Tải bản đầy đủ

CHƯƠNG 3 một số GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG tác PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG tài CHÍNH của CÔNG TY

Ch¬ng 3: Mét sè gi¶i ph¸p nh»m hoµn thiÖn c«ng t¸c
ph©n tÝch ho¹t ®éng tµi chÝnh cña c«ng ty
3.1. Đánh giá tình hình tài chính của công ty tư vấn giám sát và xây dựng
công trình
3.1.1.Thực trạng về tình hình tài chính của công ty tư vấn giám sát và xây
dựng công trình
Sau khi đã phân tích tình hình tài chính của công ty ở chương 2 em nhận
thấy thực trạng tài chính các năm của công ty như sau:
-Về tài sản : Tổng tài sản và nguồn vốn năm 2003 là 133.882.824.075đ,
năm 2004 116.986.842.726đ, năm 2005 169.723.034.667đ. Như vậy, tổng tài
sản và nguồn vốn có những biến động lớn qua các năm. Năm 2004 giảm so với
năm 2003 là 16.895.981.349đ “-12,62%”, nhưng đến năm 2005 lại tăng so với
2004 là 52.736.191.931đ “+45,08%”
-Về tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: Năm 2004 giảm so với 2003
là 18.569.082.556đ “-17,61%”, năm 2005 tăng so với 2004 là 52.271.424.650đ
“+60,18%”.
-Về tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Năm 2004 tăng so với năm 2003
là 1.643.101.250đ “+5,77%”, năm 2005 tăng so với năm 2004 là 401.130.880đ
“+1,33%”.
-Về nợ phải trả : Nợ phải trả của công ty các năm như sau: năm 2003
127.653.093.980đ,


năm

2004



113.459.094.243đ,

năm

2005



163.931.507.765đ
Năm 2004 giảm so với năm 2003 là 14.193.999.737 “-11,12%”, năm 2005 tăng
so với năm 2004 là 50.472.413.512đ “+44,49%”.
- Về nguồn vốn chủ sở hữu: Năm 2003 là 6.229.730.095đ, năm 2004 là
3.527.78.83đ, năm 2005 là 5.791.526.902đ. Năm 2004 nguồn vốn chủ sở hữu
giảm so với năm 2003 là 2.701.981.612đ “-76,59%”, năm 2005 tăng so với năm
2004 là 2.263.778.419đ “+64,17%”.
-Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:

1


+ Về tổng doanh thu: Tổng doanh thu năm 2003 là 136.546.924.615đ,
năm 2004 131.362.102.057đ, năm 2005 là 169.799.000.000đ. Doanh thu giai
đoạn 2003-2005 biến động là khá lớn, tăng giảm không đều, năm 2004 doanh
thu sụt giảm nghiêm trọng chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như
vấn đề tài chính của công ty chưa thực sự ổn định. Doanh thu không ổn định kéo
theo lợi nhuận của công ty thu được qua các năm cũng biến động khá lớn, năm
2003 là 2.694.327.972đ, năm 2004 là 1.088.980.074đ, năm 2005 là
3.479.130.184đ.
Sơ bộ tình hình tài chính của công ty ta nhận thấy: Nhìn chung tình hình
tài chính của công ty trong giai đoạn 2003-2005 có khá nhiều biến động, sự tăng
giảm lớn về tài sản và nguồn vốn qua các năm, lợi nhuận thu được chưa thực sự
ổn định. Bên cạnh đó những nguy cơ tiềm tàng như khả năng thanh toán ngay
các khoản nợ đến hạn của công ty còn thấp do công ty còn để ứ đọng vốn và


hàng tồn kho nhiều, các khoản phải thu gia tăng chứng tỏ công ty chưa chú ý
đến việc thu hồi các khoản phải thu, chưa có biện pháp hữu hiệu để làm giảm
lượng vốn bị chiếm dụng, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, khả năng sinh lời của
vốn còn thấp.
Tuy nhiên, những nhận định trên chỉ là sơ bộ, để có những kết luận chính
xác về tình hình tài chính của công ty trong 3 năm liên tục cần phải tiến hành
phân tích một cách chi tiết các số liệu trên các báo cáo tài chính, bên cạnh đó
cần có thêm các thông tin cần thiết như: Thông tin về thị trường đầu vào, đầu ra,
đặc điểm kinh tế kỹ thuật, quy trình công nghệ, các số liệu trung bình của
nghành và khảo sát ở các công ty cùng nghành khác. Tuy vậy, em cũng xin đưa
ra một số giải pháp cho vấn đề về hoạt động tài chính của công ty như sau:
3.1.2.Một số giải pháp về hoạt động tài chính của công ty tư vấn giám sát và
xây dựng công trình.
Qua phần phân tích chi tiết thực trạng tài chính của công ty tư vấn giám
sát và xây dựng công trình trong 3 năm liên tiếp 2003, 2004, 2005 ta nhận thấy
tình hình tài chính của công ty còn khá nhiều bất cập, đòi hỏi quản trị công ty

