Tải bản đầy đủ

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN VĂN CÓ ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

TRƯỜNG THPT CHU VĂN

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2017
MÔN: NGỮ VĂN

AN – ĐẮK LẮK

Thời gian làm bài: 120 phút (không kể giao đề)
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi gồm 01 trang)
PHẦN ĐỌC HIÊU. (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ và thực hiện các yêu cầu sau
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Sách Ngữ văn 12, NXBGD-2007, tr. 144)
1. Xác định những phương thức biểu đạt trong đoạn thơ.
2. Cách xưng hô con trong đoạn thơ có ý nghĩa gì?
3. Chỉ ra và nêu tác dụng các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ.
4. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của nhân vật trữ tình?

PHẦN LÀM VĂN. (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Trong một buổi diễn thuyết vào đầu năm học, Bryan Dison – Tổng giám đốc
tập đoàn Coca Cola đã nói chuyện với học sinh về mối tương quan giữa nghề
nghiệp với những trách nhiệm khác của con người: …. “Bạn chớ để cuộc sống trôi
qua trong kẽ tay vì bạn cứ đắm mình trong quá khứ hoặc ảo tưởng về tương lai.
Chỉ bằng cách sống cuộc đời mình trong từng khoảng khắc của nó, bạn sẽ sống
trọn vẹn từng ngày của đời mình…”


(Sống trọn vẹn từng ngày – Thanh Hằng dịch từ Internet)
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình khoảng 200 từ về cuộc sống trước
lời khuyên ấy.
Câu 2. (5,0 điểm)
Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc của truyện ngắn Vợ nhặt
(Kim Lân).
-----------------------Hết------------------------Giám thị không giải thích gì thêm.


HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU
Câu 1: Những phương thức biểu đạt: Biểu cảm, miêu tả, tự sự.
Câu 2: Cách xưng hô : Tác giả xưng con thể hiện lòng biết ơn sâu nặng của
mình với cuộc kháng chiến, với tây bắc. Tây Bắc chính là mảnh đất mẹ, là Mẹ
Tổ quốc, Mẹ nhân dân mà Chế Lan Viên đang khao khát trở về.
Câu 3:
Biện pháp nghệ thuật so sánh:
Tác giả dùng tới 5 hình ảnh so sánh, là những so sánh kép, tầng bậc, làm thành từng
chum hình ảnh độc đáo : nghệ sĩ như nai, cỏ, én, đứa trẻ thơ đói lòng ; nhân dân
như suối ngọt, như cánh tay đưa nôi,… Tất cả những hình ảnh trên đều lấy từ đời
sống tự nhiên gần gũi của con người, nhưng trong cách nói của nhà thơ nó vẫn gợi
lên những liên tưởng mới lạ, đưa lại hiệu quả thẫm mĩ cao.
Câu 4: Khổ thơ thể hiện niềm vui người chiến sĩ cách mạng khi gặp lại nhân dân.
Về với nhân dân là về với những gì thân thuộc nhất, môi trường thuận lợi nhất; với
niềm vui, hạnh phúc chờ mong; về với ngọn nguồn thiết yếu nhất cùa sự sống; về
với lòng mẹ, tình mẹ bao la…Những hình ảnh diễn tả niềm sung sướng tột độ, ý
nghĩa sâu xa của cuộc trở về cho thấy sự trở về này là lẽ tự nhiên, hợp quy luật :
nghệ sĩ phải đến với nhân dân, gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân.
PHẦN II: LÀM VĂN


Câu 1:
- Yêu cầu: Đảm bảo hình thức đoạn văn (0,5)
- Giới thiệu câu nói: Đây là câu nói của Tổng giám đốc một nhãn hàng
nổi tiếng, có thể coi là bí quyết thành công của vị Tổng giám đốc này.


