Tải bản đầy đủ

Tai lieu GD trọng tâm 4 nọi dung

CÂU 1: GD và sự phát triển XH (Phân tích các chức năng XH của GD
hoặc Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng tỏ rằng "GD và là điều kiện vừa
là động lực phát triển XH")
Như chúng ta đã biết, bản chất của GD là một quá trình XH hình thành con
người, là quá trình truyền đạt và lĩnh hội các kinh nghiệm lịch sử XH loài
người từ thế hệ này sang thế hệ khác. GD chịu sự quy định của XH nhưng điều
đó không có nghĩa GD thụ động chịu sự tác động của XH mà GD còn tác động
tích cực trở lại xã hội thông qua thực hiện chức năng XH, đó là chức năng kinh
tế - sản xuất, chính năng chính trị - tư tưởng, chức năng văn hóa - XH.
- Về chức năng KT-XH:
Biểu hiện: Chức năng KT-XH của GD được thể hiện như sau: GD không
trực tiếp sản xuất nhưng tái sản xuất ra sức lao động người ở trình độ cao hơn
về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ lao động và thói quen làm việc. GD là con
đường hữu hiệu để phổ biến và phát triển khoa học công nghệ. Tức là GD cải
biến cái bản thể tự nhiên chung cua con người, giúp họ có kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo về một lĩnh vực lao động, phù hợp, tạo ra một năng xuất lao động cao,
trực tiếp thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế. Tác động của GD đến KT – SX
chính nằm ở sức lao động của con người. GD góp phần tạo ra sức LĐ ấy bằng
cách phát triển những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của con người.
(năng lực chung là học vấn, phẩm chất..., năng lực chuyên biệt là năng lực nghề
nghiệp). GD bồi dưỡng nâng cao trình độ khoa học và kĩ năng cho người LĐ sẽ

rút ngắn được thời gian LĐ tất yếu trong XH. Ngày nay, nhân loại đang trong
thời kỳ bùng nổ của khoa học công nghệ, đang bước vào kỷ nguyên công nghệ
4.0. Đặc điểm này đã đặt ra những yêu cầu rất cao đối với nguồn nhân lực lao
động: phải có trình độ học vấn cao, có kiến thức sâu sắc, có tay nghề vững
vàng, cao hơn là có tính năng động, sáng tạo, linh hoạt để thích nghi, đáp ứng
được những yêu cầu của tiến trình phát triển XH.
Yêu cầu: Để thực hiện tốt được chức năng đó, GD có những yêu cầu sau:
Thứ nhất, Gd phải gắn kết với thực tiễn XH, đáp ứng nguồn nhân lực theo
yêu cầu phát triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể. Đầu tư cơ sở
vật chất trường học cả về số và chất đáp ứng nhiệm vụ đào tạo ở tất cả các cơ sở
GD & ĐT.
Thứ hai, xây dựng hệ thống GD quốc dân cân đối, đa dạng nhằm thực hiện
3 mục tiêu: lấy nâng cao dân trí làm nền tảng đào tạo nhân lực, trên cơ sở đó bồi
dưỡng nhân tài cho tất cả các lĩnh vực trong đời sống, làm động lực trực tiếp
thúc đẩy đất nước phát triển hòa nhập với thế giới văn minh. Những nhiệm vụ
Phổ cập GD - xóa mù chữ, chế độ ưu đãi cho trường chuyên,.. chính là GD
đang thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 1/24


Thứ ba, Hệ thống GD quốc dân không ngừng đổi mới nội dung, PP,
phương tiện. Việc nâng cao chất lượng GD, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao và có những phẩm chất cần thiết, đáp ứng yêu cầu
của nền sản xuất hiện đại. Quan tâm thích đáng đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ
giảng dạy ở các trường dạy nghề, THCN, cao đẳng, đại học.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong GD. Chương trình cho học sinh
du học nước ngoài; tham quan, học hỏi kinh nghệm của các nước có nền GD
hàng đầu; thực hiện dạy học theo đề án ngoại ngữ 2020.., chính là GD đang
thực hiện chức năng kinh tế - xã hôi.
- Về chức năng chính trị - tư tưởng:
Biểu hiện: Thể chế chính trị được thiết lập ở mỗi quốc gia là xuất phát từ
hệ tư tưởng của giai cấp hay chính đảng cầm quyền nhất định. Giai cấp cầm
quyền sử dụng GD như một công cụ mạnh mẽ và lợi hại nhất để khai sáng nhận
thức, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm tin, kích thích hành động của tất cả các
lực lượng XH thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách... nhằm duy trì,
củng cố chế độ chính trị đó. Thông qua GD và bằng công cụ GD, giai cấp thống
trị truyền bá, xây dựng, củng cố hệ tư tưởng của giai cấp mình, làm cho tư


tưởng của giai cấp cầm quyền thấm nhuần tới tất cả mọi người, hình thành ở
con người thế giới quan, GD ý thức, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức
XH.
Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, đại diện cho
quyền lực “của dân, do dân, vì dân” trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh đang quyết tâm xây dựng đất nước vì mục tiêu dân
giầu, nước mạnh, XH công bằng dân chủ văn minh. Do đó, GD phải phục vụ
cho mục đích và hệ tư tưởng tốt đẹp đó thể hiện từ quan điểm, mục đích, nội
dung, phương châm, PP đến tổ chức, quản lý GD. Hoạt động GD phải đưa các
chủ trường, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tư tưởng HCM thấm
nhuần sâu sắc vào mọi tầng lớp ND biến thành hành động thực tiên, nhằm đưa
đất nước phát triển nhanh, mạnh, vững chắc.
Yêu cầu: Từ sự phân tích ở trên, người giáo viên phải nắm vững quan
diểm, đường lối, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tích hợp một cách khéo léo
và hiệu quả vào tiết dạy của mình. Có một giáo viên đã trình bày một sáng kiến
trong dạy toán là tập hợp các bài toán về chủ đề Trường Sa - Hoàng Sa (dạng
tính số hòn đảo, diện tích,..), thông qua đó, GD cho học sinh lòng yêu nước, gìn
giữ từng tất đất thiêng liêng của tổ quốc. GD cho thể hệ trẻ niềm tin, bản lĩnh và
có sự chuẩn bị đầy đủ phẩm chất và năng lực để có thể lựa chọn, tham gia vào
các mối quan hệ đa dạng. Trong chương trình GD hiện hành, mỗi bài học, đều
có mục tiêu, ngoài về kiến thức là thái độ, kỹ năng. Đó chính là GD đang thực