2


cần có những giải pháp tức thời cũng như lâu dài cho vấn đề tài chính của công
ty cho năm tài chính tiếp theo.
Những vấn đề về tài chính mà công ty còn tồn đọng đến cuối năm 2005,
qua phân tích đã nhận thấy và cần có những giải pháp cho những tồn đọng này
như sau :
- Về tình hình công nợ: Đây là vấn đề nổi cộm nhất của công ty trong
những năm qua và đặc biệt là vào cuối năm 2005. Tỷ trọng của nguồn vốn nợ
phải trả chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng số nguồn vốn của công ty. Điều này
phản ánh một thực trạng là trong tổng số nguồn vốn mà công ty đang quản lý và
sử dụng chủ yếu là do vốn vay nợ mà có. Như vậy, công ty sẽ gặp rất nhiều khó
khăn về tình hình tài chính và rủi ro về tài chính của công ty sẽ tăng lên. Qua
phân tích ta nhận thấy, tỷ trọng của nợ ngắn hạn chiếm rất lớn trong tổng số nợ
phải trả. Kết hợp với phần phân tích khả năng thanh toán cũng như khả năng
thanh toán tức thời của công ty là rất thấp. Do vậy, công ty không có khả năng
thanh toán các khoản vay ngắn hạn. Như vậy, rủi ro về khả năng thanh toán là
rủi ro ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty,
thậm chí công ty còn bị phá sản. Tỷ trọng của nợ vay ngắn hạn lớn tức là tỷ
trọng của nợ dài hạn và tỷ trọng của nợ khác chiếm trong tổng số nợ là nhỏ. Do
vậy, biện pháp đưa ra ở đây là công ty cần có giải pháp chuyển một phần nợ vay
ngắn hạn thành nợ vay trung và dài hạn( nếu có thể). Vay ngắn hạn trong công ty
chủ yếu là vay ngắn hạn từ ngân hàng nên công ty có thể gia hạn nợ những
khoản đến hạn trả. Những biện pháp này sẽ làm giảm một phần gánh nặng nợ
nần, gánh nặng rủi ro thanh toán cho công ty trước mắt. Bên cạnh đó, qua phân
tích về các khoản nợ phải thu, ta thấy công ty cũng bị chiếm dụng một lượng
vốn khá lớn, các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài
sản, trong đó đặc biệt là các khoản phải thu của khách hàng. Điều này phản ánh
công ty chưa thực sự chú ý hoặc không thể thu hồi các khoản nợ đọng. Vì vậy,
công ty cần phải có các biện pháp thu hồi nợ đọng, có biện pháp khuyến khích
khách hàng thanh toán tiền đúng hạn. Các biện pháp này sẽ giúp công ty thanh

3


toán các khoản nợ nần một cách tốt nhất, đồng thời góp phần làm lành mạnh hoá
tình hình hoạt động tài chính của công ty.
-

Về nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến động về cơ cấu tài sản của công

ty : Tỷ trọng của tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm trong tổng
tài sản của công ty là khá lớn, phản ánh sự mở rộng quy mô hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty nhưng bên cạnh đó tỷ trọng của tiền chiếm trong tổng số
tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn là quá nhỏ, điều này gây khó khăn
lớn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, thậm chí không
đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
tiến hành liên tục. Điều này dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả vốn kinh doanh
của doanh nghiệp. Do vậy, công ty cần có ngay biện pháp bổ xung thêm lượng
tiền mặt ở mức vừa phải đủ để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
ổn định, liên tục.
- Qua bảng cân đối kế toán ta cũng thấy, công ty chưa chú trọng đầu tư
vào các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, công ty nên có phương hướng đầu tư
vào lĩnh vực này trong năm tới. Bởi đây là khoản có khả năng tạo ra nguồn lợi
tức trước mắt cho công ty. Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng tạo ra nguồn lợi
tức trước mắt càng lớn.
-Tỷ trọng của hàng tồn kho: Tỷ trọng hàng tồn kho chiếm tỷ lệ lớn trong
tổng số tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn, phản ánh mức tồn kho của
công ty là khá lớn, hàng tồn kho tồn đọng nhiều. Công ty cần chi tiết từng loại
mặt hàng tồn kho, xác định rõ nguyên nhân và tìm mọi biện pháp giải quyết dứt
điểm các mặt hàng tồn đọng, nhằm thu hồi vốn, góp phần cho vấn đề sử dụng
vốn có hiệu quả hơn. Công ty cần kết hợp với chủ đầu tư đẩy mạnh tiến độ xây
dựng các công trình đang thi công nhằm đưa lượng hàng tồn kho lớn vào sản
xuất kinh doanh.
-Về tỷ trọng tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn: Tỷ trọng của tài sản
cố định và đầu tư tài chính dài hạn là khá lớn trong tổng tài sản của công ty, điều
này là hợp lý bởi trong nghành xây dựng, việc đầu tư mua sắm thiết bị máy móc
phục vụ sản xuất thi công chiếm một lượng vốn khá lớn. Tỷ trọng này trong
4