- Giải thích ngắn gọn câu nói và chỉ ra bức thông điệp ý nghĩa (0,5)
+ Con người phải biết sống với hiện tại bởi quá khứ chỉ là những điều đã
qua và tương lai là những điều chưa tới. Nếu chỉ đắm chìm trong quá khứ
thì con người sẽ tự đánh mất cơ hội của mình ở hiện tại
- Bày tỏ suy nghĩ về nghĩ của em về câu nói trên:
+ Bức thông điệp hoàn toàn đúng đắn, ngày hôm nay sẽ quyết định ngày
mai, nếu ngày hôm nay bạn làm không tốt thì ngày mai cũng không thể
tốt đẹp như bạn mong muốn. Thế nên, để có cuộc sống trọn vẹn, bạn phải
sống trọn vẹn từng ngày.
+ Rút ra bài học hành động: Để có một tương lai tốt đẹp, người học sinh
phải sống hết mình ngay hôm nay. Không ngủ quên trong chiến thắng với
những thành tích đã đạt được, không ảo tưởng về tương lai, phải chuẩn bị
cho mình một hành trang vững chắc để đón chờ những chông gai và thử
thách phía trước.
- Kết thúc vấn đề
Câu 2:
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Kim Lân
- Giới thiệu tác phẩm vợ nhặt
- Giới thiệu vấn đề: Giá trị nhân đạo
Thân bài:
- Giải thích khái niệm giá trị nhân đạo trong một tác phẩm văn học
- Phân tích biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm vợ nhặt
Biểu hiện 1: Cái nhìn sâu sắc và tấm lòng nhân hậu trước khát vọng của
con người.


Tác phẩm mở ra với bối cảnh đổi thay to lớn đầy nghịêt ngã của cuộc sống
con người khi nạn đói lịch sử vào năm 1945 tràn tới. Nó trở thành một hội chứng
can thiệp vào cuộc sống, đập vỡ biết bao nhiêu mái ấm, xô đẩy con người đến thế
giới tử thần, thay đổi nếp sống cách nghĩ, vốn văn hoá thuần phác trong sáng của
người Việt.
Nhân vật Tràng xuất hiện với sự biến đổi lớn, từ Tràng vui tính được trẻ con
yêu mến giờ câm lặng tiều tuỵ kiệt sức "đi từng bước mệt mỏi … đầu chúi về phía
trước" và cô gái (Vợ Tràng sau này) vì đói mà mất tínhcách với hành động bê tha
và hình dáng tiều tụy lam lũ. Thế giới người đói hiện lên dưới ngòi bút nhà văn
"Cái lều chợ đầy những người bồng bế dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma,
sáng nào cũng thấy ba bốn cái xác người chết nằm ngổn ngang".
Nạn đói xoá đi cái sinh khí của xóm làng, biến cái trù phú nhộn nhịp thành
cái xơ xác, tiêu điều và đặc biệt thế giới con người sống mang đầy hơi thở tử khí
của nghĩa địa, làng xóm không nhà nào có ánh đèn lửa khi đêm về, tiếng quạ kêu
hoà với tiếng hờ khóc của người chết… là âm thanh ghê rợn buốt nhói vỗ động
không gian. Giữa khung cảnh thê lương ấy ngòi bút Kim Lân đã dựng dậy câu
chuyện hôn nhân: Tràng “nhặt” người đàn bà xa lạ mà cái đói đã làm biến dạng tính
cách về làm vợ và đưa cô về làng.
Dưới góc nhìn hiện thực nghiêm lạnh người ta có thể đánh gíá hành động của
Tràng là hành động liều lĩnh và con người đã mất giá một cách thảm hại. Tuy
nhiên, đó là cái nhìn bên ngoài hời hợt của trái tim vô cảm. Cây bút nồng đượm hơi
ấm yêu thương và cái nhìn nhân văn Kim Lân muốn đạt tới một đích khác đó là
khai thác cái khát vọng âm ỉ cứ bền bỉ cháy trong các số phận nhân vật. Trước tiên
là khát vọng sống vẫn âm thầm cháy nơi cô gái. Bốn bát bánh đúc rõ ràng không


