Tải bản đầy đủ

Pháp luật về công chứng của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VACHANG

PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA NƯỚC CỘNG
HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
Mã số:

60380102

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỂN THỊ THỦY

HÀ NỘI - 2016



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của cá nhân tôi. Các số liệu, trích dẫn tài liệu
tham khảo trong luận văn đảm bảo trung thực. Những kết
luận khoa học trong luận văn là của tác giả và chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vachang


LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Nguyễn Thị
Thủy, người đã giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt quá trình làm luận văn của
mình.
Xin gửi cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo đã trang bị cho tôi những
kiến thức thiết thực trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Hà
Nội.
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những
người đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập ở Việt Nam.

Hà Nội, ngày 5 tháng 8 năm 2016
Tác giả

Vachang


1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 3
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................... 4
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn .................................................................. 6
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ......................................... 7
5. Bố cục của luận văn...………………………………………………………7
CHƯƠNG 1 .................................................................................................. 8


MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CÔNG CHỨNG ............................................................................................ 8
1.1. Khái niệm về công chứng ................................................................... 8
1.1.1 Quan niệm về công chứng ............................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm của công chứng .......................................................... 11
1.1.3. Vai trò của công chứng trong quản lý hành chính nhà nước ....... 14
1.2. Điều chỉnh pháp luật về hoạt động công chứng................................. 17
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về công chứng........................ 17
1.2.2. Định nghĩa pháp luật về công chứng .......................................... 21
1.2.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật về công chứng............................ 22
CHƯƠNG 2 ................................................................................................ 24
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG NƯỚC CHDCND LÀO
.................................................................................................................... 24
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở nước
CHDCND Lào ......................................................................................... 24
2.2. Thực trạng pháp luật về công chứng nước CHDCND Lào ................ 27
2.2.1. Chủ thể thực hiện công chứng .................................................... 27
2.2.2. Nội dung hoạt động công chứng ................................................ 29
2.2.3. Thủ tục thực hiện công chứng .................................................... 33
2.2.4. Giá trị công chứng ..................................................................... 35
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về công chứng của nước CHDCND Lào
................................................................................................................ 36


2
2.3.1. Về công chứng viên ................................................................... 36
2.3.2. Nội dung và phạm vi công chứng ............................................... 41
2.2.3. Thủ tục công chứng ................................................................... 47
2.2.4. Một số nhận xét, đánh giá .......................................................... 48
CHƯƠNG 3 ................................................................................................ 53
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG CỦA CHDCND LÀO
.................................................................................................................... 53
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về công chứng ...................... 53
3.1.1. Xuất phát từ nhu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ........................................................................ 53
3.1.2. Khắc phục những yếu kém, bất cập trong hoạt động công chứng
của Lào ................................................................................................ 54
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chứng....................... 55
3.2.1 Thống nhất chỉ đạo từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực
công chứng .......................................................................................... 55
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động công
chứng ................................................................................................... 57
3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ Công chứng viên theo hướng chuyên
nghiệp hoá ........................................................................................... 59
3.2.4. Xây dựng bộ Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng ............... 62
3.2.5. Thành lập Hiệp hội công chứng ................................................. 65
3.2.6. Xây dựng cơ sở dữ liệu cho Hiệp hội Công chứng .................... 66
3.2.6. Xây dựng kho lưu hồ sơ công chứng chung .............................. 68
KẾT LUẬN ................................................................................................. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 72


3
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng
cứ cho hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi,
lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội;
có tác dụng góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật,
cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, đồng
thời góp phần vào việc duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội.
Việc tăng cường công tác công chứng trong tình hình hiện nay là yêu cầu
bức xúc của quản lý kinh tế, quản lý xã hội, hình thành một bước quan trọng thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị
và trật tự an toàn xã hội. Để phát huy hiệu quả của hoạt động công chứng, tăng
cường quản lý xã hội bằng pháp luật và giúp đỡ pháp lý cho công dân, cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, năm 1992 Nhà nước Lào đã ban hành
Luật Công chứng, điều đó chứng tỏ tổ chức và hoạt động công chứng là một
lĩnh vực không những được xã hội chú ý mà còn được Nhà nước luôn quan tâm
để hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Lào.
Nền kinh tế thị trường, trình độ xã hội hóa ngày càng cao, các quan hệ dân
sự, kinh tế, thương mại ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi tổ chức và hoạt
động công chứng cần phải đáp ứng kịp thời những nội dung của quá trình đổi
mới mà Đảng và Nhà nước Lào đề ra là "cải cách nền hành chính nhà nước là
trung tâm của việc xây dựng hoàn thiện nhà nước trong những năm trước mắt".
Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan bổ tạo tư
pháp, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, khuyến khích
và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu lợi ích của