công ty gia tăng hàng năm chứng tỏ cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty ngày
càng được tăng cường và quy mô năng lực sản xuất kinh doanh của công ty
ngày càng được mở rộng. Công ty cần phát huy hơn nữa trong việc đầu tư máy
móc thiết bị hiện đại nhằm cạnh tranh tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc
liệt như hiện nay và trong tương lai.
-Một bất cập đối với công ty hiện nay đó là công ty chưa chú ý đến các
khoản đầu tư tài chính dài hạn. Bởi đây là khoản đầu tư có khả năng tạo ra
nguồn lợi tức lâu dài cho công ty, đầu tư vào lĩnh vực này càng nhiều thì khả
năng tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho công ty ngày càng lớn và ổn định. Bên
cạnh đó công ty cũng vẫn chưa sử dụng tài sản cố định thuê tài chính. Đôi khi sử
dụng loại tài sản này phát huy hiệu quả rất lớn, giảm bớt được một lượng vốn
lớn khi phải mua những tài sản giá trị lớn không thực sự cần thiết. Lượng vốn
đó dùng vào đầu tư lĩnh vực khác mang lại hiệu quả cao hơn cho công ty.
-Về tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản dở dang: Tỷ trọng này lại chiếm lớn
trong tổng số tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn cũng như trong hàng tồn
kho. Điều này phản ánh vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản dở dang chưa hoàn
thành của công ty là rất lớn. Do đó, công ty cần phải tìm mọi biện pháp để gấp
rút hoàn thành và đưa các công trình xây dựng dở dang vào tiến độ. Những công
trình có đủ vốn và thủ tục xây dựng cơ bản cần làm nhanh thủ tục nghiệm thu và
bám sát chủ đầu tư để thanh toán kịp thời. Những công trình chưa có vốn hoặc
thiếu thủ tục xây dựng cơ bản cần chủ động phối hợp với chủ đầu tư tháo gỡ
từng bước để thu hồi nhanh nợ khối lượng. Những công trình làm B phụ cần
thường xuyên bám sát nhà thầu chính để thanh toán. Những công trình hoàn
thành cần phối hợp với chủ đầu tư duyệt nhanh quyết toán để thanh toán hết
kinh phí giữ lại 5% chờ quyết toán.
-Để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh của công ty, một mặt công ty cần phải sử dụng tiết kiệm
vốn sản xuất kinh doanh, mặt khác công ty phải sử dụng hợp lý về cơ cấu vốn
kinh doanh hiện có của công ty. Về cơ cấu của vốn sản xuất kinh doanh thường
phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng nghành. Hay nói một cách
5


khác, mỗi ngành kinh tế, mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty, ngay cả những doanh
nghiệp cùng ngành kinh tế nhưng cũng có một cơ cấu nguồn vốn riêng và do đó
cũng không có câu trả lời chính xác nào cho câu hỏi : Cơ cấu vốn sản xuất kinh
doanh nào là hợp lý nhất. Song để đảm bảo cơ cấu sản xuất kinh doanh hợp lý
và sử dụng có hiệu quả, công ty cần tập trung giải quyết một số biện pháp sau:
+Phải đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa tài sản cố định tích cực và tài sản
cố định không tích cực.
+Phải đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa các loại thiết bị sản xuất trên quy
trình công nghệ, đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các bộ phận, giữa
các đơn vị trong công ty.
+Phải đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cố định và vốn lưu động
trong tổng số vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm tạo ra sự đồng
bộ giữa ba yếu tố của quá trình kinh doanh. Có như vậy mới nâng cao được hiệu
quả sản xuất kinh doanh của công ty.
-Về nhóm các chỉ tiêu phản ánh nguồn tự tài trợ của công ty:
Qua phân tích ta thấy, tỷ suất tự tài trợ của công ty là quá nhỏ. Phản ánh
khả năng tự tài trợ của công ty là rất thấp,công ty không thể chủ động đáp ứng
nhu cầu về nguồn vốn cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều
này phản ánh sự mất ổn định về tài chính của công ty trong năm tài chính vừa
qua và trong tương lai gần. Công ty cần có biện pháp làm tăng nguồn vốn chủ
sở hữu, bởi khi nguồn vốn chủ sở hữu tăng công ty có thể chủ động trong việc
đảm bảo vốn cho nhu cầu của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và rủi ro về tài
chính của công ty sẽ giảm, góp phần làm bình ổn tình hình tài chính của công ty,
giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn, ổn định vững chắc trong thị trường cạnh
tranh khốc liệt.
-Về nhóm các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất tự tài trợ về tài sản lưu động và
đầu tư tài chính ngắn hạn, tỷ suất tự tài trợ về tài sản cố định và đầu tư tài chính
dài hạn: Do lượng vốn chủ sở hữu nhỏ, vì vậy các tỷ suất này công ty đạt được
là rất thấp, kéo theo rủi ro về tài chính đối với công ty sẽ rất cao, sự phụ thuộc
về tài chính vào khách hàng và bạn hàng là rất lớn. Thực tiễn chứng minh rằng :
6


Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển thành công ty cổ phần đã
hoạt động có hiệu quả. Ngoài việc tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng các
khoản nộp ngân sách nhà nước, thu nhập của người lao động cũng được tăng
đáng kể, thì cổ phần hoá là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm huy động nguồn vốn
nhàn dỗi trong nhân dân, nguồn vốn từ cán bộ công nhân viên trong công ty.
Biện pháp này đã khắc phục được tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng trong một
số doanh nghiệp. Do vậy, công ty nên có phương hướng chuyển thành công ty
cổ phần nhà nước ( Nhà nước nắm giữ > 51% cổ phần). Như vậy, công ty mới
giải quyết được các vấn đề về tình hình tài chính tài chính hiện tại : Nâng cao
nguồn vốn chủ sở hữu, bổ xung nguồn vốn rất lớn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh.
-Nhóm các chỉ tiêu phản ánh thực trạng về khả năng sinh lời của vốn :
Qua phân tích ta thấy cả hệ số sinh lời của vốn kinh doanh và hệ số sinh lời của
vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn vay công ty đạt được trong các năm
đều ở mức thấp. Điều này thể hiện sự bất ổn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty, công ty sử dụng vốn chưa thật sự hiệu quả. Công ty cần nâng
cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản lưu động, tài sản cố định, giảm tới mức tối thiểu thời gian quay vòng của tài
sản lưu động, cải tiến trong hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt được hiệu quả
cao hơn.
-Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
của công ty : Kết quả của việc quản lý và sử dụng vốn có ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm: Khối lượng sản phẩm hàng hoá
tính bằng đơn vị hiện vật, tổng giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá sản
xuất, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Công ty tư vấn giám sát và xây
dựng công trình đạt được các chỉ tiêu này khá thấp. Công ty cần phải tăng
cường quy mô của kết quả đầu ra, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý về
cơ cấu của vốn sản xuất kinh doanh.
Trên đây là một số đánh giá và biện pháp sử lý đối với một số chỉ tiêu tài
chính của công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình. Tuy mỗi chỉ tiêu có
7


