quyết định cho vay.

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 6


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

1.1.3.4.
Dựa vào phương thức cho vay.
Cho vay theo món: là hình thức cho vay phát sinh theo từng như cầu
của khách hàng.
Cho vay hạn mức tín dụng: là hình thức cho vay mà khách hàng có thể
vay trong một lần, nhưng được rút và hoàn trả nhiều lần trong một giới hạn do
ngân hàng quy định, với thời hạn không quá 1 năm. Nếu hết thời hạn này,
khách hàng có thể vay một hạn khác tùy theo uy tín và quan hệ giữa khách
hàng và ngân hàng.
Thấu chi: là hình thức cho vay gắn liền với việc sử dụng tài khoản tiền
gởi vãng lai của khách hàng thông qua việc sử dụng quá số dư trên tài khoản
trong một hạn mức cho phép, với thời hạn và phí sử dụng do ngân hàng qui
định.
1.1.3.5.
Dựa vào phương pháp hoàn trả.
Cho vay trả góp :là loại cho vay mà KH phải hoản trả vốn gốc và lãi
theo định kỳ, chủ yếu được áp dụng trong vay bất động sản, nhà ở, cho vay
tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ, cho vay trang bị kỹ
thuật trong công nghiệp. Thông thường có 4 phương pháp trả góp:
+ Phương pháp cộng thêm.
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi theo số dư vào cuối mỗi định
kỳ.
+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và lãi tính trên mức hoàn trả của vốn
gốc.
+ Phương pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ (phương
pháp hiện giá).
Cho vay phi trả góp: là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ
hạn đã thỏa thuận.
Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: (áp dụng kỹ thuật giải ngân sử dụng
tài khoản vãng lai).
1.1.3.6.
Căn cứ vào xuất xứ khoản vay
Cho vay trực tiếp: là Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 1


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Cho vay gián tiếp: là hình thức mua chứng từ nợ chưa đến hạn của
khách hàng.
1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
“ Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho
khách hàng (cá nhân, hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền)
trong một khoảng thời gian nhất định, với những thỏa thuận mà hai bên đã ký
kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả) nhằm giúp cho khách hàng
có thể sử dụng những hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả,
tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn”.
Định nghĩa cho vay tiêu dùng có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản
là giống nhau, cùng đề cập đến mục đích của loại hình cho vay này: cho vay
tiêu dùng là để phục vụ cho mục đích nhu cầu chi tiêu, mua sắm tiện nghi sinh
hoạt của cá nhân, hộ gia đình cũng như phục vụ những nhu cầu khác của cá
nhân như y tế, du học, du lịch …Khách hàng là những người có nhu cầu nâng
cao mức sống nhưng chưa có khả năng chi trả hiện tại. Ngân hàng phát triển
sản phẩm cho vay tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thu được
gốc hoàn trả cũng như lợi nhuận từ khoản vay.
1.2.2. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
 Khách hàng vay là những cá nhân và hộ gia đình
 Mục đích nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các nhân, hộ gia đình
mà không xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó, phụ thuộc vào nhu cầu,
tính cách của từng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay.
 Độ rủi ro cao hơn cho vay thương mại: trong cho vay tiêu dùng, nguồn
trả nợ thường là thu nhập thường xuyên của người vay. Thế nhưng, thu nhập
này có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe
người đi vay. Ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro khi người tiêu dùng bị đuổi
việc, bị tai nạn…khiến họ không có thu nhập để trả nợ. Ngân hàng thường
hạn chế rủi ro bằng cách yêu cầu người vay vốn mua bảo hiểm nhân thọ hoặc
bảo hiểm tai nạn…
 Chi phí CVTD tốn chi phí hơn cho vay thương mại: các khoản CVTD
thường có quy mô nhỏ( trừ những khoản cho vay mua nhà) nên chi phí giao
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 2