Tài liệu giáo dục hoc

Page 2/24


hiện chức năng chính trị - tư tưởng, truyền bá tư tưởng, chính trị cho thế hệ trẻ,
làm chi thế hệ trẻ tin và phục vụ cho giai cấp cầm quyền.
- Về chức năng văn hóa - XH
Biểu hiện: Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại
sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn. Hiểu theo nghĩa hệ thống cấu
trúc, GD là một bộ phận của văn hóa - XH. Hiểu theo cơ chế vận hành thì GD
có chức năng truyền thu các giá tri văn hóa - XH từ thế hệ trước cho thế hệ sau.
Như vậy, văn hóa vừa là nội dung cũng vừa là mục tiêu của GD. Thế giới ngày
nay coi GD là con đường cơ bản nhất để gìn giữ và phát triển văn hóa, để khỏi
tụt hậu. Khổng Tử đã nói: “Dựng nước gìn dân lấy học làm đầu”; Quản Trọng
cũng khẳng định: “Kế sách một năm, không gì bằng trồng lúa, kế sách mười
năm, không gì bằng trồng cây, kế sách lâu dài, không gì bằng trồng người”. Nhà
tương lai học người mỹ A.Toffler đã khẳng định “Một dân tộc không được GD dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được GD - cá nhân đó
sẽ bị XH loại bỏ”. Bác Hồ cũng đã khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu”. Enrics (Mỹ) nói: “Chỉ có quốc gia thu hút những cái đầu vĩ đại hoặc coi
trọng GD mới có thể trở nên giàu có”. Madena cũng cho rằng: “GD là vũ khí
mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”
Với chức năng ấy, GD tác động đến cấu trúc XH, đến các bộ phận hợp
thành XH, sự phân chia các giai tầng, các nhóm trong XH và mối quan hệ giữa
các nhóm XH. GD có nhiệm vụ lưu giữ, phát huy tinh hoa văn hóa vật chất và
tinh thần của nhân loại. GD còn có nhiệm vụ quan trọng là xây dựng một trình
độ văn hóa cho toàn XH bằng cách phổ cập GD phổ thông với trình độ ngày
càng cao. Trinh độ dân trí cao là một tiêu chí để đánh giá sư giầu mạnh của một
quốc gia. Bên cạnh đó, GD cũng làm thỏa mãn nhu cầu học tập suốt đời của
mỗi công dân. Do đó, GD còn là một phúc lợi cơ bản, một quyền sống tinh thần
của mỗi người trong XH.
Yêu cầu: Để thực hiện được chức năng này, GD phải được quan tâm ngay
từ bậc mầm non cho đến đại học và trên đại học; đa dạng hóa các loại hình GD
và phương thức đào tạo trong hệ thống GD quốc dân, nhằm tạo điều kiện co
người dân được đi học suốt đời; sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng,
ứng dụng khoa học công nghệ vào việc nâng cao dân trí.
- Tóm lại, GD có chức năng chính trị - tư tưởng (dùng GD như là một công
cụ mạnh mẽ, lợi hại nhất để giữ gìn củng cố thể chế chính trị của giai cấp cầm
quyền); có chức năng kinh tế - sản xuất (GD tái sản xuất ra sức lao động ở trình
độ cao hơn); chức năng văn hóa - XH (GD là con đường cơ bản nhất để gìn giữ
và phát triển văn hóa). Tuy vậy, ba chức năng trên cơ quan hệ mật thiết với
nhau, chúng hỗ trợ nhau và thúc đẩy nhau; không thể có một chế độ chính trị ổn
định và tiến bộ, một phương thức sản xuất tiên tiến và hiện đại khi sản phẩm
Tài liệu giáo dục hoc

Page 3/24


của GD là những con người nghèo nàn về trí tuệ, trì trệ về tư duy, cũ kỹ về nhận
thức. Cũng không thể có một nền GD phát triển và toàn cầu hóa, một phương
thức sản xuất tiến tiến và hiện đại khi sản phẩm của GD là những con người có
lạc hậu về tư tưởng, lỏng lẻo niềm tin, kém cỏi tay nghề, non yếu kỹ năng sống.
Cả ba chức năng đều quan trọng. Nhưng trong bối cảnh hiện nay của nước
ta thì chức năng kinh tế - sản xuất là quan trọng nhất vì mục tiêu của Đảng và
Nhà nước ta là xây dựng đất nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Muốn NCH, HĐH đất nước thì cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao.
Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao thì không con đường nào khác là nâng
cao chất lượng GD. Muốn có chất lượng GD thì phải đầu tư cho GD, làm cho
mọi người dân đều nhận thức được vai trò của GD để tự giác, tích cưc, chủ
động học tập. Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm và đường lối phát triển rất
đúng đắn là: “GD và đào tạo là quốc sách hàng đầu”,“Đầu tư cho GD là đầu tư
cho phát triển”, “GD vừa là mục đích vừa là động lực, của sự phát triển XH”
Như vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà GD là không ngừng đổi mới GD,
nhưng đổi mới cần phải có lộ trình, thực hiện từng bước một cách chắn chắn và
hiệu quả. Sự đổi mới cần đi từ điều kiện đến kết quả, cụ thể là: muốn đổi mới
chương trình GDPT thì trước hết phải chuẩn bị đủ cơ sở vật chất và đủ đội ngũ
người dạy đáp ứng được chương trình đó rồi mới thực hiện đổi mới. Từng bước
thực hiện đổi mới từ lớp 1 đến hết bậc PT mất 12 năm. Nhưng nếu vội vàng,
chưa có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, người dạy chưa được đào tạo để thực
hiện chương trình mới đã thực hiện đổi mới chương trình thì kết quả của sự đổi
mới cũng sẽ đi theo vết xe đổi mới trước, nền GD phải đi lại một cách chắp vá,
nhọc nhằn năm bẩy chục năm hoặc dài hơn nữa. Trong bối cảnh còn nhiều lúng
túng để đổi mới GD như hiện nay, các nhà sư phạm không thể kêu ca, ngồi chờ
mà hãy chủ động, tích cực vận dụng một cách sáng tạo vào từng bài giảng dạy
của mình nội dung GD kỹ năng sống, khơi dậy niềm đam mê sáng tạo khoa học
kỹ thuật,.. cho học sinh; hãy giúp các em có một hành trang đủ về tri thức, kỹ
năng, thái độ để bước vào XH, làm chủ và góp phần vào thay đổi, phát triển XH
đi lên.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 4/24


CÂU 2: So sánh giữa quá trình dạy học và quá trình GD
1. Khái niệm QTGD ( Theo nghĩa hẹp): QTGD là quá trình hoạt động có
mục đích, có tổ chức của GV và HS, hình thành những quan điểm, niềm tin, giá
trị, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen,phù hợp với những chuẩn mực chính trị
đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ, văn hóa, làm phát triển nhân cách HS theo mục
đích GD của nhà trường và XH.
2. Khái niệm QTDH : Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ
chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự
tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện
những nhiệm vụ dạy học.
3. So sánh:
a, Giống nhau: Quá trình GD và quá trình dạy học đều có những điểm
chung sau: Cả hai quá trình đều nhằm hình thành và phát triển nhân cách con
người phù hợp với chuẩn mực XH, đáp ứng yêu cầu của XH. Cả hai QT đều
giúp con người có tri thức vận dụng vào các lĩnh vực của đời sống XH như:
Kinh tế, văn hóa - XH, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, pháp luật và gia đình
b. Mối quan hệ biện chứng 2 quá trình: Cả hai quá trình cùng hướng tới
mục đích chung là hình thành nhân cách toàn diện theo mục tiêu GD.
- Quá trình dạy học hướng tới thực hiện mục tiêu của quá trình GD, thể
hiện ở thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
- Quá trình dạy học đạt chất lượng và hiệu quả cao nếu thực hiện tốt quá
trình GD
- Quá trình GD được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó dạy học là
con đường để thực hiện các nhiệm vụ GD
c, Khác nhau:
*Khác nhau về bản chất:
Quá trình GD (hẹp):Quá trình GD là một quá trình XH nhằm hình thành và
phát triển cá nhân trở thành thành viên của XH thỏa mãn được hai mặt: Vừa
phù hợp với yêu cầu của XH ở mỗi giai đoạn phát triển vừa có khả năng tác
động cải tạo xây dựng XH làm cho XH tồn tại và phát triển. Quá trình GD làm
cho người được GD ý thức được các quan hệ XH và các giá trị của nó để biết
vận dụng vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - XH, đạo đức, thẩm mỹ..
Quá trình vận dụng trải nghiệm các quan hệ XH giúp người học tích lũy
được kinh nghiệm XH tốt và có nhu cầu hành vi thói quen biết thể hiện đúng
đắn các quan hệ XH. Trong quá trình tham gia đó giúp họ khẳng định quan hệ
mới tích cực trong mọi lĩnh vực. Biết loại khỏi bản thân những biểu hiện tiêu
cực, tàn dư cũ lạc hậu không còn phù hợp với XH hiện tại.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 5/24