phải là nguyên nhân khiến cô gái chung thân với Tràng, dường như cô tìm thấy ở
Tràng có sự loé sáng hy vọng, đó là niễm tin dầu mơ hồ về một tổ ấm có thể được
tạo dựng. Chính đó là niềm tin của người đàn bà yếu đuối suy sụp mất hết hy vọng
sống vào sức mạnh nâng đỡ của người đàn ông và tình yêu sẽ chắp cánh cho cô bay
qua cõi chết.
Còn Tràng, sự liều lĩnh của anh cũng không thuần thuý chỉ là sự liều lĩnh của
một gã trai, mà nó còn là khát vọng. Đấy là khát vọng muốn có vợ, điêù mà mẹ anh
bất lực không làm nổi, điều mà thực tế đen tối không cho phép thì Tràng đã quyết
định để đạt được. Có thể còn có những băn khoăn nhưng, Tràng với quyết định ấy,
muốn chứng tỏ bản năng người đàn ông của mình , tin và hy vọng vào cuộc sống
mới ở trong tương lai.
Chính những khát vọng nhân văn ẩn khuất nơi đáy sâu con người ấy với
những mong muốn tồn tại và cuộc sống hạnh phúc dù rất đời thường nhỏ nhoi, ở
thời điểm mà mọi người không nhìn thấy, thậm chí chỉ thấy màu xám xịt bất lực
buông xuôi, thì nó lại được Kim Lân cảm được và hiện ra bằng những trang viết
giàu sức gợi . Rõ ràng, trái tim của nhà văn đã chan hòa vào nhịp đập nơi những
con tim nhỏ bé giữa không gian thời gian đè nặng bóng tử thần để cùng rung lên
những khát khao những điều ao ước tốt đẹp hơn. Ngòi bút Kim Lân khi viết những
tình tiết này đã tạo dựng được trang văn giục giã lòng người chống lại định mệnh
và chữa lại định mệnh.
Biểu hiện 2: Lòng yêu thương trân trọng với những người bất hạnh


Nụ cười nở bên cái chết


Cuộc dắt díu nhau về làng của hai người bất hạnh được miêu tả đầy ấn
tượng. Giá trị nhân đạo được toả ra từ những những dòng văn tươi vui dí dỏm.
Tràng đưa vợ về làng, tất nhiên không giống như chuyện vu quy bái tổ cờ xe võng
lọng, song cuộc hành trình của lứa đôi cũng không hề bị rẻ rúng, niềm vui ngập
tràn trong truyện. Kim Lân đã tỏ ra nhạy cảm và tinh tế khi khám phá tâm trạng
cảm nhận hạnh phúc của Tràng. Hơn 20 lần truyện nhắc đến nụ cười của Tràng lúc
thì phởn phơ, khi tủm tỉm, khi bật cười thành tiếng.
Đi bên cạnh một cô gái, gầy đói, rách như tổ đỉa, tuyệt nhiên không gợi lên
trong Tràng một chút coi thường hay khinh rẻ hoăc xấu hổ. Ngược lại nhờ cô gái
mà anh quên hết những cảnh sống ê chề,tối tăm hằng ngày quên cả đói khát ghê
gớm đang đe doạ. Đó là gì, nếu không phải chính cô gái , như niềm hạnh phúc
trong tầm tay, là nguồn ấm áp kề bên sưởi ấm cái cô đơn giá lạnh trong anh?
Cô gái không hề có mặc cảm về thân phận "bị nhặt", cô đi bên Tràng với
niềm tự hào sự ngang bằng, cô giễu anh "còn bé lắm đấy" mắng anh là "đồ khỉ gió"
phát đen đét vào lưng anh, khoặm mặt lại... Những đoạn văn như thước phim hiện
thực về tình yêu lứa đôi bay qua cái nền xám lạnh của nạn đói. Kim Lân đã để cho
nhân vật cô gái hiện đầy đủ sức mạnh chế át người đàn ông đang yêu như bất cứ
một cô gái xinh đẹp có đầy đủ tư cách nào. Tràng và cô vợ nhặt thực sự hướng về
nhau thích thú nhau như mọi đôi tình nhân khác trên cõi đời đang ở đỉnh say mê
hoan lạc. Cái cách miêu tả này không thua kém bất cứ những dòng văn lãng mạn
nào viết về lứa đôi. Khám phá được tình cảm ấy của con người khốn khổ để họ xuất
hiện trên những trang văn ngập tràn niềm vui và hạnh phúc, Kim Lân đã tỏ ra là
hiểu và thông cảm và cao hơn là trân trọng những con người bất hạnh. Ở thời điểm,
khi mà một số cây bút coi họ là những người tầm thường thì Kim Lân đã nhìn nhận


họ là những con người bình thường, khi mà kẻ thù dân tộc biến họ thành những xác
chết thì Kim Lân tìm thấy và vớt họ lên ở phẩm chất con người ham sống và khát
khao hạnh phúc, đó là chất nhân văn của ngòi bút Kim Lân.