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

dịch lớn( chi phí bố trí cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định, chi phí thu thập
thông tin về khách hàng..)
 Chất lượng thông tin mà khách hàng vay tiêu dùng cung cấp cho Ngân
hàng thường không cao, nhất là những thông tin về tài chính. Nguồn thu nhập
để trả nợ cho ngân hàng ở những khoản vay tiêu dùng thường là nguồn thu
nhập cá nhân. Thông tin về thu nhập cá nhân là do khách hàng tự cung cấp
cho ngân hàng nên độ chính xác thường không cao.
 Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng có quan hệ mật thiết tới thu
nhập và trình độ văn hóa của họ. Nếu thu nhập của khách hàng cao, họ sẽ có
xu hướng tăng tiêu dùng và ngược lại. Cũng như vậy, nếu trình độ học vấn
cao, khách hàng sẽ hướng nhu cầu của họ đến những hàng hóa cao cấp, do
vậy nhu cầu vay để tiêu dùng cũng tăng.
1.2.3. Phân loại cho vay tiêu dùng
1.2.3.1.
Căn cứ vào thời hạn cho vay
Theo căn cứ này, CVTD chia làm 3 loại chính
Cho vay tiêu dùng ngắn hạn
Là loại cho vay có thời hạn ngắn, thường đến 12 tháng. Các khoản vay
này ít rủi ro về khả năng thanh toán cũng như về lãi suất so với vay trung và
dài hạn. Nhưng khoản vay ngắn hạn thường được sử dụng đáp ứng nhu cầu về
tiêu dùng của khách hàng trong một thời gian ngắn.

Cho vay tiêu dùng trung hạn
Cho vay trung hạn có thời hạn vay từ 12 đến 60 tháng. Loại hình cho
vay này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, mua trang
thiết bị để sản xuất kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng dài hạn:
Là loại hình cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích của vốn vay
lần này tương tự như vốn vay trung hạn, nhưng chủ yếu được sử dụng để đáp
ứng nhu cầu dài hạn, đầu tư vào những công trình có quy mô lớn, thời gian

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 3


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

thu hồi vốn dài. Các khoản vay này chiếm tỷ trọng lớn và đem lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng.
Thông thường các NHTM chủ yếu cho vay ngắn hạn do có độ rủi ro
thấp hơn. Sang đầu những năm 70 trở lại đây, các NHTM đã có những chuyển
đổi trong kinh doanh, chuyển sang kinh doanh tổng hợp, nâng cao dần tỷ
trọng của cho vay trung và dài hạn.
1.2.3.2.
Căn cứ vào mục đích vốn vay.
Cho vay tiêu dùng cư trú
Là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng và cải
tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình
Cho vay tiêu dùng phi cư trú
Là các khoản vay nhằm tài trợ cho việc trang trải chi phí mua sắm xe
cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí, du lịch…
1.2.3.3.
Căn cứ vào hình thức đảm bảo.
Cho vay tiêu dùng có đảm bảo bằng tài sản
Là loại cho vay dựa trên cơ sở có các hình thức đảm bảo cho vay như
thế chấp, cầm cố tài sản, hoặc có sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba,đảm
bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Những sự đảm bảo này là căn cứ pháp
lý để ngân hàng có thể có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu
nợ thứ nhất trong trường hợp nguồn thu này không chắc chắn cho khoản vay.
Cho vay tiêu dùng đảm bảo không bằng tài sản
Là loại hình cho vay mà ngân hàng cho khách hàng vay không cần có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3 cho khoản
vay, đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay mà chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng hoặc người bảo lãnh mà ngân hàng quyết định cho vay.
Phạm vi áp dụng của loại hình này thường rất hạn chế, chỉ các khách
hàng có một số điều kiện nhất định như có mối quan hệ với ngân hàng thường
xuyên, khả năng tài chính lành mạnh, … thì khi đó ngân hàng mới áp dụng
hình thức cho vay này.
1.2.3.4.
Căn cứ vào xuất xứ khoản vay.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Là hình thức ch vay mà ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu
cầu và người vay cũng hoàn trả khoản vay và tiền lãi cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 4