Quá trình GD là quá trình hình thành bản chất người của XH trong mỗi cá
nhân một cách có ý thức, là quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh các lực
lượng bản chất XH loài người.
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống con
người và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách của
cá nhân.
Bản chất của quá trình GD là quá trình tổ chức các hoạt động và giao lưu
trong cuộc sống nhằm giúp cho người được GD tự giác tích cực, độc lập chuyển
hóa các nhu cầu và các chuẩn mực XH thành hành vi và thói quen tương ứng.
Quá trình dạy học: Quá trình dạy học gồm QT dạy và QT học tập. QT dạy
học là quá trình nhận thức của HS, phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới
khách quan và đầu óc. Sự phản ánh thế giới khách quan mang tính khách quan
về nội dung và chủ quan về hình thức. Nghĩa là nội dung được phản ánh đúng
bản chất SVHT còn hình thức thì mỗi HS có một cách thể hiện riêng.
Quá trình dạy học cũng diễn ra theo công thức “Từ trực quan sinh động đến
tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn” trong quá trình dạy học
quá trình nhận thức của HS thể hiện tính độc đáo: Quá trình nhận thực của HS
không phải là quá trình tạo ra cái mới mà chỉ là sự tái tạo lại tri thức loài người
đã tạo ra (tri thức này chỉ mới đối với bản thân họ). Quá trình nhận thức của HS
không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử nghiệm mà diễn ra theo đường
thẳng do các nhà GD xây dựng chương trình nội dung, phương pháp tạo lên.
Quá trình nhận thức của HS tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học; Lĩnh
hội tri thức mới, củng cố, kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến
chúng thành tài sản cá nhân.
Thông qua quá trình dạy và học cần hình thành ở HS thế giới quan, động
cơ, các phẩm chất của nhân cách phù hợp với chuẩn mực XH. Quá trình nhận
thức của HS diễn ra dưới vai trò của giáo viên (lãnh đạo, tổ chức, điều khiển)
cùng với những điều kiện sư phạm nhất định.
Quá trình dạy học cần phải chú ý đến tính độc đáo trong quá trình nhận
thức của HS để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với
quá trình nhận thức của người học. Song, không vì quá coi trọng tính độc đáo
mà thiếu quan tâm đến việc tổ chức cho HS dần dần tìm hiểu và tập tham gia
các hoạt động nghiên cứu khoa học vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị cho học
tự khai thác tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học.
* Khác nhau về chức năng trội
- Ở quá trình dạy học, chức năng trội là sự tác động về mặt nhận thức của
HS nhằm hình thành cho họ sự nắm vững hệ thống tri thức và những kỹ năng,
kỹ xảo tương ứng. Như vậy, tri thức và những kỹ năng thực hành vận dụng tri
thức được chú ý đặc biệt ở quá trình này.
Tài liệu giáo dục hoc

Page 6/24


- Còn ở quá trình GD, chức năng trội của nó là sự tác động trên các mặt cả
về nhận thức, tình cảm, hành vi; hình thành thế giới quan, lý tưởng, động cơ,
hành vi nhằm giúp cho người đựơc GD ý thức đúng đắn và sâu sắc những
chuẩn mực XH cũng như là ý nghĩa của việc thực hiện những chuẩn mực đó.
* Khác nhau về chủ thể thực hiện: Quá trình dạy học diễn ra chủ yếu
trong mối quan hệ và tương tác giữa giáo viên và HS. Còn quá trình GD diễn ra
trong mối quan hệ và hoạt động giữa nhà GD (các lực lượng GD trong và ngoài
nhà trường như GV chủ nhiệm, GV bộ môn, BGH, tổ chức Đoàn Đội, Gia đình,
các lực lượng GD ở địa phương, tập thể HS) và người được GD (HS và tập thể
HS).
* Kết luận sư phạm: Trong thực tế, cần kết hợp hài hòa cả 2 quá trình dạy
học và GD nhằm phát triển toàn diện cho HS như:
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
- Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải mang tính GD,
tức là hướng vào hình thành thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ và các
chuẩn mực đạo đức cho HS.
- Tổ chức các hoạt động, các dạng giao lưu đa dạng phong phú cho HS ở
trong nhà trường, ngoài XH
- Quá trình GD phải hình thành cho HS có ý thức, động cơ học tập đúng
đắn, mong muốn vận dụng tri thức, say mê tìm tòi, sáng tạo.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 7/24


CÂU 3: Phân biệt khái niệm GD theo nghĩa rộng và GD theo nghĩa hẹp.
Bản chất của hiện tượng GD là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch
sử XH loài người từ thế hệ này sang thế hệ khác. GD là một hiện tượng đặc biệt
của XH có tính phức tạp về nhiều mặt, nhiều khía cạnh. Đối tượng của một
khoa học là một bộ phận trong thế giới khách quan mà khoa học đó nghiên cứu.
Có nhiều cách diễn đạt và thể hiện ở nhiều tài liệu GDH khác nhau về đối tượng
của GDH, nhưng cốt lõi thì đều thống nhất rằng: Quá trình GD con người hay
còn gọi là quá trình GD (nghĩa rộng) là đối tượng nghiên cứu của GDH. Quá
trình GD con người gồm hai quá trình bộ phận là quá trình dạy học và quá trình
GD (nghĩa hẹp).
Ta có thể phân biệt khái niệm GD (r) và khái niệm GD (h) tóm tắt như sau:
Tiêu chí
GD(r),
GD(h),
so sánh
Hinh thành và phát triển cho HS tư
Chức
Phát triển toàn diện nhân tưởng, tình cảm, niềm tin đúng đắn và
năng
cách cho học sinh.
những nét tích cách, thói quen hành vi
trôi
phù hợp với chuẩn mực XH
Quá trình XH hình thành
và phát triển nhân cách
Bản chất
Tổ chức các hoạt động và giao lưu
con người theo yêu cầu
của thời kỳ cụ thể.
Hai chủ thể trung tâm là Nhà GD và
người được GD. Nhà GD là các lực
Chủ thể Nhà GD và người được
lượng GD trong và ngoài nhà trường;
thực hện GD
người được GD là cá nhân HS, tập thể
HS
Con người phát triển các thái độ, niềm
Con người phát triển
Kết quả
tin và thói quan hành vi đúng đắn, phù
toàn diện.
hợp với chuẩn mực XH.
Ta có thể phân tích cụ thể 2 khái niệm trên như sau:
1. Quá trình GD theo nghĩa rộng (r): Đây là một quá trình XH hình thành,
phát triển nhân cách con người, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, có PP
theo yêu cầu của XH và được diễn ra trong mối quan hệ và hoạt động giữa nhà
GD và người được GD nhằm giúp người được GD phát triển toàn diện nhân
cách, chiến lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người.
Quá trình GD (r) là một loại quá trình xã hội mang đực trưng của quá trình
xã hội, tức là nó có tính định hướng, diễn ra trong thời gian nhất định, biểu hiện
thông qua hoạt động của con người, vận động do tác động của các nhân tố bên
trong, bên ngoài và tuân theo những quy luật khách quan. Bất cứ một quá trình
Tài liệu giáo dục hoc

