Tải bản đầy đủ

báo cáo nghiên cứu công nghệ mã hóa thoại chất lượng cao LTE

BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ MÃ HÓA THOẠI CHẤT LƯỢNG CAO HD VOICE VÀ
ỨNG DỤNG TRUYỀN THÔNG QUA MẠNG 4G LTE ( Voice over LTE)

I, HD VOICE LÀ GÌ?
HD Voice là một công nghệ âm thanh băng rộng:
Thông thường, cuộc gọi được truyền tải trên một tần số giới hạn từ 300 Hz đến
3,4 kHz. Tuy nhiên, HD Voice là một công nghệ âm thanh băng rộng, tần số được
mở rộng từ 50 Hz đến hơn 7 kHz. Tần số lớn hơn có nghĩa sẽ có nhiều sóng âm và
dữ liệu giọng nói hơn được nén vào một kênh đơn. Khi thông tin được giải phóng
(truyền sang đầu dây bên kia), âm thanh cuộc gọi sẽ có chất lượng tốt hơn.
Tiêu chuẩn cho âm thanh băng rộng - được thiết lập bởi Tổ chức viễn thông quốc
tế thuộc Liên hợp quốc (International Telecommunications Union - ITU) vào năm
1988, là G.722. Đây là tiêu chuẩn có được thông qua thuật toán nén âm thanh
AMR-WB và thuật toán này giúp mở rộng tần số cuộc gọi. Chuẩn mã hóa âm
thanh cuộc gọi này được phát triển bởi Nokia và Voice Age.
HD Voice ban đầu được sử dụng trong các cuộc gọi hội nghị:
Nếu bạn từng tham dự các cuộc gọi hội nghị, bạn có thể cảm thấy khó khăn
khi nhân ra ai đang nói chuyện bởi những tiếng ồn xung quanh. Thông tin có thể bị
hiểu sai hoặc thất lạc do chất lượng âm thanh không đảm bảo. Tuy nhiên, công
nghệ âm thanh băng rộng khiến âm thanh cuộc gọi rõ ràng hơn. Bạn có thể nhận ra

tiếng của người nói, các nội dung nhấn mạnh được truyền đạt tốt hơn, tạp âm dư
thừa được cắt giảm và dễ dàng biết được ai đang nói chuyện với ai.
Không chỉ cuộc gọi trên điện thoại, HD Voice cũng xuất hiện đầu tiên trên loại
hình VoIP đi kèm với video. Một ví dụ, dịch vụ Skype đã khai thác HD Voice
thông qua một dạng mã hóa âm thanh có tên gọi là Silk.
HD Voice đang xuất hiện trên smartphone và được các nhà mạng lớn triển
khai:
Hãng Sprint đã giới thiệu chiếc HTC Evo 4G LTE - điện thoại tương thích
chuẩn âm thanh hội thoại HD đầu tiên của hãng. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Sprint
vẫn chưa triển khai HD Voice mà khoảng giữa năm 2012 người dùng mới sử dụng
được công nghệ này và người dùng ở 2 đầu dây cần phải có điện thoại hỗ trợ HD
Voice mới có thể cảm nhận được âm thanh có độ trung thực cao.
Sprint đã lên kế hoạch mở rộng khu vực cung cấp dịch vụ HD Voice trên toàn nước


Mỹ cho đến cuối năm 2012. Bên cạnh đó, nhà mạng Verizon cũng cho biết sẽ sớm
bổ sung HD Voice vào hạ tầng mạng của mình trong năm 2012. Riêng tại châu Âu,
người dùng đã có thể trải nghiệm HD Voice từ khá lâu trước đây, điển hình
như Orange - nhà mạng của Anh đã nâng cấp chất lượng cuộc gọi từ tháng 9 năm
2010.
HD Voice là một bước cải tiến lớn về chất lượng âm thanh:
Công nghệ âm thanh băng rộng mang lại một sự khác biệt lớn giữa chất lượng
hội thoại trong một cuộc gọi thông thường và HD Voice. Với HD Voice, âm thanh
sẽ lớn hơn và thực tế hơn khi tiếng ồn xung quanh được giảm thiểu. Để dễ hình
dung hơn, chúng ta có thể so sánh bằng việc xem truyền hình trên một chiếc TV
đời cũ và TV HD. TV HD cho chất lượng hình ảnh sắc nét hơn và đẹp hơn, mang
lại trải nghiệm tốt hơn cho người xem. HD Voice thực hiện chức năng tương tự
nhưng với âm thanh thay vì hình ảnh. Hy vọng chúng ta sẽ sớm được trải nghiệm
chất lượng cuộc gọi HD tại nhiều nơi khác trên thế giới với nhiều nhà mạng trong
những năm tới.m với video. Một ví dụ, dịch vụ Skype đã khai thác HD Voice thông
qua một dạng mã hóa âm thanh có tên gọi là Silk.