sự khác nhau về ý nghĩa kinh tế nhưng đều có tác dụng nhất định trong việc
quan sát, nghiên cứu đánh giá tình hình tài chính của công ty trong một kỳ kinh
doanh nhất định. Giữa chúng có mối liên hệ mật thiết hữu cơ, bổ xung cho nhau
nhằm đáp ứng cho việc đánh giá đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về tình hình tài
chính của công ty. Trên cơ sở đó giúp cho các nhà quản trị công ty có những
biện pháp điều chỉnh kịp thời, khắc phục được những tồn tại yếu kém ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của công ty, làm lành mạnh hoá tình
hình tài chính của công ty, tránh được những rủi ro không đáng có về tài chính.
3.1.3.Hoàn thiện về tổ chức công tác phân tích
Tổ chức công tác phân tích tài chính trong công ty là việc thiết lập trình tự
các bước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính. Để phân
tích tài chính trong công ty thực sự phát huy tác dụng trong qua trình ra quyết
định, phân tích tài chính được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp đặc điểm kinh
doanh , mục tiêu kinh doanh của công ty và sự quan tâm của từng đối tượng .
Bởi vậy, để hoàn thiện tổ chức công tác phân tích ta hoàn thiện thêm các giai
đoạn của quá trình phân tích với việc thực hiện công tác phân tích đúng các quy
trình đã định, và ở các bước tiến hành được thực hiện chu đáo cẩn thận. Để hoạt
động phân tích tài chính đạt được hiệu quả cao, cần làm tốt ngay từ khâu chuẩn
bị. Nó bao gồm một số công đoạn như : Xác định mục tiêu phân tích, thu thập và
xử lý thông tin, lập kế hoạch phân tích:
 Xác định mục tiêu phân tích.
Phân tích tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính của Công ty trong
thời gian qua để thấy được điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động tài chính và
đánh giá khả năng phát triển của Công ty trong tương lai. Trên cơ sở đó, lập kế
hoạch tài chính ngắn hạn và xây dựng chiến lược phát triển cho Công ty.
 Thu thập và xử lý thông tin.
Chất lượng phân tích tài chính của Công ty phụ thuộc rất nhiều vào thông
tin sử dụng. Thông tin dùng để phân tích tài chính phải chính xác, đầy đủ, kịp
thời và có tính so sánh. Nó bao gồm hai nguồn thông tin chính:
- Nguồn thông tin bên trong Công ty chính là các báo cáo tài chính, số liệu trên
các báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, chính xác tình hình hoạt động
8


kinh doanh của Công ty, đồng thời cần tập hợp số liệu hàng tháng để theo dõi
sự biến động tình hình sản xuất kinh doanh một cách kịp thời và có giải pháp
phù hợp.
- Nguồn thông tin bên ngoài Công ty như thông tin về tình hình kinh tế, thị
trường sản xuất- kinh doanh thông tin về các công ty cùng ngành. Ngoài ra cần
quan tâm tới kế hoạch, chỉ tiêu do Bộ đặt ra cho Công ty.
 Lập kế hoạch phân tích.
Đây là khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác
dụng của phân tích tài chính. Giai đoạn lập kế hoạch được tiến hành chu đáo,
chuẩn xác sẽ giúp cho các giai đoạn sau tiến hành có kết quả tốt. Sau khi đã xác
định được mục tiêu phân tích và thu thập đầy đủ thông tin cần thiết. Công ty
tiến hành lập kế hoạch phân tích trên các khía cạnh sau:
- Phương pháp phân tích
- Nội dung phân tích
- Lựa chọn cán bộ có trình độ chuyên môn để tiến hành phân tích
- Phối kết hợp với các bộ phận khác trong phân tích
- Xác định thời gian cho công tác phân tích.
Tiếp theo đó là giai đoạn tiến hành phân tích: Sau khi xác định mục tiêu
phân tích và thu thập được đầy đủ các thông tin cần thiết cho quá trình phân
tích. Theo kế hoạch phân tích đã đặt ra, ta đi tiến hành phân tích tài chính của
công ty, với việc tính toán các chỉ tiêu; xác định nguên nhân và tính toán cụ thể
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích; xác định dự đoán
những nhân tố kinh tế xã hội khác tác động đến tình hình kinh doanh của công
ty; tổng hợp kết quả, rút ra kết luận, nhận xét về tình hình tài chính của công ty.
Công việc cuối cùng và rất quan trọng tiếp theo logic của phân tích, đó công
việc chuẩn đoán phân tích. Trong suốt qúa trình phân tích, nghiên cứu với nhiều
yếu tố xuất hiện như: về cơ cấu tài chính của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng
vốn, sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp…. Việc phân tích tài chính
hữu hiệu là phải phục vụ cho việc theo dõi lập luận của nhà phân tích và mục
đích của quá trình phân tích. Bởi vậy cần có sự nghiên cứu thêm về các thông
tin liên quan đến ngành và môi trường kinh tế và phải nêu rõ các dữ liệu về tài
9