Page 8/24


nào cũng đều có sự thay đổi liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác, giáo
dục được xem như là một quá trình thì sự thay đổi đó là kết quả của sự phối hợp
hành động giáo dục của nhà giáo dục và người được giáo dục.
Quá trình giáo dục luôn có sự phối hợp hành động giữa người giáo dục và
người được giáo dục, sự phối hợp này trên bình diện cá nhân và tập thể giúp
cho người được giáo dục chiếm lĩnh giá trị văn hóa của nhân loại, hình thành
nhân cách.
Quá trình GD này bao gồm sự thống nhất của hai quá trình bộ phận là quá
trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp (h).
2. Quá trình GD (hẹp): là quá trình hình thành cho người được GD lí
tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những
hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong XH thông qua việc tổ chức cho họ
những hoạt động và giao lưu; là một quá trình XH nhằm hình thành và phát
triển cá nhân trở thành thành viên của XH thỏa mãn được hai mặt: Vừa phù hợp
với yêu cầu của XH ở mỗi giai đoạn phát triển vừa có khả năng tác động cải tạo
xây dựng XH làm cho XH tồn tại và phát triển. Quá trình GD làm cho người
được GD ý thức được các quan hệ XH và các giá trị của nó để biết vận dụng
vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - XH, đạo đức, thẩm mỹ..
Quá trình vận dụng trải nghiệm các quan hệ XH giúp người học tích lũy
được kinh nghiệm XH tốt và có nhu cầu hành vi thói quen biết thể hiện đúng
đắn các quan hệ XH. Trong quá trình tham gia đó giúp họ khẳng định quan hệ
mới tích cực trong mọi lĩnh vực. Biết loại khỏi bản thân những biểu hiện tiêu
cực, tàn dư cũ lạc hậu không còn phù hợp với XH hiện tại.
Chức năng trội của nó là sự tác động trên các mặt cả về nhận thức, tình
cảm, hành vi; hình thành thế giới quan, lý tưởng, động cơ, hành vi nhằm giúp
cho người đựơc GD ý thức đúng đắn
và sâu sắc những chuẩn mực XH cũng như là ý nghĩa của việc thực hiện những
chuẩn mực đó
Bản chất của quá trình GD là quá trình tổ chức các hoạt động và giao lưu
trong cuộc sống nhằm giúp cho người được GD tự giác tích cực, độc lập chuyển
hóa các nhu cầu và các chuẩn mực XH thành hành vi và thói quen tương ứng.
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống con người
và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách của cá
nhân.
3. Mối quan hệ giữa GD (r) và GD (h): các khái niệm trên có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. GD(r) là khái quát, bao gồm 2 quá trình Gd9H) và Dạy học.
Trong GD(h) có DH và ngược lại, một trong ba nhiệm vụ quan trọng của DH là
GD hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, lý tưởng, niềm tin đúng đắn
cho HS. Các quá trình GD(r) và GD(h) đều thực hiện chức năng chung của giáo
Tài liệu giáo dục hoc

Page 9/24


dục trong việc hình thành nhân cách toàn diện. GD (h) là một bộ phận của
GD(r). Song mỗi quá trình đều có chức năng trội của mình và dựa vào chức
năng trội đó để thực hiện các chức năng khác. Khi thực hiện chức năng GD(h)
là đang từng bước thực hiện GD (r) và thực hiện GD (r) cũng tức là ta đang
thực hiện GD (h).
4. Kết luận sư phạm: các nhà GD phải thực hiện tốt cả 2 quá trình, phải
biết huy động mọi đối tượng, mọi lực lượng XH và phát triển GD, xây dựng
được XH học tập, các trung tâm học tập cộng đồng để thỏa mãn nhu cầu học cả
đời cho nhân dân. Đặc biệt các nhà trường không chỉ quan tâm đến DH mà cần
quan tâm đến cả GD như việc tổ chức các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp, GD
kỹ năng sống, tổ chức các hoat động trải nghiệm,... 2 năm học qua, việc xác
định mục tiêu của từng tiết dạy cụ thể đã có thêm 1 nội dung đó là định hướng
phát triển năng lực. Luật GD của Việt Nam năm 2005 đã nêu rõ tại Điều 2 đã
nêu rõ mục tiêu GD (r) là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa XH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc”. Để thực hiện được mục tiêu phát triển con người toàn diện này,
Bộ GD đã có công văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28/1/2015 về việc hướng
dẫn triển khai thực hiện GD kỹ năng sống tại các cơ sở GDMN,GDPT và
GDTX. Đó chính là những dân chứng cho thấy mối dểm chung và sự khác nhau
củ GD (R) và GD (h).
Là một cán bộ quán lý bậc THCS của huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương, trong những năm qua, tôi đã tích cực tổ chức hoạt động giáo dục kỹ
năng sống như tổ chức cùng địa phương cho học sinh tham gia đánh bắt diệt
chuột. Khi đó, tôi đã thực hiện nhiệm vụ GD (h) cho học sinh biết trân trọng giá
trị lao động, trân trọng thành quả của lao động. Từ đó biết tích cực học tập để
không phụ công sức của cha mẹ. Như vậy, cũng đồng thời tôi đang thực hiện
việc GD (r) toàn diện học sinh.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 10/24


CÂU 4: Phân biệt: Giáo dục nghĩa rộng, giáo dục nghĩa hẹp và quá trình
dạy học
1. Quá trình GD theo nghĩa rộng (r): Đây là một quá trình XH hình thành,
phát triển nhân cách con người, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, có PP
theo yêu cầu của XH và được diễn ra trong mối quan hệ và hoạt động giữa nhà
GD và người được GD nhằm giúp người được GD phát triển toàn diện nhân
cách, chiến lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người.
Quá trình GD (r) là một loại quá trình xã hội mang đặc trưng của quá trình
xã hội, tức là nó có tính định hướng, diễn ra trong thời gian nhất định, biểu hiện
thông qua hoạt động của con người, vận động do tác động của các nhân tố bên
trong, bên ngoài và tuân theo những quy luật khách quan.
2. Quá trình GD (hẹp): là quá trình hình thành cho người được GD lí
tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những
hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong XH thông qua việc tổ chức cho họ
những hoạt động và giao lưu; là một quá trình XH nhằm hình thành và phát
triển cá nhân trở thành thành viên của XH thỏa mãn được hai mặt: Vừa phù hợp
với yêu cầu của XH ở mỗi giai đoạn phát triển vừa có khả năng tác động cải tạo
xây dựng XH làm cho XH tồn tại và phát triển. Quá trình GD làm cho người
được GD ý thức được các quan hệ XH và các giá trị của nó để biết vận dụng
vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - XH, đạo đức, thẩm mỹ..
Chức năng trội của nó là sự tác động trên các mặt cả về nhận thức, tình
cảm, hành vi; hình thành thế giới quan, lý tưởng, động cơ, hành vi nhằm giúp
cho người đựơc GD ý thức đúng đắn và sâu sắc những chuẩn mực XH cũng
như là ý nghĩa của việc thực hiện những chuẩn mực đó
Bản chất của quá trình GD là quá trình tổ chức các hoạt động và giao lưu
trong cuộc sống nhằm giúp cho người được GD tự giác tích cực, độc lập chuyển
hóa các nhu cầu và các chuẩn mực XH thành hành vi và thói quen tương ứng.
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống con người
và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách của cá
nhân.
3. Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển
hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy
học.
Bản chất của quá trình dạy học là hoạt động của hai chủ thể dưới sự tổ
chức điều khiển của giáo viên để người học lĩnh hội nền văn hóa của nhân loại
và hình thành, phát triển nhân cách. Quá trình dạy học cũng là quá trình tác
động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri

Tài liệu giáo dục hoc

Page 11/24


thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo vào thực tiễn trên cơ sở đó hình thành và phát
triển nhân cách của người học theo mục đích giáo dục.
=> Quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp và quá trình dạy học là bộ phận của
quá trình giáo dục. Cả 3 khái niệm này có MQH chặt chẽ và biện chứng: GD(r)
là khái quát, bao gồm 2 quá trình Gd (h) và Dạy học. Trong GD(h) có DH và
ngược lại, một trong ba nhiệm vụ quan trọng của DH là GD hình thành và phát
triển phẩm chất nhân cách, lý tưởng, niềm tin đúng đắn cho HS. Các quá trình
GD(r) và GD(h) đều thực hiện chức năng chung của giáo dục trong việc hình
thành nhân cách toàn diện. GD (h) là một bộ phận của GD(r). Song mỗi quá
trình đều có chức năng trội của mình và dựa vào chức năng trội đó để thực hiện
các chức năng khác. Khi thực hiện chức năng GD(h) là đang từng bước thực
hiện GD (r) và thực hiện GD (r) cũng tức là ta đang thực hiện GD (h).
=> Cả 3 qua trình này đều nhằm hình thành và phát triển nhân cách con
người phù hợp với chuẩn mực XH, đáp ứng yêu cầu của XH, đều giúp con
người có tri thức vận dụng vào các lĩnh vực của đời sống XH như: Kinh tế, văn
hóa - XH, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, pháp luật và gia đình, cụ thể chúng có
mqh như sau:
+ Quá trình giáo dục (h), quá trình dạy học lại có mqh biện chứng, thống nhất
với nhau góp phần thúc đấy QTGD ( r)
+ Thông qua QTDH giúp học sinh nhận thức một cách đúng đắn, sâu sắc thế
giới xung quanh, cơ sở để giáo dục hs những thái độ đúng đắn trong học tập.
+ QTGD lại hình thành cho hs những phẩm chất, năng lực cần thiết như tính kỉ
luật, có thái
+ Cả hai quá trình cùng hướng tới mục đích chung là hình thành nhân cách toàn
diện theo mục tiêu GD.
+ Quá trình dạy học hướng tới thực hiện mục tiêu của quá trình GD, thể hiện ở
thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
+ Quá trình dạy học đạt chất lượng và hiệu quả cao nếu thực hiện tốt quá trình
GD
+ Quá trình GD được thực hiện bằng nhiều con đường trong đó dạy học là con
đường để thực hiện các nhiệm vụ GD
* Điểm khác biệt:
- QTGD (r):
. + Đây là một quá trình XH hình thành, phát triển nhân cách con người,
được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, có PP theo yêu cầu của XH và được
diễn ra trong mối quan hệ và hoạt động giữa nhà GD và người được GD nhằm
giúp người được GD phát triển toàn diện nhân cách, chiến lĩnh kinh nghiệm xã
hội lịch sử loài người.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 12/24