4
nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công
với sự giám sát của cộng đồng.
Hoạt động công chứng ở Lào trong những năm vừa qua, chừng mực nào đó
đã đóng góp một phần tích cực vào việc lập lại trật tự trong lĩnh vực giao dịch
dân sự, kinh tế, thương mại, đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩa thiết thực, đáp
ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Song, tình hình hiện nay đang đặt
ra cho tổ chức và hoạt động công chứng nhiều vấn đề cần phải được giải quyết
bằng việc tổ chức lại hệ thống công chứng theo hướng thực hiện dịch vụ cộng
với sự giám sát của cộng đồng, kiện toàn bộ máy và tinh giảm biên chế một
cách cơ bản. Chuyên môn hóa các hoạt động hỗ trợ tư pháp nói chung và công
chúng nói riêng nhằm giải quyết kịp thời, khách quan, chính xác các việc công
chứng mà nhân dân và tổ chức yêu cầu. Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết
trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về công chứng của nước Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thể chế công chứng là nội dung quan trọng và cần thiết trong đời sống
kinh tế và xã hội của tất cả các nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển.
Ở Lào, thể chế này còn rất mới, mặc dù thời phong kiến đã có cơ quan
quản lý văn khế, nhưng những năm sau đó Lào không triển khai, đến nay mới
bắt đầu thiết lập lại, do đó việc nghiên cứu về công chứng có thể nói là đang ở
giai đoạn bắt đầu, còn thiếu nhiều cả lý luận và thực tiễn.
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về công chứng. Các tác
giả chủ yếu nghiên cứu nhiều nội dung khác nhau, một số công trình nghiên cứu
một cách khái quát hoặc mang tính chất giới thiệu pháp luật về công chứng, cụ
thể là: Nguyễn Văn Yểu - Dương Đình Thành "Những điều cần biết về công
chứng nhà nước'' (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992); Đề tài khoa


5
học "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động
công chứng ở Việt Nam" (Mã số 92-98-224 của Bộ Tư pháp, 1993); Giới thiệu
vài nét về xây dựng và hoàn thiện công chứng nhà nước ở Thành phố Hà Nội
(Thông tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 1995); "Công chứng nhà nước và
những vấn đề đặt ra hiện nay" của TS. Trần Thất (Thông tin khoa học pháp lý,
Bộ Tư pháp, 1995); "Công chứng nhà nước Thành phố Hà Nội những vấn đề
cần quan tâm" của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước,
số 11, tháng 6 năm 1995; "Tình hình công chứng hiện nay và những vấn đề đặt
ra" của tác giả Trần Kiên, đăng trên Tạp chí Pháp luật, số chuyên đề tháng 7
năm 1995; "Công chứng nhà nước công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân và các tổ chức" của tác giả Dương Đình Thành, đăng trên
Tạp chí Pháp luật, số chuyên đề tháng 7 năm 1995; "Một số vấn đề công chứng
các giao dịch về tài sản ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp", Luận văn Thạc
sĩ Luật học của tác giả Đỗ Xuân Hòa, hoàn thành năm 1998; "Một số vấn đề về
công chứng nhà nước của TS. Nguyễn Ngọc Hiến'' (tài liệu nghiệp vụ về công
chứng - Bộ Tư pháp phát hành tháng 10/1996); "Tập bài giảng công chứng, luật
sư, giám định tư pháp, hộ tịch" của Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; "Những
vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi nội dung hành vi công
chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay", (Luận án
Tiến sĩ Luật học của Đặng Văn Khanh, Hà Nội 2000).
Trên đây là các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, nơi mà tác giả đang
học tập, các đề tài nghiên cứu nói trên đã có những giải quyết nhất định về các
lĩnh vực công chứng ở Việt Nam trong những năm trước đây, các nội dung
nghiên cứu cập nhật khá đầy đủ và đảm bảo tính hệ thống về tổ chức và hoạt
động công chứng ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Còn ở Lào do nguồn
tài liệu tham khảo còn hạn chế, pháp luật về công chứng Lào vừa thiếu, vừa
không ổn định, nhận thức chung về công chứng không được thống nhất. Đến