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Là hình thức cho vay mà ngân hàng tiến hành khoản cho vay thông qua
nghiệp vụ chiết khấu, mua lại chứng từ có giá, chứng từ nợ phát sinh đang
còn trong thời gian thanh toán.
1.2.3.5.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Cho vay tiêu dùng trả góp.
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ( gồm
số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định
trong thời hạn vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay
có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không có đủ khả
năng thanh toán hết một lần số nợ vay.
Cho vay tiêu dùng phi trả góp.
Theo phương thức này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân
hàng chi một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả
góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
Cho vay tiêu dùng hoàn trả theo yêu cầu.
Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách
hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa
trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được
thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ,
khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện vay và trả nợ nhiều kỳ một
cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
1.2.4. Ý nghĩa của hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.2.4.1.
Đối với Khách hàng.
CVTD là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
khách hàng. Nhờ những khoản vay tiêu dùng từ ngân hàng, họ có thể mua
sắm những hàng hóa cần thiết, các hàng hóa xa xỉ, có giá trị cao, giúp họ thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống hàng ngày ngay cả khi khả
năng tài chính hiện tại của họ chưa cho phép. Vì vậy, việc ngân hàng thực
hiện và phát triển hoạt động CVTD sẽ mang đến những lợi ích tốt, thiết thực
cho khách hàng. Có thể nói rằng, khách hàng chính là những người hưởng lợi
nhiều nhất và trực tiếp những lợi ích mà hình thức CVTD này mang lại.
1.2.4.2.
Đối với Ngân Hàng.
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 5


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Đối với ngân hàng ngoài những nhược điểm chính là rủi ro và chi phí
cao. Nhưng không phải vì thế mà phủ nhận vai trò quan trọng của hoạt động
CVTD đối với các NHTM. Vai trò ấy được khái quát như sau:
+ CVTD tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ đó góp
phần giúp các NHTM tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao thu nhập và phân
tán được rủi ro.
Trong điều kiện ngày nay, khi mà sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài
chính- ngân hàng ngày càng gay gắt, quyết liệt thì vai trò của CVTD thực sự
quan trọng đối với các NHTM, bởi nó góp phần tăng khả năng cạnh tranh
giữa các ngân hàng so với các định chế tài chính khác. CVTD, nếu xét về
tổng quy mô thì mức độ rủi ro của nó lớn (do quy mô lớn), nhưng thực tế do
quy mô của mỗi khoản cho vay thường nhỏ và số lượng các khoản tiêu dùng
lớn nên ngân hàng có thể phân tán được rủi ro tốt hơn. Hơn thế nữa, do lãi
suất CVTD thường cao nên thu nhập của các NHTM từ hoạt động CVTD
thường rất lớn.
+ CVTD giúp các NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng.
Do tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên các ngân hàng có thể
thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút
các khách hàng đến với các dịch vụ khác của ngân hàng. Trong khi đó, các
khoản tín dụng tiêu dùng tuy là những khoản nhỏ nhưng nhu cầu về chúng lại
rất lớn nên nếu khai thác được thị trường này thì các NHTM có thể sử dụng
được một số lượng vốn lớn.Hơn nữa, dân cư là khách hàng tiềm năng lớn của
ngân hàng, để phát triển bền vững thì các ngân hàng cần phải dựa vào nhóm
đối tượng này.
1.2.4.3.
Đối với nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch
vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu của
người tiêu dùng. Tuy nhiên, với mức thu nhập như hiện nay, phần lớn người
tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt
là những vật dụng đắt tiền. Nếu người tiêu dùng có thể vay được tiền từ ngân
hàng thì họ có thể thỏa mãn được nhu cầu của họ ngay trong hiện tại. Điều
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 6


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hóa, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
của các hãng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách nhanh chóng. Do
đó, với việc thực hiện hoạt động CVTD có thể thực hiện tốt nhiệm vụ kích
cầu cho nền kinh tế, tạo nên sự hòa hợp giữa Cung và Cầu tiêu dùng tạo điều
kiện cho nền kinh tế phát triển cao hơn.

1.2.5. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM.
1.2.5.1.
Nhân tố khách quan.
 Môi trường kinh tế.
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng nói chung
và hoạt động CVTD nói riêng. Nó có thể là điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt
động CVTD hoặc ngược lại. Môi trường kinh tế bao gồm: Trình độ phát triển
kinh tế; Thu nhập bình quân trên đầu người; Tỷ lệ xuất- nhập khẩu; Tỷ lệ lạm
phát…
Chúng ta cũng biết là nhu cầu hàng hóa, dịch vụ của dân cư phụ thuộc rất
lớn vào tình trạng nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn phát
triển, hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, mức sống của dân cư
ngày càng cao thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng, bởi vì họ tin tưởng vào thu nhập
của mình trong tương lai có thể chi trả được các khoản nợ. Vì vậy hoạt động
CVTD của ngân hàng trong giai đoạn này sẽ tăng lên. Ngược lại, khi nền
kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, không ổn định thì nhu cầu chi tiêu sẽ
giảm, do lúc này người dân có xu hướng tích lũy hơn là tiêu dùng, bởi vậy
CVTD trong thời kỳ này sẽ giảm.
 Môi trường pháp lý.
Mỗi một chủ thể trong xã hội đều có quyền tự do làm theo ý thích của
mình, việc họ muốn làm gì, muốn mua gì là phụ thuộc vào bản thân của họ,
song phải trong khuôn khổ mà pháp luật của quốc gia đó cho phép. Vì vậy,
các hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động CVTD nói riêng cũng
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 7