II, Công nghệ nén thoại trong HD Voice thông qua thuật toán nén âm thanh
AMR-WB (Adaptive Multi-Rate – Wideband)
Để vận hành tính năng HD Voice trong cuộc thoại, 3 công nghệ chính đã được sử
dụng. HD Voice sử dụng bộ mã âm thanh được cải tiến hơn (so với chất lượng âm
thanh thường) mang tên Adaptive Multi-Rate - Wideband (AMR-WB), những cải
tiến trong các thiết kế về mặt âm học và khả năng xử lý tín hiệu. Ba công nghệ
ngày sẽ được mô tả chi tiết bên dưới.
Trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu AMR-WB là một chuẩn mã hóa giọng nói được


phát minh dựa trên mã hóa tốc độ thích ứng , sử dụng phương pháp tương tự
như dự đoán tuyến tính đại số mã kích thích (ACELP). AMR-WB cung cấp chất
lượng lời nói cải tiến do băng thông giọng nói rộng hơn 50-7000 Hz so với bộ mã
hoá giọng nói hẹp mà nói chung được tối ưu hóa cho chất lượng đường
dây POTS 300-3400 Hz. AMR-WB được phát triển bởi Nokia và VoiceAge và nó
được 3GPP xác định lần đầu. AMR-WB được mã hoá dưới dạng G.722.2 , một
chuẩn mã hóa ngôn ngữ chuẩn ITU-T , chính thức được biết đến với tên mã
Wideband về phát biểu ở khoảng 16 kbit / giây sử dụng Đa băng tần Đa tốc Thích
ứng (AMR-WB) . G.722.2 AMR-WB là codec giống như 3GPP AMR-WB.
Định dạng AMR-WB có các thông số sau:




Dải tần số được xử lý: 50-6400 Hz (tất cả các chế độ) cộng với 6400-7000
Hz (chỉ ở chế độ 23,85 kbit / s)



Kích thước khung trễ: 20 ms



Nhìn về phía trước: 5 ms



Bộ giải mã AMR-WB sử dụng bộ lọc dải; sự chậm trễ một chiều của bộ lọc
này là 0,9375 ms



Độ phức tạp: 38 WMOPS , RAM 5.3Kài báo



Phát hiện hoạt động thoại , truyền không liên tục , tạo tiếng ồn thoải mái



Điểm cố định: Bit chính xác C



Điểm nổi: dưới công việc.

NHÂN ĐÔI BĂNG THÔNG DÀNH CHO ÂM THANH VỚI BỘ MÃ AMR-WB

Công nghệ cốt lõi đằng sau HD Voice là khả năng truyền giọng nói băng thông
rộng nhờ vào bộ mã AMR-WB. Nhờ vào bộ mã này, chất lượng âm thanh đã được
cải thiện đáng kể so với trong các cuộc thoại thường. Nếu so sánh với cuộc thoại
truyền thống, bộ mã này đã nhân đôi lương băng thông dành cho việc truyền tải âm
thanh (sử dụng ~7 kHz thay vì ~3.5 kHz). Bên cạnh đó, bộ mã cũng thêm vào các
âm nổi cần thiết để tránh những âm tiết bị nghẹt lại, điều vẫn thường xảy ra với
những chiếc di động trước đây.
NHỮNG CẢI TIẾN TRONG CÁC THIẾT KẾ ÂM HỌC
Bên cạnh sự hỗ trợ của bộ mã AMR-WB, một cải tiến quan trọng trong HD Voice
so với những cuộc thoại thường nằm ở chỗ các thiết kế âm học đã được thiết kế để
phù hợp trong việc sử dụng băng thông rộng mà bộ mã AMR-WB mang lại. Điều
này đồng nghĩa với việc các microphone và loa phải được sử dụng đúng loại và
chất lượng; những bộ phận này được tích hợp trên chiếc di động một cách tối ưu
nhất để tận dụng tối đa dải băng thông rộng.
THIẾT KẾ LẠI THUẬT TOÁN XỬ LÝ TÍN HIỆU
Thuật toán xử lý âm thanh cũng được thiết kế lại để làm việc tốt hơn với số lần lấy
mẫu trên 1 giây (sampling rate) cao hơn so với các cuộc thoại thường. Số lần lấy
mẫu trên 1 giây đối với HD Voice ít nhất là 16 kHz, so với 8 kHz của công nghệ
thường.