6
nay cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu hoàn thiện về vấn đề pháp luật
về công chứng. Do vậy đề tài của tác giả là vấn đề cấp thiết góp phần vào hoàn
thiện pháp luật về công chứng tại Lào.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trước yêu cầu của cuộc cải cách tư pháp nói chung và cải cách hệ thống
các cơ quan bổ trợ tư pháp nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội
trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các hoạt động kinh tế, thương mại dân
sự, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử của Tòa án. Mục đích của
luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện những
vấn đề pháp luật về công chứng nhà nước, để từ đó góp phần giải quyết các
vướng mắc về tổ chức và hoạt động công chứng ở Lào hiện nay.
- Nhiệm vụ:
Về mặt lý luận: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khái niệm công
chứng trong quá trình lịch sử lập pháp hành chính - nhà nước Lào
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật về tổ
chức và hoạt động công chứng được áp dụng trong thực tiễn hoạt động của các
phòng công chứng cũng như hoạt động của các cơ quan khác có thẩm quyền
thực hiện công chứng, đồng thời trên cơ sở những vướng mắc, thiếu sót mà thực
tiễn hoạt động công chứng đặt ra để phân tích về mặt lý luận và đề xuất những
giải pháp nhằm kiện toàn lại tổ chức công chứng ở Lào.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu về khái niệm công chứng ở Lào hiện nay; nghiên cứu
về tổ chức công chứng, hoạt động công chứng ở Lào.
- Phạm vi nghiên cứu:


7
Luận văn nghiên cứu việc tổ chức và hoạt động công chứng ở Lào gồm các
vấn đề về khái niệm công chứng, việc tổ chức các cơ quan thực hiện công
chứng.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng NDCM Lào về Nhà nước
và pháp luật. Trên cơ sở phương pháp luật duy vật biện chứng và quan điểm
lịch sử để khẳng định vị trí vai trò chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt
động công chứng.
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đặc biệt chú ý sử dụng phương pháp tổng
hợp, phân tích, thống kê, so sánh, sử dụng phương pháp điều tra, phân tích thực
tiễn tổ chức và hoạt động của các Phòng công chứng.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn chia làm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công chứng và pháp luật về công
chứng nước CHDCND Lào
Chương 2: Thực trạng pháp luật về công chứng nước CHDCND Lào
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về công chứng của nước
CHDCND Lào


8
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CÔNG CHỨNG
1.1. Khái niệm về công chứng
1.1.1 Quan niệm về công chứng
Lịch sử hoạt động công chứng, chứng thực, làm chứng gắn liền với sự
phát triển của xã hội. Suốt từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm
công chứng (Công chứng viên) và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt
rõ ràng. Ở thời kỳ cổ đại, người ta đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn
thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị
thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không thành văn theo truyền
thống (giao kết miệng). Lịch sử hình thành và phát triển nhà nước cũng cho
thấy, đã có thời kỳ chưa có khái niệm công chứng. Một số tác giả nghiên cứu
về công chứng cho rằng, có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng
thư và công chứng thư. Các tác giả đã đưa ra các khái niệm "công" và "tư" để
phân biệt giữa những cá nhân tự do làm chứng với các chức danh được nhà
nước giao cho nhiệm vụ thực hiện hành vì công chứng hoặc Nhà nước trực
tiếp thực hiện các việc công chứng. Điều này được lý giải như sau:
- Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân Lào tồn tại
một truyền thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những
người có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác
nhận. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào
hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đó làm cơ sở để giải
quyết vụ việc tranh chấp. Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân
thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là
"tư chứng thư". Đây là một dạng chứng nhận của bất kỳ một cá nhân nào,
thực hiện một cách tự do, làm chứng không phải là nghề chuyên môn mà họ