+ Quá trình GD (r) là một loại quá trình xã hội mang đực trưng của quá
trình xã hội, tức là nó có tính định hướng, diễn ra trong thời gian nhất định, biểu
hiện thông qua hoạt động của con người, vận động do tác động của các nhân tố
bên trong, bên ngoài và tuân theo những quy luật khách quan. Bất cứ một quá
trình nào cũng đều có sự thay đổi liên tục từ trạng thái này sang trạng thái khác,
giáo dục được xem như là một quá trình thì sự thay đổi đó là kết quả của sự
phối hợp hành động giáo dục của nhà giáo dục và người được giáo dục.
+ QTGD (r) có tính chất định hướng về mục tiêu (hình thành và phát triển
nhân cách con người), định hướng về kế hoạch, phương pháp. Quá trình giáo
dục theo nghĩa hẹp và quá trình dạy học sẽ cụ thể hóa, sẽ thực hiện mục tiêu, kế
hoạch, phương pháp của QTGD (r).
- Quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp tập trung phát triển các mặt phẩm chất,
nhân cách cho học sinh. Chức năng trội của nó là sự tác động trên các mặt cả
về nhận thức, tình cảm, hành vi; hình thành thế giới quan, lý tưởng, động cơ,
hành vi nhằm giúp cho người đựơc GD ý thức đúng đắn và sâu sắc những
chuẩn mực XH cũng như là ý nghĩa của việc thực hiện những chuẩn mực đó.
- Quá trình dạy học tập trung phát triển mặt năng lực, trí tuệ cho học sinh. Ở
quá trình dạy học, chức năng trội là sự tác động về mặt nhận thức của HS nhằm
hình thành cho họ sự nắm vững hệ thống tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng. Như vậy, tri thức và những kỹ năng thực hành vận dụng tri thức
được chú ý đặc biệt ở quá trình này.
+ Quá trình dạy học diễn ra chủ yếu trong mối quan hệ và tương tác giữa giáo
viên và HS. Còn quá trình GD diễn ra trong mối quan hệ và hoạt động giữa nhà
GD (các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường như GV chủ nhiệm, GV bộ
môn, BGH, tổ chức Đoàn Đội, Gia đình, các lực lượng GD ở địa phương, tập
thể HS) và người được GD (HS và tập thể HS).

Tài liệu giáo dục hoc

Page 13/24


NGUYÊN TẮC DẠY HỌC (Phân tích việc vận dụng các nguyên tắc dạy
học, cho ví dụ/ Phân tích một nguyên tắc dạy học và cho ví dụ?)
1. Khái niệm
- Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều
khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm
vụ dạy học.
- Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất
xuất phát để chỉ đạo việc xác định và lựa chọn nội dung, phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, với nhiệm vụ dạy học và
với những tính quy luật của quá trình dạy học
2, Hệ thống các nguyên tắc dạy học
1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục
trong dạy học.
2. Nguyến tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đối với
hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển của đất
nước.
3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học
4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tích cực, tính độc lập,
sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học
5. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư
duy lý thuyết.
6. Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực
nhận thức của học sinh.
7. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý những đặc điểm lứa tuổi, đặc
điểm cá biệt và tính tập thể của việc dạy học
8. Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
9. Nguyên tắc chuyển hóa quá trình dạy học sang tự học
* Phân tích:
1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo
dục trong dạy học
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải trang bị cho học sinh
những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học, công
nghệ và văn hóa hiện đại, phải dần dần giúp học sinh tiếp cận với phương pháp
học tập, suy nghĩ, làm việc khoa học, dần hình thành ở họ cơ sở thế giới quan
khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện
đại.
Tài liệu giáo dục hoc

Page 14/24


Dạy học không chỉ làm phát triển lý trí của con người và cung cấp cho người
học một khối lượng kiến thức nào đó mà phải làm cháy lên ở họ lòng khát khao
học tập một cách nghiêm túc. Thiếu điều đó thì cuộc sống không thể nào là một
cuộc sống xứng đáng và hạnh phúc.
Ảnh hưởng giáo dục của khoa học là người đồng hành không tránh khỏi của
dạy học. Song từ đó sẽ không đúng khi cho rằng dạy học bao giờ cũng có tác
động như nhau đến học sinh và sự nỗ lực một cách tự giác, nghệ thuật của nhà
giáo dục không có ý nghĩa quan trọng. Trái lại, tính chất giáo dục của dạy học,
phương hướng tư tưởng và sức mạnh ảnh hưởng của nó tới học sinh là do nội
dung, phương pháp dạy học, sự tổ chức tiết học và do tác động của chính nhân
cách người giáo viên quyết định.
- Để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
+ Trang bị cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, hiện đại
nhằm giúp họ nắm vững những quy luật phát triển của tự nhiên – xã hội, tư duy,
có cách nhìn, có thái độ và hành động đúng với hiện thực.
+ Giáo dục ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm với dân tộc, trong sự
nghiệp CNH, HDH đất nước.
+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, phê phán một
cách đúng mức những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại
chúng, những quan niệm khác nhau về một vấn đề.
+ Vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng
giúp học sinh làm quen một số phương pháp NCKH mức độ đơn giản nhằm
giúp các em hình thành tác phong của người NCKH.
2. Nguyến tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đối với
hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển
của đất nước.
- Nguyên tắc này dựa trên nhận thức luận của CN Mác lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Theo HCM: “Thống nhất lí luận và thực tiễn là nguyên tắc căn
bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lí luận hướng dẫn thành thực
tiễn mù quáng. Lí luận không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông”. Mặt khác,
người cũng chống lí luận suông. Người cho rằng: “Có kinh nghiệm mà không
có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”
- Nguyên tắc này đỏi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh
nắm vững tri thức khoa học với 02 đk: 1. Tri thức phải có hệ thống. 2. Tri thức
có thể vận dụng trong thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân. Thông qua
đó giúp họ ý thức được tác dụng của lí thuyết đối với đời sống.
- Từ đó có thể thấy học và hành đan xen, hòa quyện chặt chẽ với nhau,
trong học có hành, trong hành có học. Cần giúp cho học sinh ý thức rõ những
Tài liệu giáo dục hoc