chính, kinh tế hoặc những con số cần dùng khác, các công cụ và phương pháp
phân tích, các giả thiết làm cơ sở cho dự đoán, các kết luận về khả năng sinh lời
và rủi ro. Việc chuẩn đoán tài chính có tầm quan trọng đặc biệt vì nó dẫn tới việc
ra quyết định tài chính. Trên cơ sở các chuẩn đoán tài chính, công ty tạm dừng
các mục tiêu ban đầu, xác định chiến lược hoặc sửa đổi các chính sách ngắn hạn.
Với các nhà đầu tư so sánh với các dự đoán để quyết định mua hoặc bán cổ
phiếu. Bên cạnh đó, các quyết định chấp nhận hoặc từ chối cho vay hoặc đi vay,
các điều kiện tín dụng đều phụ thuộc vào các chuẩn đoán tài chính. Cuối cùng, ý
nghĩa phổ biến chuẩn đoán tài chính chính xác sẽ giúp cho việc lựa chọn được
những điều kiện tốt nhất khi thuê mua các nguồn lực phục vụ cho sản xuất, kinh
doanh.
Để giảm bớt các khâu có thể, giảm thời gian phân tích tài chính, tăng hiệu
suất của công tác tài chính, ta cần áp dụng công cụ tin học vào quá trình phân
tích. Công việc này có thể được sử dụng với nội dung sau:
 Lưu trữ các dữ liệu phục vụ cho công tác phân tích
 Tính toán và so sánh các chỉ tiêu, các chỉ số
 Tính các cân đối tài chính
 Đối chiếu báo cáo tài chính với các giả thiết
 Phân tích các độ nhạy tài chính
3.1.4. Hoàn thiện công tác kế toán
Trình tự và các bước tiến hành phân tích tài chính đi từ việc thu thập thông
tin, xử lý thông tin và cuối cùng dự đoán và đưa ra quyết định. Trong bước thứ
nhất, công ty cần thu thập các thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực
trạng hoạt động tài chính của công ty. Những thông tin này bao gồm những
thông tin kế toán và thông tin quản trị khác, trong đó thông tin kế toán có vai trò
đặc biệt quan trọng. Qua việc chỉ ra thực trạng công tác phân tích tài chính của
Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình cho thấy để hoàn thiện công tác
phân tích tài chính trước hết cần hoàn thiện công tác kế toán.
Hoàn thiện công tác kế toán nhằm cung cấp thông tin cần thiết, chính xác,
đầy đủ cho phân tích tài chính. Vì kế toán là việc quan sát, ghi chép, phân loại,
tổng hợp các hoạt động của công ty và trình bày kết quả của chúng nhằm cung
10


cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về tài chính và đánh giá hoạt
động của công ty. Những thông tin kế toán được phản ánh tập trung chủ yếu trên
các báo cáo tài chính chính là nền tảng, là cơ sở nâng cao chất lượng phân tích
tài chính bởi vì chúng ta chỉ có được những kết quả phân tích tin cậy dựa trên
những thông tin toàn diện, đầy đủ, các số liệu chính xác, tỷ mỷ.
Công tác kế toán bao gồm rất nhiều nội dung. Do đó để hoàn thiện công
tác này, công ty cần tiến hành đồng bộ trên tất cả các nội dung của kế toán, kiểm
toán. Cụ thể : Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình cần hoàn thiện
các mặt sau:
Công tác hạch toán ban đầu.
Công tác tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán.
Các loại sổ sách sử dụng cho kế toán.
Công tác lập các BCTC.
Tổ chức bộ máy kế toán và phân công lao động kế toán.
Trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ.
Kiểm tra kế toán.
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, công ty đặc biệt chú ý đến
công tác trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ cho công tác kế toán, mà cụ
thể ở đây là việc ứng dụng tin học, sử dụng phần mềm kế toán trong công tác
quản lý để thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển ở nước ta và hội nhập với thế giới.
Công tác kế toán thủ công sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu thông tin nhanh,
cập nhật, chính xác, toàn diện, tốc độ xử lý thông tin nhanh, khối lượng thông
tin xử lý lớn. Trên thực tế, Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình đã
nhận thức rõ vai trò của tin học hoá, Ban giám đốc đã đầu tư, trang bị máy tính
cho các phòng ban. Công ty đã sử dụng một số phần mềm kế toán để giảm bớt
sổ sách kế toán, tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, những phần mềm kế toán
này còn nhỏ, chưa đủ tầm quản lý cho một công ty lớn. Trong những năm tới,
công ty dự định trang bị thêm số máy cho phòng kế toán, mua sử dụng các phần
mềm kế toán hiện đại hơn nhằm nâng cao đồng bộ nội dung quản lý kế toán.
Mặc dù công tác kiểm toán nội bộ của Công ty tư vấn giám sát và xây
dựng công trình được tiến hành nghiêm túc. Song để có được những thông tin
tin cậy Công ty cần kiểm toán một cách thường xuyên, chặt chẽ hơn nữa, nhằm
kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của hệ thống chứng từ về việc ghi chép các
11