9
được giao, nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyên khích
nhân dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu. Loại hình này xuất
hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay. Ở Lào, các thể thức giấy
tờ, khế ước như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng
đất… đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải
điểm chỉ vào văn tự. Đây là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý,
hạn chế tranh chấp kiện tụng. Ngày nay, Bộ luật Dân sự của nước ta vẫn quy
định trong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực… Nếu một bên
cho rằng bên kia không trung thực, thì phải có chứng cứ (chứng cứ ở đây bao
hàm cả những chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do
bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cung cấp. 1
Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác
nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản
ảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ
cho Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua
bán nhà… Đây là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực
trong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh
nghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động.
Có thể nói, tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đa
dạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến như
một nhu cầu tất yếu cho xã hội.
- Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt
động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích
công, do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là công
1

QLNN về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra, ThS.Đặng

Văn Tường, QLNN. Học viện hành chính. Số168 tháng 1/2010, tr. 47 - 50


10
chứng. Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vì công chứng được
nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm
tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định
của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng
các hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà
nước ủy quyền (công chứng tự do).
Hiện tại có những quan điểm cho rằng, công chứng có nghĩa là lấy
công quyền mà làm chứng (Attestation), sự chứng nhận của nhà nước ở đây
mang tính quyền lực công. Quan điểm khác cho rằng, bản thân thuật ngữ
công chứng đã mang ý nghĩa là sự làm chứng công khai, có dấu ấn của công
quyền, công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm thực hiện một
công vụ (Thuật ngữ công vụ ở đây được hiểu là không hoàn toàn lệ thuộc
vào những quy định của pháp luật về nền hành chính công). Công chứng là
một hoạt động hành chính công, lấy lẽ công để làm chứng, là sự nhận thức,
xác thực hoặc xác nhận một sự kiện, một hiện tượng đúng là như thế. 2
Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, hoạt động công chứng thể hiện vai
trò của quần chúng (công chúng, dân chúng), hoạt động phục vụ lợi ích
công cộng, thể hiện tính công khai do nhà nước cho phép và thừa nhận.
Hoạt động công chứng không phải là hoạt động thực thi công quyền, không
phải lấy quyền công, lẽ công mà mà đơn giản chỉ là chứng nhận như quan
điểm vừa nêu trên, tác giả tán thành với quan điểm này.
Công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đã hình thành ở Lào
khá sớm, nhưng mãi đến năm 1992, thuật ngữ “công chứng” mới bắt đầu
được sử dụng một cách rộng rãi và cho đến nay, vẫn được sử dụng, cụ thể
2

Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn : Luận văn

thạc sỹ, Nguyễn Quang Minh; Hà Nội, 2009.


11
tại Điều 1 Luật Công chứng Lào quy định: “Công chứng nhà nước là một
hoạt động của nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và
xác nhận các văn bản sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn
bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện.
Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức
phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào”.
- Luật Công chứng năm 2006 của Việt Nam quy định: “Công chứng là
việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà
theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự
nguyện yêu cầu công chứng”.
Có thể nhận thấy, những khái niệm về công chứng gắn liền với những
thay đổi của xã hội ở Lào cũng như ở Việt Nam nhưng đều thể hiện quan
điểm của nhà nước về công chứng cũng như trình độ phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, nhưng xét về bản chất và mục đích của hành vi thì vẫn không
thay đổi.
Từ các quy định pháp luật trên đây, có thể hiểu: Công chứng là việc
Công chứng viên, theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc quy định của pháp
luật, chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các văn bản hợp đồng,
giao dịch nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức.
1.1.2. Đặc điểm của công chứng
Thứ nhất, công chứng là hành vi do Công chứng viên thực hiện. Điều
này phân biệt với chứng thực là hành vi do người đại diện của cơ quan hành
chính công quyền thực hiện.