Page 15/24


sai lầm của thuyết duy ý chí trong giáo dục mà cơ sở triết học của nó là thuyết
nhận thức duy tâm, loại thực tiễn ra khỏi nhận thức luận.
- Để thực hiện nguyên tắc này cần phải:
+ Khi xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học cần lựa chọn những tri
thức cơ bản, phù hợp với đk thiên nhiên, hoàn cảnh thực tiễn…
+ Về nội dung dạy học phải làm cho người học nắm vững lý thuyết, vạch
ra phương hướng áp dụng lý thuyết vào hoàn cảnh thực tiễn.
+ Về PP dạy học cần khai thác vốn sống của người học để minh họa và
giải quyết những vấn đề lí luận. Cần đổi mới PP như PP thí nghiệm, nghiên cứu
tài liệu thực tiễn…
+ Về tổ chức dạy học cần kết hợp sử dụng những hình thức tổ chức dạy
học khác nhau, đặc biệt là hình thức tham quan học tập, thực hành, thực tập…
+ Dạy học kết hợp với lao động sản xuất và hoạt động công ích.
3. Nguyên tắc: “Đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học”
Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo cho người học lĩnh hội tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo trong mlh lo gic và tính kế thừa, Phải giới thiệu cho học hệ thống những
tri thức khoa học hiện đại được xác định không chỉ nhờ vào cấu trúc logic khoa
học mà cả tính tuần tự phát triển những khái niệm, định luật khoa học trong ý
thức của họ.
Để thực hiện NT này, cần:
+ Xây dựng hệ thống môn học, chương và những tiết học phụ thuộc vào lý
thuyết, từ đó làm cơ sở cho khái quát. Vid ụ: Giáo trình trình ở bậc phổ thông
nên đi theo nguyên tác từ cái chung đến cái riêng, phù hợp với tư duy học sinh.
+ Xây dựng nội dung cần tính tới những mlh giữa các môn học, MLH giữa
những tri thức trong bản thân từng môn và tích hợp tri thức liên môn.
+ Tính hệ thống và tính tuần tự không những được thể hiện trong hoạt động
của người giáo viên mà ngay cả trong công việc học tập của học sinh. Chính cì
vậy phải rèn cho hs thói quen lập kế hoạch hoạt động, thói quen lập dàn bài
một cách logic khi trả lời các câu hỏi.
4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tích cực, tính độc
lập, sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình
dạy học
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính
tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò
chủ đạo của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động
học.
- Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích,
nhiệm vụ học tập mà qua đó nỗ lực nắm vững tri thức, tránh chủ nghiã hình
thức trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Tài liệu giáo dục hoc

Page 16/24


- Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông
qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những
vấn đề học tập, nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện,
vừa là điều kiện để đạt được mục đích và vừa là kết quả của hoạt động.Tính tích
cực nhận thức cũng là phẩm chất hoạt động của cá nhân.
Cần phải phân biệt tính tích cực và trạng thái hành động, về bề ngoài chúng
giống nhau nhưng về bản chất là khác nhau.Tuỳ theo sự huy động những chức
năng tâm lý nào và mức độ sự huy động đó mà có thể diễn ra tính tích cực tái
hiện, tính tích cực tìm tòi và tính tích cực sáng tạo.
- Tính độc lập nhận thức về nghĩa rộng là sự sẵn sàng tâm lý đối với sự tự
học.Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu cầu học
tập và năng lực tự tổ chức học tập, cho phép người học tự phát hiện, tự giải
quyết vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình và qua đó cho
phép người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học.
- 3 phẩm chất nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tính tự giác nhận thức
là cơ sở của tính tích cực và tính độc lập nhận thức. Tính tích cực nhận thức là
điều kiện, là kết quả, là định hướng và là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển
của tính độc lập nhận thức. Tính độc lập nhận thức là sự thể hiện tính tịư giác,
tính tích cực ở mức độ cao.
Kết hợp tính tích cực của giáo viên và học sinh một cách hài hoà trong
hoạt động phối hợp với nhau sẽ cho phép đạt được những kết quả dạy học và
giáo dục trong một thời gian ngắn nhất.
Trong hoàn cảnh đổi mới ở nước ta nói chung và đổi mới sự nghiệp giáo dục
nói riêng, trong điều kiện nhân tố con người là động lực cho sự phát triển của xã
hội thì tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Quan tâm đúng mức đến việc giáo dục cho người học ý thức đầy đủ và sâu sắc
mục đích, nhiệm vụ học tập nói chung và từng môn học nói riêng để họ xác
định đúng động cơ và thái độ học tập.
- Khuyến khích, động viên và tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn trình bày ý
kiến, ý tưởng và những thắc mắc của mình, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học,
óc phê phán, tác phong độc lập suy nghĩ, chống lối học vẹt, học đối phó, chủ
nghĩa hình thức trong học tập.
Tài liệu giáo dục hoc

Page 17/24


- Cần sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở những mức độ
khác nhau, đặc biệt tăng dần tỷ trọng mức độ tự nghiên cứu, tự giải quyết những
bài tập nhận thức.
- Cần tăng cường sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học.
- Cần kết hợp tính tự giác, tính tích cực học tập với việc nâng cao tinh thần
trách nhiệm trong học tập của người học, cần tổ chức kiểm tra, đánh giá và tự
kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học.
- Hình thành cho người học những thao tác tư duy, những hành động thực
hành,những biện pháp hoạt động sáng tạo và tạo điều kiện cho họ thể hiện khả
năng hoạt động sáng tạo trong quá trình nghiên cứu, học tập những cơ sở khoa
học, nghệ thuật và lao động.
5. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư
duy lý thuyết.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học có thể cho học sinh tiếp xúc
trực tiếp với sự vật, hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành
những khái niệm, quy luật, lý thuyết; ngược lại, có thể từ việc lĩnh hội những tri
thức lý thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể sau.Trong việc
vận dụng nguyên tắc này bao giờ cũng đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy
cụ thể và tư duy trừu tượng.
Từ đó ta có thể nhận thấy rằng: a) Tính trực quan có thể là điểm xuất phát
chủ yếu ở các lớp tiểu học. b) Tuỳ theo mức độ vận động của trẻ từ các lớp dưới
lên các lớp trên thì điểm xuất phát của quá trình dạynhọc là sự tiếp cận lịch sử
đối với sự phát minh một quy luật nào đó. Lúc đầu nêu lên vấn đề, tiếp theo là
trình bày lịch sử giải quyết vấn đề đó và cuối cùng là trạng thái hiện nay. Sau đó
cần phải tiến hành công tác thực hành hoặc làm thí nghiệm. Đó là con đường có
tính quy nạp – lịch sử trong việc nghiên cứu tri thức. Ở đây tính trực quantham
gia hai lần như là minh hoạ sự phát minh, nghĩa là sự phát minh đó diễn ra trong
lịch sử khoa học như thế nào và vạch ra cách giải quyết vấn đề hiện nay ra sao.
Tuy nhiên cần phải thấy rằng việc trình bày theo quan điểm lịch sử mất nhiều
thời gian học tập và không phải bao giờ cũng cần thiết. Cơ sở xuất phát có thể
là những luận điểm lý thuyết, tiên đề, hệ thống khái niệm đã được lĩnh hội ở
những giai đoạn dạy học trước đây hoặc thậm chí được đưa vào bằng con
đường lý luận. Chỉ sau khi đã nắm được những định luật có tính chất lý luận đó,
trực quan được sử dụng để minh hoạ sự vận dụng chúng hoặc dưới hình thức
công việc ở phòng thí nghiệm khi bài tập nhận thức được giải quyết bằng con
đường thực nghiệm.
Ngay cả học sinh tiểu học cũng tiến hành dạy học từ cái chung đến cái
riêng nhằm phát triển tư duy lý luận cho trẻ.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 18/24