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

phải nằm trong phạm vi khuôn khổ của pháp kuật, nó cũng phải tuân theo
những quy định của Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật dân sự và các
quy định khác. Nếu những quy định của pháp luật không rõ ràng, không
đồng bộ, không kịp thời và còn nhiều kẽ hở thì sẽ gây rất nhiều khó khăn cho
NHTM.
Ngược lại, nếu những văn bản pháp luật quy định rõ ràng, đầy đủ, đồng
bộ và kịp thời thì sẽ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, góp phần vào sự
phát triển của hệ thông ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh lành mạnh giữa
các NHTM và đó cùng là cơ sở pháp lý để ngân hàng giải quyết các khiếu
nại, tố cáo khi có các tranh chấp xảy ra khi ngân hàng thực hiện các hoạt
động của mình.
 Môi trường văn hóa xã hội.
Nhân tố này gồm có: Tập quán; Trình độ dân trí; Lối sống; Thói quen…
Nó ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của khách hàng. Và do vậy, nó cũng ảnh
hưởng đến hoạt động CVTD và các hoạt động khác của ngân hàng. Chẳng
hạn, nếu một ngân hàng có áp dụng dịch vụ CVTD trong khu vực có trình độ
dân trí thấp, kiến thức về ngân hàng hầu như không có; nhu cầu mua sắm,
tiêu dùng không cao thi dịch vụ CVTD và các hoạt động khác của ngân hàng
rất chậm phát triển. Nhưng cũng chính ngân hàng nào nếu được xây dựng
trong khu vực có trình độ dân trí cao, thu nhập đầu người của dân cư lớn, nhu
cầu mua sắm lớn- chi tiêu lớn, họ hiểu và sử dụng thường xuyên các dịch vụ
của ngân hàng thì không chỉ dịch vụ CVTD mà cả các dịch vụ khác của ngân
hàng cũng sẽ phát triển.
 Chủ trương chính sách nhà nước.
Đây là những chính sách mang tầm vĩ mô và thường có thời gian thực
hiện tương đối dài. Các chính sách này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến
CVTD. Chẳng hạn, khi Nhà nước tăng mức đầu tư cho nền kinh tế và tăng
thu hút đầu tư nước ngoài bằng các chính sách khuyến khích đầu tư (Sự giản
đơn về thủ tục giấy tờ, ưu đãi thuế…)… Tất cả những điều này sẽ tạo điều
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 8


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

kiện cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế- xã hội; GDP sẽ tăng;
Tỷ lệ thất nghiệp giảm; Mức thu nhập của người lao động tăng, qua đó làm
tăng nhu cầu tiêu dùng. Cùng với nó là các chính sách về Thuế thu nhập;
Thuế về hàng hóa, dịch vụ; các chương trình ưu đãi hỗ trợ phát triển, xóa đói,
giảm nghèo; Phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, hải đảo… Những yếu tố
như thế đều tác động về trước mắt và lâu dài đến cầu tiêu dùng của người
dân. Do đó, nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến dịch vụ CVTD của các NHTM.
 Nhân tố liên quan đến khách hàng.
Uy tín của khách hàng thể hiện ở khả năng tài chính của khách hàng
mạnh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả tạo ra nhiều lợi nhuận, quan hệ vay
vốn và trả nợ ngân hàng của khách hàng sòng phẳng không có nợ quá hạn. Uy
tín của khách hàng còn thể hiện ở vị trí của khách hàng trên thị trường và mối
quan hệ của khách hàng với bạn hàng.
Ta thấy khi ngân hàng phân tích khách hàng thấy được rằng uy tín của
khác hàng là tốt thì tài sản mà khách hàng đưa ra để đảm bảo cho vay cũng
được an toàn hơn. Ngoài ra, uy tín của khách hàng cao cũng giúp ngân hàng
yên tâm hơn về khả năng đảm bảo tài chính của khách hàng. Chất lượng tài
sản đảm bảo cũng được nâng cao.
Đạo đức của khách hàng thể hiện ở việc khách hàng có chủ ý trong việc
trả nợ hay không, có hành vi lừa đảo hay không. Có nhiều khách hàng vay
vốn của ngân hàng song không có ý thức trả nợ khi đến kỳ hạn trả gốc và lãi.
Ngân hàng cần nhìn thấy trước được tình hình của khách hàng nếu không rất
dễ gặp rủi ro.
1.2.5.2.
Nhân tố chủ quan
Việc mở rộng hoạt động CVTD không chỉ chịu tác động bởi các nhân tố
khách quan mà nó còn chịu tác động bởi các nhân tố chủ quan. Những nhân
tố này xuất phát từ chính bản thân của ngân hàng nên ngân hàng có thể chi
phối được.
 Chính sách cho vay của NHTM.