12
Công chứng viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, chịu
trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của
người yêu cầu công chứng đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch sau khi
được chứng nhận có giá trị pháp lý như một văn bản của cơ quan công
quyền.
Công chứng viên Phòng Công chứng là công chức, viên chức nhà nước
được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chứng viênVăn phòng công
chứng không phải là công chức, viên chức nhà nước, lương và các khoản thu
nhập khác được trích từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và
nguồn thu hợp pháp khác từ hợp đồng công chứng.
Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là chứng nhận các hợp đồng
và lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng
nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật.
Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt động công chứng để phân biệt với
các hoạt động mang tính chất hành chính khác của các cơ quan công quyền.
Việc lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng và
chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật chính là
việc tạo nên các văn bản công chứng.
Lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng là
việc Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình giúp người yêu
cầu công chứng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình được thỏa thuận
bằng văn bản, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hoặc tư
vấn, góp ý để người yêu cầu công chứng thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng
của mình một cách rõ ràng, chính xác trong các văn bản họ tự lập nhằm đảm
bảo tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch họ tự lập. Nói cách khác,
hành vi của Công chứng viên nhằm xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp
của hợp đồng hoặc các giao dịch.


13
Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch là vô
cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ. Trong pháp
luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực
của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ. Sở dĩ
pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác
thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được Công chứng viên
xác nhận. Tính xác thực này được Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận
ngay khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ
xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: Sự tự nguyện
của các bên khi ký kết hợp đồng) và do đó, nếu không có Công chứng viên
xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh
được.
Chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật là việc
Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình xác nhận tính hợp
pháp của hợp đồng, giao dịch. Đây là điểm khác biệt giữa trường phái công
chứng nội dung (công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức
(công chứng hệ Anglosason). Trong công chứng hệ Latine thì các hợp đồng,
giao dịch hợp pháp mới được Công chứng viên xác nhận, những hợp đồng,
giao dịch bất hợp pháp thì bị từ chối công chứng. Đặc điểm này của công
chứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp trong hợp
đồng, giao dịch của công chứng.
Nội hàm của khái niệm công chứng là tạo lập nên một loại chứng cứ
viết, có giá trị pháp lý cao, vì các hợp đồng, giấy tờ này được chứng nhận
tính xác thực của nó do những người có thẩm quyền công chứng, chứng nhận
nên nó mang dấu ấn của công quyền và trở thành “công chứng thư”. Về
ngoại diên của khái niệm công chứng bao hàm các loại giấy tờ, hợp đồng mà


14
theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng, hoặc cá nhân tổ chức
tự nguyện công chứng để những giấy tờ này trở thành một chứng cứ pháp lý.
Thứ ba, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thực hiện.
Văn bản công chứng do Công chứng viên lập theo trình tự, thể thức bắt
buộc, ghi lại chính xác thời gian, không gian, ý chí, nguyện vọng cũng như
năng lực chủ thể của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch. Văn
bản công chứng trước hết nhằm tạo lập giá trị thực hiện giữa các bên tham
gia giao dịch, hợp đồng bằng việc ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên,
là căn cứ pháp lý không thể bác bỏ buộc các bên phải thực hiện đúng các
cam kết đã xác lập, đồng thời có giá trị pháp lý cả với bên thứ ba.
Thứ tư, Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với tổ chức và hoạt động
công chứng
Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công. Công
chứng là một biện pháp phòng ngừa tranh chấp, giúp công dân, tổ chức thực
hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng pháp luật. Hoạt động
công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hợp đồng tư
pháp nhưng hoàn toàn khác với hoạt động của các cơ quan tư pháp.
1.1.3. Vai trò của công chứng trong quản lý hành chính nhà nước
Công chứng có tầm ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến đời sống, xã hội
và phát triển kinh tế. Bởi trong cuộc sống đời thường cũng như trong dân sự,
kinh tế, thương mại diễn ra nếu không suôn sẻ thì các đương sự tìm kiếm
chứng cứ, hoặc là để bênh vực cho lý lẽ của mình hoặc là bác bỏ lập luận của
đối phương...
Để phòng ngừa các tranh chấp, bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ
giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại mà đương sự tham gia, họ cần đến chứng
cứ công chứng- loại chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy hơn hẳn các loại
giấy tờ không có công chứng hoặc chỉ trình bày bằng miệng.