Nguyên tắc này đã được J.A.Comenxki ( 1592-1670) lần đầu tiên đề ra và
được gọi là nguyên tắc vàng ngọc. Sau này được J.J.Rutxo (1712-1778),
J.A.Pextalogi (1746-1827), K. Đ. Usinxki ( 1824-1870) kế tục và phát triển.
Dưới ánh sáng của nhận thức luận Macxit, nội dung của nguyên tắc ngày càng
được hoàn thiện và phát triển.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là
phương tiện và nguồn nhận thức.
- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan và lời nói sinh động, diễn
cảm, nghĩa là kết hợp hai hệ thống tín hiệu.
- Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh để giúp học sinh vận dụng những biểu
tượng đã có để hình thành những biểu tượng mới, qua đó mà hình thành những
khái niệm, định luật mới.
- Cần vận dụng một trong những cách sử dụng trực quan nêu trên phù hợp với
lứa tuổi, nội dung và hoàn cảnh cụ thể nhằm hình thành và phát triển tư duy lý
thuyết cho họ.
Trong quá trình trình bày đồ dùng trực quan cần hình thành cho học sinh óc
quan sát để nhìn thấy những dấu hiệu bản chất, qua đó mà rút ra những kết luận
có tính khái quát.
- Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách hiệu quả.
- Đề ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập được mối
quan hệ giữa cái cụ thể, cái trừu tượng và ngược lại.
6. Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng
lực nhận thức của học sinh.
2.6.Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thức
của học sinh:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm
vững nội dung dạy học với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt là
sự tưởng tượng (Tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo), trí nhớ (chủ
yếu là trí nhớ logic), tư duy sáng tạo, năng lực động viên tri thức cần thiết để
thực hiện công việc nhận thức, học tập đã đề ra.
Tâm lý học đã khẳng định việc lĩnh hội nội dung dạy học và phát triển
năng lực nhận thức là hai mặt của một quá trình, có liên hệ mật thiết với nhau.
Khi lĩnh hội những tri thức khoa học thì trí não đồng thời thực hiện những
nhiệm vụ nhận thức khác nhau, và cùng với điều đó, năng lực nhận thức của
học sinh được phát triển.
Trong cách hiểu như trên, nguyên tắc này cần phải kết hợp với nguyên tắc
tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nghĩa là phải làm cho họ nhớ
lại điều đã học một cách tự giác, đã được suy ngẫm, tránh lối học thuộc l òng
Tài liệu giáo dục hoc

Page 19/24


một cách máy móc và thiếu suy nghĩ sâu sắc về tài liệu đó, và do vậy chẳng
hiểu được điều mình học.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:
- Cần phải giúp học sinh kết hợp hài hoà giữa ghi nhớ chủ định và không chủ
định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập.
- Cần hình thành cho học sinh những kỹ năng tìm ra những tri thức có tính
chất tra cứu khác nhau để giúp họ tránh học thuộc lòng không cần thiết những
tài liệu đó.
- Cần đặt ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá những tri thức
đã học để giải quyết, qua đó mà giúp họ nhớ sâu, nắm vững tri thức và tạo điều
kiện phát triển năng lực nhận thức. Cùng với điều đó mà việc ôn tập và luyện
tập được thực hiện thường xuyên, có hệ thống.
- Cần tổ chức quá trình dạy học như thế nào để một bộ phận đáng kể những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được củng cố tại tiết học. Muốn vậy, việc trình bày tài
liệu học tập của giáo viên phải logic, rõ ràng, dễ hiểu, phải tác động mạnh về
mặt cảm xúc.
- Giáo viên phải tiến hành kiểm tra, đánh giá và học sinh phải tiến hành tự
kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đều đặn, toàn diện về các
mặt số lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng hoạt động sáng tạo thông qua bài
tập sáng tạo, có tính chất chẩn đoán.
7. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý những đặc điểm lứa tuổi,
đặc điểm cá biệt và tính tập thể của việc dạy học
2.7.Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc
điểm cá biệt và tính tập thể của việc dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, khi lựa chọn nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải không ngừng nâng cao mức độ
khó khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách cần
thiết.
Nói cách khác, dạy học vừa sức có nghĩa là trong dạy học phải tạo nên khó
khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải tương ứng với giới
hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất. Dạy học vừa sức không có
nghĩa là sức học sinh đến đâu thì dạy đến đó, mà bao giờ cũng đề ra những khó
khăn mà dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, người học bằng sự nỗ lực của
mình cũng đều khắc phục được. Dạy học như vậy mới đảm bảo đi trước sự phát
triển, thúc đẩy sự phát triển của học sinh
Sự khó khăn vừa sức đối với người học khác với sự quá tải về mặt trí lực và thể
lực. Sự quá tải đó sẽ làm yếu đi sự nỗ lực ý chí, khả năng làm việc bị hạ thấp
một cách rõ rệt và làm cho học sinh sớm mệt mỏi.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 20/24


Tính vừa sức đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Mỗi độ tuổi gắn
liền với sự trưởng thành của những cơ quan trong cơ thể và những chức năng
của các cơ quan đó, cũng như với sự tích luỹ những kinh nghiệm về mặt nhận
thức và về mặt xã hội, với loại hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đó. Lứa tuổi thay
đổi thì nhu cầu trí tuệ và hứng thú nhận thức của trẻ cũng biến đổi.
Trong cùng một lứa tuổi, học sinh cũng có những đặc điểm khác nhau về
hoạt động hệ thần kinh cấp cao, sự phát triển về thể chất và tinh thần, về năng
lực, hứng thú… Vì vậy sự vừa sức phải chú ý đến những đặc điểm cá biệt.
Điều kiện dạy học hiện nay ở nước ta là dạy từng lớp với khoảng 40- 50 học
sinh. Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải tiến hành dạy học và giáo dục cả lớp
như một tập thể học tập, tạo điều kiện và tổ chức công tác học tập của tất cả học
sinh, đồng thời phải tính tới những đặc điểm cá biệt của từng học sinh nhằm đạt
được hiệu quả dạy học và góp phần phát triển những tư chất tốt đẹp của các em.
Để đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm cá biệt trong điều kiện
tiến hành dạy – học với cả tập thể cần:
Xác định mức độ tính chất khó khăn trong quá trình dạy học để thiết lập
những cách thức chủ yếu tạo nên động lực học tập, mở rộng khả năng nhận thức
của học sinh, suy nghĩ những biện pháp tiến hành chung với cả lớp và với từng
học sinh.
- Phối hợp hình thức lên lớp, hình thức độc lập công tác của học sinh và hình
thức học tập nhóm tại lớp. Trước tập thể lớp, giáo viên đề ra nhiệm vụ chung và
dưới sự chỉ đạo của giáo viên, từng cá nhân suy nghĩ cách giải quyết. Trong thời
gian đó, giáo viên giúp đỡ những học sinh yếu kém. Với cách tổ chức như vậy
thì chỉ là sự làm việc cùng nhau của những cá nhân cùng học. Đó là hình thức
phối hợp đơn giản nhất của các cá nhân trong tập thể người cùng học như
N.K.Crupxkaia đã nhận xét. Một hình thức tổ chức tiết học khác là giáo viên chỉ
đạo việc thực hiện theo nhóm những ý kiến, những ý tưởng hoặc những cách
giải quyết vấn đề khác nhau của từng người để đi đến kết luận chung của cả
nhóm, sau đó cử đại diện của mình trình bày ý kiến. Trên cơ sở đó, cả lớp trình
bày và đi đến kết luận chung, còn giáo viên lúc này đóng vai trò là người chỉ
đạo, người cố vấn, người trọng tài. Với hình thức này thì sự phối hợp giữa hoạt
động cá nhân và tập thể đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Cũng có thể từ một nhiệm vụ chung, mỗi nhóm được phân công giải quyết
những nhiệm vụ bộ phận, và từng thành viên suy nghĩ độc lập để đi đến cách
giải quyết chung của cả nhóm. Các nhóm cử người lần lượt trình bày cách giải
quyết nhiệm vụ của mình. Lớp thảo luận và đi tới cách giải quyết nhiệm vụ
chung.
Với cách tổ chức tiết học như vậy, học sinh làm việc không đơn thuần là ngồi
cạnh nhau, mỗi người tìm cách giải quyết không chỉ cho bản thân mình mà cho
Tài liệu giáo dục hoc