nghiệp vụ phát sinh, phát hiện sai lầm để sửa từ khâu đầu, cung cấp nguồn thông
tin “sạch” cho phân tích tài chính và góp phần lành mạnh hoá tài chính của công
ty.
3.1.5. Đào tạo nhân sự cho công tác phân tích tài chính
Yếu tố con người vẫn là yếu tố quyết định trong nhiều vấn đề và lĩnh vực
trong cuộc sống. Trong chủ trương về đường lối CNH HĐH đất nước của Đảng
ta cũng lấy yếu tố con người là trung tâm, là then chốt cho sự phát triển. Chất
lượng công tác phân tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nhân sự có
vai trò rất quan trọng. Giả sử rằng tất cả các bước yếu tố khác đều tốt nhưng
công việc phân tích được giao cho một cán bộ yếu về chuyên môn nghiệp vụ,
thiếu đầu óc quan sát, thiếu việc đánh giá sự vật trong mối quan hệ tài chính thì
chắc chắn những kết qủa phân tích sẽ không đáng tin cậy, phiến diện và mang
tính chủ quan. Thông thường trong các công ty Việt Nam hiện nay, công tác
phân tích tài chính được giao cho cán bộ phòng tài chính kế toán thực hiện mà
chuyên môn chính của họ là kế toán chứ không phải là tài chính. “Công ty tư
vấn giám sát và xây dựng công trình cũng không ngoại lệ cho nên kết quả phân
tích tài chính chưa cao.
Giải quyết vấn đề này, để hoàn thiện công tác phân tích tài chính, các cán
bộ phân tích ở đây yêu cầu phải là những cán bộ có chuyên môn, trình độ cao về
tài chính, được đào tạo chính quy, am hiểu sâu rộng về đặc điểm kinh doanh của
công ty, vị thế của công ty, nắm vững những quy định, chính sách quản lý tài
chính, chính sách thuế của nhà nước cũng như tình hình kinh tế trong nước và
quốc tế, những định hướng kinh doanh của công ty trong thời gian tới.
Đào tạo cán bộ cho công tác phân tích tài chính là một công việc khó, lâu
dài, cần có những cán bộ trẻ, năng động kế tiếp cho những người đi trước. Do
vậy, công ty cần có sự đầu tư thích đáng về thời gian và tiền của cho nguồn nhân
lực phục vụ cho công tác này. Công ty có thể tổ chức các khoá học ngắn hạn bồi
dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho các cán bộ quản lý tài chính. Tuyển thêm các
cán bộ trẻ có nghiệp vụ cao chuyên về tài chính làm dồi dào thêm cho nguồn
nhân sự. Mặc dù công việc này mang tính đầu tư lâu dài, xong chắc chắn sẽ
nâng cao hiệu qủa, chất lượng công tác phân tích tài chính của công ty trong
tương lai.
12


3.1.6. Thực hiện công tác phân tích tài chính một cách thường xuyên
Để hoàn thiện công tác phân tích tài chính tài công ty Công ty tư vấn giám
sát và xây dựng công trình góp phần nâng cao hiệu qủa hoạt động tài chính,
Công ty cần chú trọng tới công tác phân tích tài chính, cụ thể hơn công tác phân
tích tài chính cần được tiến hành thường xuyên.
Tại Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình, công tác phân tích tài
chính đã được tiến hành thông qua thuyết minh Báo cáo tài chính và nội dung
phân tích đã được đề cập ở chương 2. Kết quả phân tích chủ yếu được sử dụng
cho mục đích báo cáo, tổng kết chưa phục vụ cho việc đánh giá thực trạng tình
hình tài chính của Công ty từ đó ra các quyết định tài chính phù hợp trong quá
trình sản xuất kinh doanh sau. Như vậy, Ban lãnh đạo Công ty và các bộ phận
phân tích cần nhận thức được vai trò và ý nghĩa của công tác phân tích tài chính
để nó trở thành công việc có vị trí, có quy trình thực hiện chặt chẽ như các công
tác kế toán bắt buộc thực hiện của Công ty. Thường Công ty tiến hành phân
tích vào cuối mỗi niên độ kế toán nhằm mục đích báo cáo thì bây giờ Công ty
có thể tiến hành thường xuyên hơn. theo quý,hoặc theo tháng. Tuy nhiên, việc
thay đổi trong tư duy không phải là việc có thể thay trong một sớm một chiều,
do vậy Công ty cần hết sức lưu tâm.
3.1.7. Sử dụng linh hoạt các phương pháp phân tích tài chính
Một trong những tồn tại của Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công
trình trong công tác phân tích tài chính là việc sử dụng phương pháp phân tích
cứng nhắc, đơn điệu thiếu linh hoạt giữa phương pháp tỷ lệ và phương pháp so
sánh làm giảm hiệu quả hoạt động phân tích tài chính.
Để khắc phục tồn tại này cán bộ phân tích cần nhạy bén, linh hoạt trong
việc sử dụng và kết hợp hai phương pháp này. Cán bộ phân tích khi sử dụng
phương pháp so sánh không chỉ so sánh số đầu kỳ với số cuối kì mà cần kết hợp
với phương pháp tỷ lệ để tính các tỷ lệ tài chính cũng như tỷ trọng các khoản
mục, kết cấu nguồn vốn, kết cấu tài sản, để từ đó có sự đánh giá tình hình tài
chính của Công ty một cách chính xác.Từ đó ban lãnh đạo Công ty đưa ra các
quyết định tài chính phù hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính. Do vậy,
cán bộ phân tích có năng lực chuyên môn, có đầu óc nhạy bén sẽ quyết định
nhiều tới hiệu quả phân tích tài chính.
3.2. Kiến nghị
13