Một trong những thuật toán này là bộ phần triệt tiếng ồn. Một chiếc di động theo
chuẩn GSMA HD Voice phải bảo đảm được khi người dùng thực hiện cuộc gọi,
người nhận phải nghe được giọng nói một cách tự nhiên khi cường độ tiếng ồn nền
được giảm đi.
Tiêu chuẩn cho âm thanh băng rộng - được thiết lập bởi Tổ chức viễn thông quốc
tế thuộc Liên hợp quốc (International Telecommunications Union - ITU) vào năm
1988, là G.722.
G.722 - Mã hóa audio 7 kHz thành các luồng 48, 56 hoặc 64 kbps. Chất lượng cao
nhưng chiếm nhiều băng thông.
G.722 là chuẩn codec âm thanh dải rộng của ITU-T hoạt động ở tốc độ 48, 56 bà
64
Kbit/s.
Chuẩn được công bố bởi ITU-T năm 1988. Công nghệ của codec dựa trên subband
ADPCM(SB-ADCPM).
Trong bộ mã hóa băng con (subband), tín hiệu được chia thành các băng con tần số
sử dụng một bộ lọc Quadrature Mirror Filter (QMF). Bộ mã hóa băng con (SBC)
khai thác số liệu thống kê của tín hiệu và/hoặc các tiêu chí nhận thức để mã hóa
các tín hiệu trong mỗi băng tần sử dụng một số lượng khác nhau của các bit. Ví dụ,
các băng tần số thấp hơn thường được phân bổ nhiều bit hơn các băng tần số cao
hơn để bảo tồn các cao độ quan trọng của giọng nói. Thiết kế của bộ lọc được coi
là rất quan trọng trong SBC. Trong trường hợp không có tiếng ồn lượng tử hóa,
việc tái dựng tiếng nói một cách hoàn hảo có thể đạt được bằng cách sử dụng các
QMF. Tiêu chuẩn ITU G.722 tốc độ 7 kHz cho audio băng rộng ở 64 Kbit/s dựa
trên SBC 2 băng tần và được sử dụng chủ yếu cho hội nghị qua điện thoại ISDN
(Integrated Services Digital Network). Các băng con tần số thấp được lượng tử hóa
với tốc độ 48 Kbit/s, trong khi các băng con tần số cao được mã hóa ở mức 16
Kbit/s. Quy định cho tốc độ thấp hơn được thực hiện bằng cách lượng tử hóa
băng con tần số thấp ở 40 hoặc 32 Kbit/s. Các bộ lượng tử hóa trong G.722 tương
tự như các bộ lượng tử hóa ADPCM quy định tại G.726. Điểm MOS ở tốc độ 64
Kbit/s lớn hơn 4 cho tiếng nói và hơi ít hơn 4 cho âm nhạc, và độ trễ của G.722
khoảng 1,5 ms. Sự phức tạp của G.722 được ước tính là 5 MIPS. Hiện nay ITU
đang nỗ lực phát triển một bộ mã hóa tiếng nói băng rộng hoạt động ở tốc độ 16,
24,

32
Kbit/s.


.

Hình 2.1 Bộ mã hóa của chuẩn ITU G.722.
G.722 cung cấp chất lượng âm thanh tốt hơn nhờ phổ âm rộng 50-7000 Hz. G.722
có tốc độ lấy mẫu 16 kHz, 14 bit một mẫu, gấp đôi các giao diện điện thoại truyền
thống, cho ra chất lượng
âm thanh vượt trội.

III. ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI VOICE OVER LTE
1. Voice Over LTE là gì?
Voice Over LTE (VoLTE) - giải pháp công nghệ để cung cấp thoại và tin nhắn SMS
qua mạng LTE. Đây là một kỹ thuật giúp thực hiện cuộc gọi thông qua mạng LTE
(thay vì sử dụng mạng 2G hay 3G). Ở mức độ cơ bản nhất, giọng nói của chúng ta
được xem như là dữ liệu và VoLTE chính là công nghệ giúp truyền dạng dữ liệu
này khi thực hiện cuộc gọi. Nó không chỉ liên tục truyền và nhận các cuộc gọi
thoại mà còn cải thiện chất lượng cuộc gọi thoại mà không làm phát sinh thêm bất
kỳ khoản phí nào. (Gần giống như việc gọi thoại qua các ứng dụng OTT hiện nay
thông qua mạng WiFi). Đây là giải pháp cho phép các nhà khai thác hợp nhất các


chi phí, sử dụng phổ tần hiệu quả và cung cấp các dịch vụ phong phú cho các
khách hàng.
VoLTE không phải là một bước đột phá công nghệ mới, các ứng dụng truyền thông
phổ biến như Skype, Whatsapp, Viber… cũng đã cung cấp cái gọi là "cuộc gọi
miễn phí" dựa trên một hệ thống sử dụng công nghệ VoLTE. Chỉ có điều là các ứng
dụng này không hoàn miễn phí, nó sẽ khấu trừ băng thông trong gói cước của bạn.
Nhìn chung, internet đang ảnh hưởng đến toàn bộ ngành công nghiệp truyền thông
(dựa vào các công nghệ như 4G LTE và VoLTE). Không nói quá khi có thời điểm
nó chi phối mọi hình thức của truyền thông kỹ thuật số.
Tiền thân của VoLTE là giải pháp One Voice được phát triển với sự hợp tác của
hơn 40 nhà khai thác mạng và nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn trên thế giới như
AT&T, Verizon Wireless, Nokia hay Alcatel-Lucent. Giải pháp VoLTE bổ sung cho
mạng LTE với việc cung cấp dịch vụ thoại và SMS trên cùng một hạ tầng mạng
LTE. Dựa trên nền IMS (Ip Multimedia Subsystem), giải pháp VoLTE cho phép
các nhà cung cấp dịch vụ cung cấp nhiều dịch vụ hơn, như video và các dịch vụ
truyền thông phong phú (rich communication). VoLTE hứa hẹn sẽ giúp các nhà
khai thác di động cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ OTT. Từ đó, các nhà
khai thác dịch vụ có thể đổi mới các dịch vụ phong phú hơn, tinh tế hơn mang đến
những trải nghiệm người dùng mới và tương thích với bất kỳ thế hệ thiết bị di động
nào.
2. Triển khai VoLTE
VoLTE mang giá trị đến cho nhà khai thác, nhà cung cấp mạng, đối tá và cả người
tiêu dùng. Việc thực hiện VoLTE mang lại khá nhiều lợi ích:
- Nó cung cấp cách sử dụng các dải tần hiệu quả hơn so với dịch vụ thaioj
truyền thống.
- Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về dịch vụ phong phú, tin cậy.
- Loại bỏ việc thoại trên một mạng và dữ liệu trên mạng khác.
- Mở ra tiềm năng doanh thu mới, sử dụng công nghệ IMS làm nền tảng dịch
vụ chung.
- VoLTE có thể triển khai song song với các cuộc gọi video qua các dịch vụ đa
phương tiện của LTE và RCS, bao gồm việc chia sẻ video, nhắn tin đa
phương tiện, chat và chuyển file.
- Nó đảm bảo cho các dịch vụ video có thể tương tác trong toàn bộ hệ điều
hành, như là các dịch vụ thoại.