Hôn nhân của Tràng đem lại sinh khí cho làng ngụ cư
Kim Lân đã bố trí cuộc trở về của cặp vợ chồng qua trước mắt mọi người

trong làng. Cuộc rước dâu có một không hai ấy lại không rơi vào bi kịch mà ngược
lại nó lại mang đến bầu sinh khí cho cả không gian cái làng đầy tử khí.
Trẻ con gào lên "chông vợ hài"; và người lớn "những khuôn mặt hốc hác u
tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc
sống khao khát và tối tăm của họ". Rõ ràng cuộc hôn nhân kỳ lạ của Tràng đã tạo
ra những âm thanh vui nhộn làm bừng sáng niềm yêu thương trong làng ngụ cư vốn
như những nhà mồ hoang lạnh với những sinh linh đang tuyệt vọng trong cơn đói
khát.
Sự kết hợp liều lĩnh của Tràng và cô gái trở thành một thách thức lớn quyết
liệt của khát vọng sống còn và hạnh phúc trước ý thức của xã hội làng ngụ cư đã tê
liệt vì đói. Thách thức ấy, là ngọn gió xua đuổi tà khí u mê vây bủa con người của
làng và làm cho tâm hồn con người nơi đây rạng rỡ hơn và le lói hy vọng sống.
Viết đoạn văn này nhà văn đã khẳng định sự sống và ý chí vươn lên chống
lại định mệnh của con người,luôn mãnh liệt. Tác giả trân trọng yêu mến hành động
liều lĩnh của họ và thổi vào cộng đồng những con người bất lực một niềm tin. Điều
này cao hơn cái bay bổng xa rời hiện thực của dòng văn lãng mạn, hoặc bế tắc của
dòng hiện thực, chỉ có trái tim nhân văn, cái nhìn của nhà văn cách mạng mới có
được điều này trong bối cảnh ấy.


Biểu hiện 3: Tình yêu cuộc sống sẽ thắng được chết chóc sẽ thay đổi
được cuộc sống.
Tư tưởng nhân đạo của truyện ngắn Vợ Nhặt không chỉ dừng lại ở việc phát
hiện khát vọng ngợi ca trân trọng những con người bất hạnh. Truyện còn đem đến
một thông điệp tình yêu cuộc sống sẽ tiêu diệt được chết chóc và sức mạnh tình yêu
sẽ làm thay đổi cuộc sống nó làm cho cây đời ngời sắc hoa thơm và ngát xanh tươi
mát.
Truyện phát triển tiếp bằng đoạn kể xảy ra trong căn nhà ọp ẹp của Tràng
với hai chi tiết : cuộc gặp gỡ mẹ già và những việc xảy ra sau đêm tân hôn. Người
mẹ trước nạn đói cũng thất vọng và hoài nghi như mọi người đàn bà đau xót khác.
Trước sự kiện con trai lấy vợ suy nghĩ của bà đẫm nước mắt cho cả con dâu và con
của mình "biết có qua nổi cơn đói khát này không?" Tuy nhiên trong lòng bà luôn
có sự vương vấn thông qua những suy tư, phân tích bằng cả lý trí, và trái tim, bằng
trách nhiệm và đạo lý của người mẹ. Bà nhìn nhận sự "nhặt vợ " không phải vì việc
làm thấp kém mà là may nên bà cũng mừng lòng. Bà nhìn người con dâu lòng đầy
thương xót, một thứ tình cảm trân trọng không chút coi thường; Bà nghĩ đến việc
phải có "dăm ba mâm cho phải lẽ". .. Với tất cả những điều ấy, rõ ràng trong thẳm
sâu suy nghĩ của Bà cụ Tứ luôn nghĩ về cô con dâu, nghĩ về chị như người còn
nguyên giá trị.
Tất cả những suy nghĩ hành động ấy của Bà thể hiện cái nhìn nhân đạo của
Kim Lân, suy nghĩ của ngươì trải đời như bà lão là kết luận về cách nhìn nhận con
người trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy. Cách nhìn như vậy là nâng cao phẩm giá
cho con người. Kim Lân đã thể hiện tư tưởng nhân đạo bằng cách xây dựng một
tình huống về con người bị đánh mất phẩm giá trong con mắt mọi người để nâng