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 9


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Chính sách cho vay bao gồm: Các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với
khách hàng; Kỳ hạn của khoản cho vay; Mức lãi suất cho vay; Mức lệ phí;
Hướng giải quyết những khoản nợ khó đòi…
Nếu tất cả những yếu tố trên đều đúng đắn, hợp lý và linh hoạt, đáp ứng
nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng thì chắc chắn ngân hàng sẽ thành công
trong việc mở rộng hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng. Ngược
lại, với chính sách tín dụng cứng nhắc, kém linh hoạt thì sẽ hạn chế hoạt
động cho vay, giảm tính cạnh tranh trong hoạt động giữa các ngân hàng.
 Quy trình cho vay.
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định của ngân
hàng trong việc cho vay, gồm các bước cụ thể theo một trình tự nhất định kể
từ khi nhận hồ sơ đề nghị cho vay cho đến khi chấm dứt quan hệ cho vay.
Việc xây dựng một quy trình cho vay hoàn thiện và hiệu quả có ý nghĩa rất
lớn trong công tác ngăn ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra, đồng thời nó còn gây
được cảm tình với khách hàng, nhờ đó thu hút được nhiều khách hàng hơn.
 Khả năng nắm bắt thông tin.
Có thể nói, hoạt động chính của ngân hàng là đi vay và cho vay. Trong đó,
hoạt động cho vay phụ thuộc vào lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng.
Do vậy, để hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng được mở rộng
với chất lượng cao, hiệu quả lớn thì ngân hàng phải nắm bắt được thông tin
một cách kịp thời và chính xác về khách hàng vay vốn. Gồm có:


Các thông tin tài chính của khách hàng: Khả năng về tài chính

của khách hàng, thu nhập hiện tại, khả năng trả nợ và bảo đảm trả nợ…


Các thông tin phi tài chính của khách hàng: Tư duy, uy tín, các

mối quan hệ xã hội…


Các thông tin gián tiếp: Tình hình kinh tế xã hội, thông tin về xu

hướng phát triển và khả năng cạnh tranh của các NHTM khác.
 Trình độ của cán bộ nhân viên.
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 10


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Có thể khẳng định rằng, việc mở rộng hoạt động CVTD có thành công
hay không phụ thuộc phần lớn vào trình độ cán bộ, nhân viên của ngân hàng.
Dưới con mắt của khách hàng thì cán bộ, nhân viên ngân hàng chính là hình
ảnh của ngân hàng.

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 11


Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2.