- Giúp tăng thời lượng Pin của máy lên tới 40% so với VoIP.
- Cung cấp trải nghiệm gọi điện thoại rõ ràng, thời gian thiết lập cuộc gọi
nhanh chóng.
Lịch sử triển khai VoLTE cụ thể như sau:
Vào tháng 5 năm 2014, Singtel đã giới thiệu dịch vụ VoLTE "đầy đủ tính năng
thương mại" đầu tiên trên thế giới, chỉ kết hợp với Galaxy Note 3 , sau đó nó được
mở rộng sang dịch vụ khác.
Tháng 6 năm 2014, Công ty KT giới thiệu dịch vụ chuyển vùng qua biên giới đầu
tiên trên thế giới dựa trên Voice over LTE. Nhà khai thác Hàn Quốc hợp tác với
China Mobile để phát triển dịch vụ chuyển vùng VoLTE.
Vào tháng 10 năm 2014, các nhà khai thác dựa trên kiến trúc phá vỡ địa phương
IMS với các hệ thống định tuyến chính.
Vào tháng 11 năm 2014, Verizon Wireless và AT&T Mobility tuyên bố đang cho
phép các kết nối VoLTE-to-VoLTE giữa các khách hàng tương ứng. Khả năng
tương tác của VoLTE giữa khách hàng của Verizon và AT&T bắt đầu vào năm
2015.
Ngày 11/7/2015, SEATEL Cambodia đã công bố dịch vụ VoLTE 100% thương mại
đầu tiên trên thế giới mà không có 2G/3G ở Campuchia.
Vào ngày 14/9/2015, Orange Romania đã đưa ra dịch vụ VoLTE cho người dùng
Samsung ở Romania.
Vào ngày 16/9/2015, Telstra đã thông báo rằng nó đã bắt đầu cho phép VoLTE
trong mạng của mình, bao gồm gọi đến mạng băng thông rộng quốc gia và các dịch
vụ kinh doanh và doanh nghiệp với các thiết bị cầm tay HD.
Vào ngày 30/11/2015, Telenor Đan Mạch đã tung ra VoLTE cho tất cả điện thoại
Samsung Galaxy S6. Và bổ sung cho các mẫu Samsung, Apple.
Năm 2016, Vodafone Hà Lan đưa ra hỗ trợ VoLTE, cùng với cuộc gọi Wi-Fi.
Tháng 7 năm 2016, PT Smartfren Telecom ra mắt các dịch vụ VoLTE làm việc với
Mitel, và trở thành nhà cung cấp dịch vụ VoLTE đầu tiên của Indonesia.
30/ / 2016, YES của YTL ra mắt dịch vụ 4G LTE để trở thành nhà cung cấp dịch vụ
VINLTE đầu tiên của Malaysia.


Tháng 6/2016 Movistar Peru ra mắt dịch vụ VoLTE thương mại tại Peru, bắt đầu từ
Lima và Callao cho Samsung Galaxy S6, S6 Edge và LG G4. Dịch vụ sẽ được kích
hoạt dần dần ở các phòng ban và thiết bị cầm tay khác. Movistar Peru là nhà khai
thác đầu tiên trong nước cung cấp dịch vụ này.
5/9/2016, mạng lưới 4G đầu tiên của Ấn Độ Jio đã tung ra dịch vụ VoLTE thương
mại mà không có dịch vụ dựa trên 2G/3G.
Tháng 10/2016, Orange Polska ra mắt dịch vụ VoLTE thương mại tại Ba Lan.
Tháng 11/2016, T-Mobile (Ba Lan) khai trương dịch vụ VoLTE thương mại tại Ba
Lan.
7/12/2016, Telenor Đan Mạch đã phát hành VoLTE cho tất cả các điện thoại có hỗ
trợ VoLTE.
8/3/ 2017, Cosmote là nhà khai thác đầu tiên khai thác dịch vụ VoLTE (và VoWiFi)
ở Hy Lạp.
24/4/2017, TIM đã đưa ra VoLTE cho tất cả các điện thoại có hỗ trợ VoLTE ở Ý.
Tháng 6/2017, nhà khai thác viễn thông lớn nhất Pakistan đã thử nghiệm VoLTE
qua mạng của họ.
Tháng 6/2017, nhà khai thác viễn thông lớn nhất của Bahrain Batelco đã bán ra
dịch vụ cho người dùng IOS.
Tháng 7/017, Digi.Mobil (RCS & RDS) sẽ là hãng thứ hai triển khai các dịch vụ
VoLTE thương mại tại Rumani.
Tháng 7/2017, TIM Brasil là hãng đầu tiên cung cấp VoLTE ở Brazil.
Tháng 8/2017, Proximus là người đầu tiên kích hoạt VoLTE ở Bỉ. Khách hàng đã
được thông báo bằng SMS rằng dịch vụ này đã có sẵn.
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ di động toàn cầu
(GSA), VoLTE đang ngày càng được nhiều nhà mạng triển khai. Tính đến ngày
25/01/2016, công nghệ thoại chất lượng cao qua mạng LTE (VoLTE) đã được tổng
cộng 118 nhà mạng đầu tư triển khai, nghiên cứu, thử nghiệm tại 56 quốc gia.
Trong đó bao gồm 46 mạng VoLTE thương mại tại 29 quốc gia.
Một số thị trường 4G phát triển sớm như Đức, Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore,
Hàn Quốc và Mỹ tiếp tục dẫn đầu thị trường cung cấp dịch vụ thoại chất lượng cao
khi mỗi quốc gia có từ 2 đến 3 nhà mạng cùng triển khai và thương mại hóa công