niu khẳng định phẩm giá của họ. Có thể làm được như vậy là bởi nhà văn đã tự đặt
mình vào trong cuộc với các nhân vật của mình, và bằng tình yêu của mình sưởi ấm
giá lạnh của hiện thực, thắp lên ngọn lửa niềm tin vào cuộc sống
Sau một đêm thành vợ chồng, dường như tất cả không có gì thay đổi căn nhà
nát, người mẹ già và làng xóm còn vương đầy hơi tử khí, song một không gian đầy
sinh khí đã tràn đến thay thế. Ngôi nhà sạch sẽ gọn gàng ong nước đầy ăm ắp;
người vợ trẻ trở nên hiền dịu mẫu mực. Tràng thay đổi hẳn, đã phục sinh " hắn thấy
thương yêu và gắn bó ngôi nhà; hắn thấy hắn nên người có bổn phận lo lắng cho
vợ con sau này”.
Một niềm tin vào tương lai xuất hiện nơi suy nghĩ của ba con người khốn
khổ: "Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang qủe, nề nếp
thì cuộc đời của họ có thể khác đi làm ăn có cơ khấm khá hơn", "chưa bao giờ
trong nhà này mẹ con lại đầm ấm hoà hợp như thế". Rõ ràng sức mạnh làm thay
đổi không gian u tối nghèo đói biến nó thành thế giới nồng ấm chính là sức mạnh
của tình yêu, ở đây tình yêu nam nữ đã thay đổi con người ; tình yêu người mẹ với
con cái làm cho mọi người gắn bó hơn. Ngòi bút nhân đạo của Kim Lân đã “vẽ” lại
thế giới của căn nhà nát trở thành bức tranh về lâu đài hạnh phúc.
Biểu hiện 4: Kết thúc mở hướng dẫn đường cho con người tìm thấy cái
đích của hạnh phúc và thôi thúc hành động.
Hiện thực của bữa cơm ngày đói và món chè khoán đắng ngắt cổ họng đã
kéo họ về với thực tế. Chỉ với lòng yêu thương và hi vọng suông thì cuộc đời họ lại
rơi vào ngõ cụt, con đường họ đi dẫn tới nghĩa địa trong tiếng gào thét cuả nạn đói.
Chính ở thời điểm ấy cái cao tay già dặn của ngòi bút Kim Lân xuất hiện, Truyện


được xây dựng thêm những tình tiết đặc biệt quyết định tư tưởng chủ đề tác phẩm.
Đó là tình tiết nói về tin đồn mơ hồ Việt Minh phá kho thóc Nhật đế chia cho dân
nghèo; những hình ảnh đoàn người trên đê, lá cờ đỏ… gieo vào lòng người những
hy vọng mới. Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng phản ánh thế giới quan và
nhân sinh quan của các nhà văn thuộc dòng Hiện thực cách mạng với các dòng
trước đó. Con người muốn thoát khỏi kiếp nô lệ, thoát khỏi cái chết rình rập thì chỉ
còn cách vùng dậy chống lại bạo tàn để giành quyền sống mà thôi. Nhà văn đã
không dễ dãi để phát triển thêm chi tiết gia đình tham gia cách mạng nhưng lôgic
cuộc sống cho thấy họ không còn con đường nào khác. Dụng ý này gửi gắm trong
truyện đã làm cho giá trị nhân đạo của tác phẩm đi tới sự viên mãn.
Kết bài:
Nhân đạo không chỉ là khái niệm và rõ ràng không chỉ là tình cảm thông
thường trong mối quan hệ qua lại giữa người và người dù ở cung bậc cao nhất là
cảm thông chia sẻ; mà phải là giúp họ hoàn thiện nhân cách, có khát vọng vươn tới
tự hoàn thiện mình thành NGƯỜI, với đầy đủ sức mạnh chinh phục hoàn cảnh. Ở
điểm này, với những tình tiết cuối truyện nhà văn Kim Lân đã đạt được sự thành
công và đứng ở bậc cao hơn so với các nhà văn viết về cùng đề tài trước đó.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×