Khi tiến hành hoạt động phân tích tài chính của Công ty tư vấn giám sát
và xây dựng công trình cho thấy còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên
nhân. Trong đó một số nguyên có thể khắc phục được, còn một số nguyên nhân
nằm ngoài tầm xử lý của Công ty như thông tin của các công ty cùng ngành...
Mặt khác kết quả phân tích tài chính cho thấy tình hình tài chính của Công
ty còn một số điểm yếu cần khắc phục. Vì vậy, để hoạt động phân tích tài chính
được tiến hành thuận lợi và để cải thiện tình hình tài chính của Công ty được tốt
hơn em xin đưa ra một số kiến nghị sau:
3.2.1.Đối với công ty
- Lập kế hoạch tài chính: Kế hoạch tài chính là một chiến lược cực kỳ
quan trọng, nó quyết định trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất-kinh doanh
của Công ty. Vì vậy, khi lập kế hoạch tài chính không chỉ dựa vào các kế hoạch,
mà còn phải căn cứ vào thực tế hoạt động của Công ty trong thời gian trước
cũng như khả năng thực hiện trong thời gian tới. Muốn vậy, nhà quản lý cần
phải dựa vào kết quả phân tích tài chính tại Công ty để nắm bắt được tình hình.
Kế hoạch tài chính của Công ty hiện nay mới chỉ là những dự tính ngắn
hạn (cho năm tiếp theo) cho một số chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận, thu nhập
bình quân.
Công ty cần phải xây dựng một kế hoạch dài hạn với các chiến lược phát
triển lâu dài trên nhiều lĩnh vực. Đồng thời, Công ty cũng cần xác định các kế
hoạch cụ thể, chi tiết về quản lý tài chính ngắn hạn như quản lý ngân quỹ, các
khoản phải thu, dự trữ và nợ ngắn hạn.
- Vì cơ chế điều chuyển vốn của Công ty là cơ chế điều chuyển vốn tập
trung, do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty nên xem xét sự thiết lập
một dòng thông tin thống nhất giữa các bộ phận có kế hoạch sử dụng vốn và bộ
phận đáp ứng nhu cầu về vốn. Cụ thể là phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Phòng
Tài chính – Kế toán của Công ty với các Phòng Kỹ thuật, Phòng Đầu tư, Phòng
Kinh tế thị trường và bộ phận kế toán của các đơn vị trực thuộc thông qua mạng
nội bộ để việc điều chuyển vốn được kịp thời tránh tình trạng nơi thừa vốn nơi
thiếu vốn.
- Công ty nên chú trọng hơn nữa công tác thẩm định năng lực tài chính
khách hàng trước khi ra quyết định cho khách hàng nợ (bao gồm cả năng lực tài
14


chính và năng lực pháp lý) tăng cường công tác theo dõi và thu hồi công nợ.
- Tăng cường thúc đẩy hoạt động Marketing ở các đơn vị sản xuất- kinh
doanh trực thuộc Công ty, không ngừng tiết kiệm chi phí, chủ yếu là chi phí
quản lý công ty.
- Phân tích tài chính là một công việc phức tạp đòi hỏi nhà phân tích phải
có những kiến thức nhất định về lĩnh vực này và phải hiểu biết sâu sắc tình hình
của Công ty. Hiện nay Công ty tư vấn giám sát và xây dựng công trình cũng
như hầu hết các công ty khác đều chưa có cán bộ chuyên trách, phân tích tài
chính được tiến hành sơ lược bởi các kế toán viên. Vì vậy, để hoạt động phân
tích tài chính đạt kết quả cao, Công ty cần có sự đầu tư thích đáng, có kế hoạch
bồi dưỡng và đào tạo hoặc tuyển dụng cán bộ chuyên đảm nhiệm về phân tích
tài chính.
- Công ty cần tiến hành phân tích tài chính thường xuyên và định kỳ để
nắm bắt tình hình tài chính một cách chính xác và ra các quyết định tài chính kịp
thời.
3.2.2. Đối với Nhà nước
Qua nghiên cứu phân tích tài chính, chúng ta đã thấy được ý nghĩa, tầm
quan trọng của nó đối với Công ty. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, mức độ
cạnh tranh giữa các công ty ngày càng khốc liệt, các công ty không ngừng tìm
kiếm các biện pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính. Và các
giải pháp đưa ra ở trên là thiết thực đối với Công ty . Tuy nhiên, để các giải pháp
được thực hiện tốt, có động lực thúc đẩy đối với công ty thì từ phía Nhà nước
cần cú sự hỗ trợ tích cực thông qua việc ban hành các quy định, các chính sách
cụ thể về phân tích tài chính, quản lý tài chính, môi trường kinh doanh thuận
lợi... cho các công ty. Xuất phát từ suy nghĩ đó em xin đề xuất một số kiến nghị
đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
Thứ nhất: Để tạo cơ sở cho việc cung cấp thông tin kinh tế tài chính
đầy đủ, chính xác, Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống kế toán, kiểm toán
Trong hơn 15 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều biến
chuyển lớn, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện,
ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.
15