nghệ này. Đặc biệt, nhà mạng Vodafone của Anh đã cung cấp dịch vụ VoLTE
thương mại tại 5 quốc gia nước ngoài (Australia, Đức, Italy, Bồ Đào Nha và Tây
Ban Nha) nhưng lại nhường cơ hội khai thác thị trường trong nước cho nhà mạng 3
UK.
Trung Quốc, thị trường 4G LTE lớn nhất thế giới cũng không nằm ngoài cuộc đua
khi trong số 3 nhà mạng của nước này thì China Mobile đã thương mại hóa VoLTE
trong khi China Unicom đang triển khai còn China Telecom đang thử nghiệm.
Thị trường di động lớn thứ hai thế giới, Ấn Độ, hiện được đánh giá là thị trường
đang phát triển nhưng cũng có tới 3 nhà mạng (Bharti Airtel, RIL, Videocon) đang
thử nghiệm công nghệ này.
Hiện dịch vụ LTE thương mại đã có mặt tại 145 quốc gia nhưng chủ yếu chỉ dành
riêng cho dịch vụ dữ liệu. Các cuộc gọi vẫn được thực hiện trên mạng 3G và 2G.
Chính vì vậy việc triển khai và thương mại hóa VoLTE sẽ mở ra một kỉ nguyên
mới cho ngành công nghệ không dây. Các nhà mạng di động hi vọng chất lượng
của VoLTE sẽ giúp họ thu hút và giành lại khách hàng từ các dịch vụ VoIP hiện có.
Theo dự báo của GSA, với 39 mạng đang trong quá trình triển khai, 25 mạng đang
thử nghiệm và 5 mạng quy hoạch, số mạng VoLTE thương mại sẽ tăng lên thành ít
nhất là 80 mạng ngay trong năm 2016. Nếu con số này trở thành hiện thực thì cùng
với việc nâng cấp LTE lên LTE-Advanced, triển khai và thương mại hóa VoLTE sẽ
sớm trở thành một xu hướng công nghệ mới trên phạm vi toàn cầu.
Song song với sự tăng trưởng trong đầu tư triển khai VoLTE, thì số lượng các mạng
LTE được thương mại hóa cũng ngày càng nhiều hơn. Chỉ tính trong năm 2015 đã
có khoảng 65 mạng LTE được thương mại hóa. Trên toàn cầu, vùng phủ sóng LTE
tiếp tục được mở rộng. Hiện có 112 quốc gia được phủ sóng LTE và băng tần dưới
1GHz đang bắt đầu được triển khai, đặc biệt là băng 800MHz đang được sử dụng
cho các kết nối ở môi trường trong nhà (indoor) tại châu Âu. Băng tần APT700
được triển khai cho khu vực châu Á, tiếp đó là Mỹ Latinh và châu Âu. Cùng với
đó, những mạng LTE quy mô lớn cũng đang được đầu tư ở Trung Quốc đã chứng
minh cho sự phát triển của công nghệ LTE.
3. Đặc điểm kỹ thuật mới của VoLTE
Vì VoLTE cũng dựa trên nền IMS, việc triển khai của nó đã tạo cơ sở cho các dịch
vụ truyền thông tiên tiến như VoWiFi, RCS và hỗ trợ nhiều thiết bị. Sự tích hợp
của truyền thông IP trong điện thoại thông minh cũng tiến triển nhanh chóng, với
221 mẫu điện thoại VoLTE hiện có, cung cấp khả năng truy cập vào các tính năng