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –
PGD TP PLEIKU QUA 3 NĂM 2012-2014.
2.1. Giới thiệu về BIDV – PGD TP Pleiku.
2.1.1. Lịch sử hình thành của BIDV – PGD TP Pleiku.
Lịch sử hình thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam:
• Thành lập ngày 26/04/1957 với tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt
Nam.
• Ngày 24/06/1981 chuyển thành Ngân hàng Đầu Tư và Xây Dựng Việt
Nam.
• Ngày 14/11/1990 chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam.
PGD TP Pleiku là đơn vị trực thuộc NH ĐT&PTVN – CN Nam Gia Lai,
được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1993, hoạt động của PGD TP
Pleiku chủ yếu là quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà
nước. Bên cạnh đó, một số nghiệp vụ thương mại mới bắt đầu hình thành đó
là huy động vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu, cho vay vốn huy động
đối với các thi công, xây lắp, cung ứng NVL xây dựng,.. nhằm đẩy nhanh tiến
độ thi công, các công trình và dự án vào đúng tiến độ.
Bắt đầu năm 1995, trở lại đây cùng với hệ thống NHĐT&PTVN, PGD TP
Pleiku đã chuyển sang kinh doanh đa năng tổng hợp như một NHTM. Bên
cạnh thực hiện cho vay đầu tư các dự án theo kế hoạch nhà nước PGD TP
Pleiku không ngừng phát triển các dịch vụ kinh doanh của một NHTM như:
huy động vốn các kỳ hạn khác nhau, lãi suất hấp dẫn và phù hợp với biến
động của thị trường, cho vay và mở rộng các đối tượng cho vay không phân
biệt thành phần kinh tế.
Trong thời gian qua, nguồn vốn cung ứng cho phát triển kinh tế địa
phương qua kênh tín dụng của PGD TP Pleiku đã góp phần không nhỏ vào
quá trình phát triển kinh tế tỉnh nhà. Nhiều công trình dự án được đầu tư vốn
tín dụng đã phát huy hiệu quả, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng
SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 12


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

ngàn lao động và tăng ngân sách địa phương, góp phần vào công cuộc xây
dựng đất ước theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Qua 22 năm xây dựng và trưởng thành, PGD TP Pleiku đã không ngừng
phát triển cả về quy mô hoạt động (vốn điều lệ, vốn chủ sỡ hữu) cũng như
chất lượng dịch vụ, hàng hóa sản phẩm, dịch vụ NHTM được đưa vào triển
khai thực hiện, nhưng với cơ cấu nhân sự còn mỏng, lực lượng cán bộ còn
chưa đủ để đáp ứng cho nhu cầu của sự phát triển ngày càng gia tăng.
Số lượng CBCNV và người lao động hiện tại của PGD TP Pleiku là 15
người, trong đó số lượng cán bộ có trình độ đại học là 13 người, cán bộ có
trình độ trung cấp là 02 người, 02 nhân viên bảo vệ và 01 người lao động tạp
vụ.
Thông tin chung về ngân hàng BIDV – PGD Tp Pleiku

- Logo Ngân hàng:
- Tên pháp lý: Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam – PGD Tp Pleiku.
- Tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of
Vietnam
- Tên viết tắt: BIDV - Pleiku
- Slogan: Chia sẽ cơ hội – Hợp tác thành công.
- Phương châm hoạt động: Hiệu quả kinh doanh của khách hàng là mục
tiêu hoạt động của BIDV.
- Mục tiêu hoạt động: Trở thành Ngân hàng chất lượng – Uy tín hàng đầu
Việt Nam.
- Chính sách kinh doanh: Chất lượng – tăng trưởng bền vững – hiệu quả
-

an toàn
Địa chỉ: 47 Hoàng Văn Thụ, Pleiku, Gia Lai
Số điện thoại: (059) 3.827583
Fax: (059) 3. 827583
Webdite: http://www.bidv.com.vn
Email : bidv@hn.vnn.vn

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 13


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của BIDV – PGD TP Pleiku
2.1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ.
Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân
hàng nâng cao lợi nhuận, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục
vụ phát triển kinh tế Đất nước, cụ thể là:
- Huy động vốn ngắn trung dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư và
phát triển.
- Kinh doanh đa năng tổng hợp về tài chính, tiền tệ tín dụng và các dịch
vụ ngân hàng.
- Làm ngân hàng đại lý, ngân hàng dịch vụ đầu tư và phát triển từ các
nguồn vốn của chính phủ, các tổ chức tài chính tiền tệ, cá nhân tổ chức
trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật ngân hàng
- Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực về tài chính tiền tệ, tín dụng, dịch vụ
ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không
ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.

Giám Đốc

Phó Giám Đốc
2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức.
Hình 2.1 :Mô hình tổ chức của BIDV được thể hiện qua sơ đồ sau:

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2

GD Viên

Chuyên viên tư
vấn KH

P. Kế Toán
Trang 14
Ngân
Qũy


Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD:Nguyễn Thị Thùy Trang

Trong đó
Quan hệ trực tiếp
Quan hệ gián tiếp

SVTH : Nguyễn Thị Phương Thảo – K17QNH2
Trang 15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×