15
Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu
được của Nhà nước pháp quyền. Thông qua hoạt động công chứng và các quy
định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời
sống xã hội, thành hành vi sử xự theo đúng pháp luật.
Do đó, xét trên bình diện công dân thì văn bản công chứng là một công cụ
hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra
sự ổn định của quan hệ giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương. Mặt
khác, về phương diện Nhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một bằng chứng
xác thực, kịp thời không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp có ý kiến
của người thứ ba và được quá trình tố tụng cho là không đúng.
Về giá trị pháp lý, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên
liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình
thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ
trường hợp các bên tham gia hợp đồng có thoả thuận khác. Văn bản công chứng
có giá trị chứng cứ ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không
phải phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu.
Trong phát triển kinh tế, các văn bản pháp lý được công chứng tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức tiện lợi trong giao dịch hơn. Đồng thời,
đây là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia giao
dịch phải xác nhận tính xác thực của hợp đồng, cũng như địa vị, trách nhiệm
pháp lý trong tham gia giao dịch. Vì vậy, việc bắt buộc công chứng các loại hợp
đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế sẽ tránh được nhiều rắc rối, kiện cáo
phát sinh.
Ở Lào, công chứng và chứng thực là hai hoạt động có ý nghĩa hoàn toàn
khác nhau. Xét về bản chất, công chứng và chứng thực có khái niệm không
giống nhau. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn không ít người lầm tưởng
rằng công chứng và chứng thực là một. Bởi vì chúng được xếp vào nhóm chứng


16
nhận tính xác thực, hợp pháp của văn bản, hợp đồng. Tuy nhiên giữa công
chứng và chứng thực vẫn có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:
Về khái niệm
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp
của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp,
không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Lào sang tiếng
nước ngoài hoặc ngược lại mà theo quy định pháp luật phải công chứng hoặc cá
nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.
Chứng thực là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào bản chính
để chứng thực bản sao là đúng với bản chính
Về thẩm quyền
Công chứng do cơ quan bổ trợ tư pháp thực hiện. Phòng công chứng do
UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư
pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng. Văn phòng công chứng do 2 công
chứng viên hợp danh trở lên thành lập theo loại hình tổ chức của công ty hợp
danh, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài
chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu
hợp pháp khác.
Chứng thực chủ yếu do cơ quan nhà nước thực hiện: Phòng Tư pháp;
UBND xã, phường; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ
quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Lào ở nước ngoài;
công chứng viên... Tùy từng loại giấy tờ mà thực hiện chứng thực ở các cơ quan
khác nhau.
Về bản chất
Công chứng bảo đảm nội dung của một hợp đồng, một giao dịch, công
chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó và


17
qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu rủi ro. Công chứng mang tính
pháp lý cao hơn.
Chứng nhận sự việc, không đề cập đến nội dung, chủ yếu chú trọng về mặt
hình thức.
Về giá trị pháp lý
Công chứng: Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng
viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Hợp đồng, giao dịch
được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường
hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền
yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên tham
gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác. Hợp đồng, giao dịch được công
chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch
được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là
vô hiệu. Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản
được dịch.
Chứng thực: Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay
cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác. Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh
người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm
của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản. Hợp đồng, giao dịch được
chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký
kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc
dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.
1.2. Điều chỉnh pháp luật về hoạt động công chứng
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về công chứng
Thứ nhất, điều chỉnh pháp luật về công chứng nhằm đảm bảo sự ổn định
và phát triển của các Văn phòng công chứng.


18
Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công
chứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao. Không giống như
sự phát triển của các mô hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổ chức
hành nghề công chứng cần có sự điều tiết, phân bổ và kiểm soát trong một quy
hoạch, nhất là sau khi hoạt động công chứng đã được xã hội hóa. Chính vì vậy,
rất cần thiết có quy hoạch phát triển các mạng lưới các tổ chức hành nghề công
chứng, cũng như thực hiện quản lý nhà nước (QLNN) về công chứng để bảo
đảm các tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và phân bố một cách
hợp lý, khoa học, đáp ứng các yêu cầu công chứng của nhân dân một cách đầy
đủ và thuận tiện.
Mục tiêu của xã hội hóa công chứng là phát triển rộng mạng lưới công
chứng, xóa bỏ việc kiêm nhiệm chức năng công chứng của các cơ quan hành
chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công. Cải cách xã hội gắn liền với cải cách
hoạt động tư pháp là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu. Nếu
nhà nước buông lỏng quản lý, hậu quả sẽ là vô cùng nghiêm trọng. Thực tế đã
chứng minh, do Lào chưa có đựợc một hệ thống pháp luật trải rộng và thống
nhất trong việc áp dụng, chưa có một ngân hàng hồ sơ lưu trữ tốt nên đã có rất
nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động của công chứng. Điều đó thêm một lần
nữa khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của VPCC trong sự nghiệp phát triển
ổn định kinh tế xã hội tại Lào hiện nay.
Thứ hai, điều chỉnh pháp luật về công chứng nhằm đảm bảo tính xác
thực, tính hợp pháp cũng như hiệu lực của văn bản công chứng
Với vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực (sự có thực, hợp
pháp của các hợp đồng giao dịch) công chứng có vai trò tích cực trong việc
phòng ngừa các tranh chấp hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra. Vì thế, văn bản
công chứng có ý nghĩa là chứng cứ trước tòa, là căn cứ pháp lý hợp pháp để xác
lập quyền sở hữu cho các bên có quyền liên quan (ví dụ văn bản công chứng