Page 21/24


cả tập thể. Trong lớp xuất hiện không khí thúc đẩy nhau tích cực suy nghĩ, có sự
đồng cảm với nhau, hợp tác và kiểm tra lẫn nhau.
Cách tiến hành dạy học như vậy không chỉ giáo dục tinh thần tập thể cho học
sinh, mà từng học sinh giúp đỡ lẫn nhau nên nhiệm vụ học tập đề ra trở nên vừa
sức mỗi người.
8. Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
2.8.Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây cho người học sự
hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết, niềm vui và tác động mạnh mẽ đến tình
cảm của họ.
Tình cảm có vai trò quan trọng đối với hoạt động của con người, thôi thúc
con người hành động, thậm chí đến mức xả thân mình cho sự nghiệp. Những
tấm gương của các nhà khoa học trước đây và hiện nay đã khẳng định điều đó.
Thực tiễn cũng chứng minh rằng công việc mà được yêu thích thì sẽ được thực
hiện nhanh chóng và có hiệu quả, lại ít tốn sức. Ngược lại, thì không những
không động viên được sức lực mà còn đè nén sức lực, do đó không đạt được
hiệu quả cao.Học tập của học sinh cũng hoàn toàn như vậy. V.I.Lênin đã khẳng
định: “Nếu thiếu tình cảm con người thì không bao giờ có sự tìm tòi chân lý”.
Về vấn đề này, Paxcan cũng đã nói: “ Ta hiểu được chân lý chẳng phải chỉ nhờ
bộ óc mà còn nhờ con tim nữa”.
Hơn nữa, hiện nay với sự phát triển văn hoá, khoa học, sụ tiến bộ về khoa
học thông tin đã tạo cho con người nhiều trò chơi hấp dẫn hơn nhiều so với
công việc học tập trong nhà trường. Vì vậy, nếu dạy học trong trường PT chỉ
quan tâm nhiều đến việc phát triển tư duy, trí nhớ mà ít quan tâm đến thức ăn
cho tình cảm và óc tưởng tượng của học sinh thì chưa hợp lý.
Để thực hiện nguyên tắc này, trong quá trình dạy học cần:
- Thực hiện mối liên hệ dạy học với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng đất
nước, với kinh nghiệm sống của bản thân học sinh. Đó là phương tiện hình
thành tình cảm nghĩa vụ và nâng cao hứng thú học tập.
- Trong nội dung và phương pháp học tập cần làm sao tăng cường hoạt động
tích cực tìm tòi, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, phát hiện. Điều đó sẽ tạo điều
kiện cho học sinh hình thành tình cảm trí tuệ.
- Cần sử dụng trò chơi nhận thức trong quá trình dạy học.
- Nên sử dụng các phương tiện nghệ thuật như: tác phẩm văn học, âm nhạc,
nghệ thuật tạo hình, kịch…trong quá trình dạy học, vì đó là những phương tiện
tác động mạnh mẽ đến tình cảm của nguời học. Đừng sợ làm như vậy sẽ làm
cho học sinh thiếu tập trung vào công việc học tập nghiêm túc, vì khoa học và
nghệ thuật không phải không chung sống được với nhau. Khoa học và nghệ
thuật đều cùng phản ánh hiện thực khách quan, nhưng phương tiện sử dụng của
Tài liệu giáo dục hoc

Page 22/24


chúng khác nhau. Khoa học phản ánh hiện thực bằng khái niệm, định luật, lý
thuyết; còn nghệ thuật bằng hình tượng. Cả hai cách phản ánh đó không mâu
thuẫn nhau mà còn bổ sung và làm phong phú cho nhau, tạo điều kiện hình
thành và phối hợp tư duy logic với tư duy thẩm mỹ.
Những tác phẩm nghệ thuật được sử dụng vào những thời điểm, vị trí thích
hợp với liều lượng hợp lý trong tiết học thông qua những đồ dùng trực quan
hoặc những phương tiện kỹ thuật dạy học làm cho học sinh không chỉ hình
dung tốt nhất những sự kiện, hiện tượng mà còn làm rung động tình cảm của
người học, làm phong phú tâm hồn của tuổi trẻ.
- Tính cảm xúc của quá trình dạy học còn phụ thuộc vào ngữ cảnh, vào hoạt
động học tập. Hoạt động tập thể của học sinh càng có nội dung, càng phong phú
về hình thức thì càng kích thích nhu cầu hiểu biết, hứng thú với học tập. Vì vậy,
cần chú ý tổ chức hoạt động tập thể của học sinh, cần tổ chức dạy học như một
hình thức tham quan học tập, hình thức ngoại khoá…
- Nhân cách người giáo viên có vai trò rất lớn trong việc tác động về mặt
cảm xúc đối với người học. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, thể hiện
thái độ của giáo viên đối với những hiện tượng, sự kiện, tư tưởng được trình
bày không chỉ giúp cho học sinh có tri thức về vấn đề nào đó mà còn kích thích
hình thành tình cảm tương ứng.
9. Nguyên tắc chuyển hóa quá trình
2.9.Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học:
Nguyên tắc này đòi hỏi phải hình thành cho người học có nhu cầu,
năng lực, phẩm chất tự học để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá
trình tự học. Nghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách
khai thác bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các
bạn, tự tổ chức hoạt động của mình, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt
động học của mình.
Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ phát triển hiện nay đã dẫn tới sự bung
nổ thông tin và làm cho ri thức ở từng người trở nên lạc hậu nhanh chóng. Để
thích ứng với cuộc sống, mỗi người phải tự học liên tục, học suốt đời. Hồ Chí
Minh, một tấm gương sáng về tự học đã từng nói: “Học tập là công việc phải
tiếp tục suốt đời… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế
giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải
tiếp tục học và hành để đuổi kịp nhân dân”; “Lấy tự học làm cốt, có thảo luận
và chỉ đạo giúp vào”. Những lời khuyên bảo đó ngày càng có ý nghĩa cấp thiết
đối với thế hệ trẻ, nhất là trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá hiện nay ở nước ta.
Để thực hiện nguyên tắc này cần:

Tài liệu giáo dục hoc

Page 23/24


- Thông qua phương pháp giảng dạy của giáo viên mà thúc đẩy học sinh thực
hiện có hệ thống công tác độc lập nhằm lĩnh hội những tri thức về khoa học, kỹ
thuật, nghệ thuật mà họ yêu thích.
- Trong quá trình dạy học cần chú ý hình thành cho học sinh những kỹ năng lập
kế hoạch, kỹ năng tự tổ chức, kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động tự học
của chính mình. Thông qua công tác độc lập làm cho học sinh cảm thấy rằng
việc tự học không chỉ là công việc của bản thân từng người mà là sự quan tâm
chung của cả tập thể lớp, của giáo viên và của tập thể sư phạm.
- Trong các lần trò chuyện với học sinh cần làm cho họ hiểu rõ ý nghĩa của sự
tự học trong thời đại ngày nay, tìm hiểu những khó khăn mà họ gặp phải trong
việc tự học và chỉ ra cho họ những biện pháp khắc phục khó khăn đó.
- Cần tận dụng những nội dung dạy học, những hoàn cảnh thuận lợi nêu những
tấm gương tự học của những nhân vật trong lịch sử đất nước, trong trường,
trong lớp để giáo dục học sinh.
- Cần tổ chức phong trào tự học trong lớp, trong trường.
- Cần tăng cường tỷ trọng tự học về khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho
học sinh để khi tốt nghiệp PT, tất cả học sinh phải được hình thành nhu cầu, ý
chí đối với tự học và những kỹ năng cơ bản, cần thiết, cho sự tự học.
3.Mối liên hệ giữa các nguyên tắc dạy học:
Các nguyên tắc dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nội dung của từng
nguyên tắc đan kết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm đảm bảo thực hiện quá trình dạy
học đạt được hiệu quả. Chẳng hạn khi thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính khoa
học và tính giáo dục trong dạy học không thể không chú ý tới nguyên tắc đảm
bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành; nguyên tắc
đảm bảo sự thống nhất giứa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của
học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học; nguyên tắc
đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân trong
điều kiện dạy học tập thể; nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy
học; nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học.
Nếu xét các nguyên tắc dạy học khác thì cũng như vậy. Trong quá trình dạy
học, với nội dung và những điều kiện dạy học nhất định, có thể coi trọng một
nguyên tắc dạy học nào đó. Điều đó không có nghĩa là coi nhẹ những nguyên
tắc khác mà cần phải kết hợp các nguyên tắc thành một thể hoàn chỉnh thì mới
đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học.

Tài liệu giáo dục hoc

Page 24/24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×