truyền thông phong phú như thoại, video và nhắn tin. Tuy nhiên, với sự gia tăng
nhanh chóng trong triển khai VoLTE, sự khác biệt nhỏ giữa các hiện thực mạng đã
gây ra những vấn đề đáng kể cho khả năng tương tác và kết nối. Các phiên bản
trước của chỉ rõ IRRS của VoLTE cho phép lựa chọn một loạt các tham số để áp
dụng cho các điều kiện mạng khác nhau. Do đó, khi các mạng bắt đầu kết nối các
dịch vụ VoLTE của họ, các lựa chọn khác nhau được lựa chọn bởi các mạng khác
nhau đã gây ra sự chậm trễ lớn để làm cho các mạng làm việc cùng nhau. Hơn nữa,
những khác biệt này đã gây ra vấn đề cho các nhà sản xuất thiết bị, đòi hỏi họ phải
chi thêm nguồn lực tùy biến thiết bị của họ cho mỗi mạng. Điều này đã dẫn đến chi
phí cao hơn, ít thiết bị hơn, khả năng tương tác ít hơn và tăng thời gian đưa ra thị
trường.
Để giải quyết những vấn đề này, GSMA đã phát hành IIR.92 Version 10, phiên bản
cập nhật của VoLTE hiện cung cấp các tùy chọn mặc định và giá trị tham số và một
bộ chức năng tối thiểu cho tất cả các truyền thông thoại và tin nhắn qua IP trên nền
LTE. Các đặc điểm kỹ thuật cập nhật dựa trên một nỗ lực toàn ngành do GSMA
dẫn đầu để giải quyết các tùy chọn đặc điểm kỹ thuật và sự khác biệt dẫn đến kết
nối các vấn đề. Nó ghi lại những bài học thu được từ hơn 70 sự triển khai VoLTE
cũng như phản hồi từ các nhà khai thác di động, các OEM và các nhà cung cấp
khác. Hơn 550 vấn đề đã được thu thập và được tổ chức thành Hệ thống Đăng ký
Giải pháp Chia sẻ Thông tin IP (IPSSR) của Mạng GSMA năm 2020 và có thể
được truy cập thông qua Hỗ trợ Kỹ thuật. Các đặc điểm kỹ thuật cập nhật sẽ tối ưu
hóa VoLTE và cung cấp một mức độ phổ biến cao và khả năng tương tác, cũng như
tạo sự linh hoạt cho MNOs để giải quyết các nhu cầu độc đáo và khu vực. Nó cũng
bao gồm Open Market Devices, chiếm khoảng 60% thị trường thiết bị cầm tay.
Một số thị trường bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Đức đã cam kết hỗ trợ
đặc điểm mới nhất và đã phát triển profiles khu vực cho cả giao diện thiết bị (UNI)
và kết nối giữa các nhà điều hành (NNI). GSMA cũng đã phát triển một danh sách
các thông số cấu hình phổ biến cho phép các OEM điều chỉnh thiết bị của họ với
các MNO cụ thể hoặc các cấu hình khu vực. Công việc đang được tiến hành trên
một cơ sở dữ liệu tập trung mới của các cài đặt cấu hình cụ thể của nhà điều hành
cũng như một cơ chế cấu hình thiết bị tiêu chuẩn cho phép các nhà sản xuất thiết bị
điều khiển từ xa cấu hình từ xa với các thiết lập thích hợp cho mạng, lần đầu tiên
thẻ SIM được đưa vào thiết bị. Điều này sẽ cho phép các nhà sản xuất cung cấp
VoLTE trong Open Market Devices.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×