19
hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là căn cứ
để cơ quan đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử
dụng đất cho các chủ thể...). Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tư vấn: Công
chứng viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng về các thủ tục pháp lý trong
hoạt động công chứng (khác với luật sư)....; Hoạt động công chứng đem lại
nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (thu phí công chứng...).
Có thể nói công chứng có mặt hầu hết trên các lĩnh vực, và gắn liền với
đời sống của một cá nhân, một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, đến mọi
hoạt động của một xã hội để đảm bảo cho mọi giao dịch xã hội được phát triển
an toàn, bền vững. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập
và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi ích kinh
tế xuất phát từ các sử dụng quyền sở hữu đó thông qua công chứng.
Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa
hành vi vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro
tranh chấp xảy ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bản
công chứng để giải quyết các vụ việc tranh chấp. Văn bản công chứng có giá trị
chứng cứ và Công chứng viên là người được nhà nước bổ nhiệm, chịu trách
nhiệm trước pháp luật đối với những giao dịch, hợp đồng mà mình chứng nhận,
vì thế, nó có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Thứ ba, điều chỉnh pháp luật về công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt
động của Văn phòng công chứng đúng phạm vi quy định của pháp luật, không
trái pháp luật và đaọ đức xã hội
Công chứng là hoạt động được nhà nước ủy quyền để chứng nhận tính
hợp pháp, tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch. Vì thế, việc xác định
phạm vi, ranh giới các việc công chứng, nói cách khác là xác định thẩm quyền
củaVăn phòng công chứng được làm những việc gì có ý nghĩa rất quan trọng


20
đối với nhà nước trong quản lý đối vớiVăn phòng công chứng, nhằm phòng
ngừa những vi phạm rất dễ xảy ra trong lĩnh vực này.
Việc xác định phạm vi công chứng ở các nước không giống nhau, tùy
thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng nước và do nhà nước lựa chọn, nhưng
thông thường có 2 cách: Cách thứ nhất, nhà nước liệt kê các việc công chứng:
được áp dụng ở các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây; cách thứ hai, nhà nước
xác định phạm vi (khung pháp lý), sau đó các văn bản pháp luật sẽ quy định
những việc bắt buộc phải công chứng (Anh, Pháp, Đức).
Ở Lào, thực tiễn hoạt động công chứng ngày càng phát triển. Một mặt,
do sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế,
thương mại ngày càng phong phú, đa dạng; mặt khác, do nhận thức pháp luật
của người dân về quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ dân sự ngày
càng cao, đã chứng minh một chân lý rằng, trong bất kỳ lĩnh vực nào, để đạt
được thành công, yếu tố đầu tiên là phải xác định được mục đích của công việc
đó cần hay không cần phải làm cái gì. Trong lĩnh vực hoạt động công chứng,
việc xác định phạm vi công chứng mở rộng hay thu hẹp sẽ tùy thuộc vào nhu
cầu quản lý nhà nước ở từng giai đoạn cụ thể.
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển rất năng động của cơ chế thị
trường và sự hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của công chứng ngày càng trở nên
quan trọng, giúp nhà nước quản lý tốt các hoạt động giao dịch. Việc xác định
mục đích và nội dung hợp đồng khi công chứng không vi phạm pháp luật,
không trái đạo đức xã hội là giới hạn phạm vi hoạt động củaVăn phòng công
chứng. Nhà nước sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý rất nặng nề đối với các chủ
thể thực hiện hành vi công chứng, đòi hỏi Công chứng viên vừa phải có nghiệp
vụ chuyên môn cao, vừa phải có đạo đức nghề nghiệp trong sáng mới có thể
đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.


21
Công chứng viên của VPCC đều do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và
hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật. Công chứng viên trong tác
nghiệp chuyên môn không chịu trách nhiệm trước cơ quản lý hay trước Trưởng
phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Công chứng viên có sự độc lập
khi tác nghiệp, vì thế ở khía cạnh này, Công chứng viên không bị lệ thuộc vào
cấp trên. Pháp luật không cho phép các cơ quan quản lý, trưởng VPCC áp đặt
mệnh lệnh hành chính hay can thiệp thiếu căn cứ pháp luật vào tác nghiệp
chuyên môn. Để đảm bảo việc các Công chứng viên làm đúng theo quy định
của pháp luật, VPCC phải đảm bảo bằng việc mua bảo hiểm, tuy nhiên bảo
hiểm như thế nào, và đền bù như thế nào khi các Công chứng viên thực hiện
công chứng sai quy định của pháp luật thì gần như trong các văn bản QLNN
đều chưa tiên liệu được vấn đề này. Điều này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh
cho sự QLNN với các VPCC, buộc nhà nước phải có những biện pháp hữu
hiệu. Quy định chi tiết hơn, các luật quy định phải đồng nhất tránh tình trạng
làm thế nào cũng đúng. Hậu quả cuối cùng chỉ là những bên tham gia các giao
dịch không được đảm bảo sẽ phải hứng chịu.
1.2.2. Định nghĩa pháp luật về công chứng
Hoạt động công chứng gắn liền với sự phát triển của xã hội. Suốt từ
thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng (công chứng viên) và
người lập văn tự thuê, chưa được phân biệt rõ ràng. Ở thời kỳ cổ đại người ta đã
thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một
trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế
ước không thành văn theo truyền thống (giao kết miệng).
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, các hoạt động giao dịch và yêu cầu chứng nhận các việc công chứng
khác ngày một nhiều, để đáp ứng được yêu cầu nói trên việc giao cho các
cơ quan đại diện ngoại giao của Lào ở nước ngoài thực hiện công chứng và Ủy


22
ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện các việc chứng thực là cần thiết. Mặt
khác, như một tiền lệ ở nước Lào từ năm 1975 đến nay các việc công chứng,
chứng thực đều do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện là chủ yếu.
Bên cạnh những ưu thế thuận lợi nói trên là những bất cập cần phải được giải
quyết là phân định cụ thể các việc công chứng và các việc chứng thực. Nội hàm
của khái niệm công chứng và chứng thực là sự khác nhau của các loại việc về
công chứng và chứng thực chứ không phải chỉ phân định về thẩm quyền thực
hiện cùng một loại công việc. Không thể tách bạch một cách thuần túy là cùng
một việc nếu phòng công chứng hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Lào ở
nước ngoài thực hiện thì gọi là công chứng, nếu cũng việc ấy mà do Ủy ban
nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì gọi là chứng thực.
Như vậy, công chứng và chứng thực là hai khái niệm khác nhau cả về
phương diện tổ chức, phạm vi hoạt động, chủ thể thực hiện hành vi công chứng,
chứng thực. Để cho hoạt động công chứng được thực hiện có hiệu quả và bảo
đảm được sự quản lý của nhà nước thì nhà nước ban hành nhiều quy phạm pháp
luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của công chứng. Như vậy,
pháp luật về công chứng bao gồm một hệ thống các văn bản pháp luật khác
nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều luật quy định cụ
thể hóa các nội dung của công chứng, định hình các quy tắc xử sự của các bên
tham gia quan hệ công chứng. Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm pháp luật về
công chứng như sau: Pháp luật về công chứng là một hệ thống các quy tắc xử
sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện
nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động công
chứng.
1.2.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật về công chứng
Các quy định về chủ thể thực hiện công chứng: Là các tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động công chứng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×