Ngày 20/5/1988 Hội đồng nhà nước đã công bố Pháp lệnh kế toán- thống
kê. Sự ra đời của pháp lệnh này góp phần tạo ra sự quản lý thống nhất chế độ kế
toán ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện
nay thì còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với vị trí của nó trong quản lý kinh
tế. Điều này đòi hỏi hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam không ngừng hoàn
thiện và phát triển, đổi mới sâu sắc và toàn diện trên nhiều nội dung. Chiến lược
phát triển kinh tế xã hội và chiến lược Tài chính- Kế toán 2000-2010 cũng đã chỉ
rõ “ Cải thiện môi trường pháp lý về lĩnh vực tài chính”, “ Kiện toàn hệ thống
kế toán thống kê nhằm đảm bảo tính trung thực trong công tác kế toán, thống
kê”, “ Hệ thống kế toán, kiểm toán, thống kê là điều kiện tiên quyết để thực
hiện giám sát tài chính”. Hiện nay Luật kế toán đã được ban hành.
Nền kinh tế nước ta đang từng bước phát triển ổn định, do đó Nhà nước
cần ban hành các chính sách hạch toán kế toán ổn định tránh tình trạng thay đổi
liên tục gây khó khăn cho các công ty. Bộ tài chính yêu cầu các Công ty phải
lập đầy đủ các BCTC với các mẫu bảng biểu thống nhất.
Các cơ quan kiểm toán Nhà nước cần thực hiện tốt nhiệm vụ của mình để
đảm bảo tính khách quan của công tác kiểm toán, tăng cường sự kiểm tra giám
sát của Nhà nước đối với các công ty một cách kịp thời và đầy đủ để phát hiện
những bất hợp lý của các nghiệp vụ kinh tế, chứng từ kế toán, nhằm kiểm chứng
tính chính xác, trung thực các số liệu tài chính của công ty góp phần mang lại
một kết quả phân tích tài chính được sát thực hơn.
Thứ hai: Để lành mạnh hóa tài chính công ty, cần quy định bắt buộc
Công ty phải nộp báo cáo phân tích tài chính hàng năm.
Thậm chí Nhà nước cần có những quy định cụ thể về thời gian nộp báo
cáo, quy định về việc công bố thông tin phân tích tài chính trên phương tiện
thông tin đại chúng, và quy định về trình độ của người tiến hành phân tích. Tất
cả những điều này sẽ thúc đẩy công ty hoạt động sản xuất hiệu quả hơn, làm
lành mạnh hoá tài chính công ty. Bộ Tài chính có thể hỗ trợ thêm bằng cách mở
các lớp bồi dưỡng kiến thức về phân tích tài chính cho các công ty nhằm nâng
cao trình độ của các cán bộ phân tích.
Bộ tài chính cần có quy định yêu cầu các công ty bắt buộc phải lập báo
cáo lưu chuyển tiền tệ nhằm cung cấp các thông tin về luồng tiền vào, ra trong
16


kỳ, phản ánh trạng thái động của công ty để bổ sung cho các tài liệu khác như
bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh khi đánh giá về hoạt động của
công ty. Vì thực tế hiện nay rất nhiều các công ty Việt Nam chưa lập báo cáo
lưu chuyển tiền tệ.
Bộ tài chính cần tiến tới yêu cầu các công ty phải thực hiện phân tích tài
chính một cách nghiêm túc để tự đánh giá hoạt động tài chính của mình đề ra
phương huớng phát triển và báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên, để các cơ
quan này nắm vững hơn tình hình hoạt động của đơn vị mình quản lý để có các
quyết định quản lý thích hợp và thúc đẩy được hoạt động phân tích tài chính
phát triển.
Nhà nước nên có quy định yêu cầu các công ty phải công khai các báo
cáo tài chính để làm cơ sở cho việc phân tích tài chính được dễ dàng và thuận
lợi hơn. Hiện nay chỉ có trong công ty là có đủ tài liệu để phân tích tài chính
còn những người ngoài công ty chưa thể tìm hiểu cụ thể về công ty mà mình
quan tâm. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi các công ty Nhà nước chuyển thành
các Công ty cổ phần.
Thứ ba: Để có chuẩn mực, thước đo đánh giá hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty, Nhà nước phải quy định về việc xây dựng hệ thống
chỉ tiêu ngành.
Chỉ tiêu ngành sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các công ty, nó là cơ
sở tham chiếu để các nhà phân tích có thể đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận
về hoạt động tài chính của công ty mình một cách chính xác. Tuy nhiên, hiện
nay, chúng ta đã có chỉ tiêu trung bình ngành nhưng chưa đầy đủ và không kịp
thời, chưa thể hiện được vai trò tham chiếu nên gây ra cho công ty nhiều khó
khăn, lúng túng khi đối chiếu đánh giá hoạt động của công ty mình. Do đó,
chính phủ cần sớm có những văn bản hướng dẫn việc xây dựng và cung cấp hệ
thống chỉ tiêu trung bình các ngành. Các cơ quan có trách nhiệm cần phối hợp
xây dựng để có sự thống nhất trong toàn nền kinh tế, bảo đảm tính chuẩn mực,
khách quan cho những chỉ tiêu này.
Thứ 4: Để nâng cao hoạt động tài chính của công ty, Nhà nước cần
tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế quản lý tài chính đối với công ty.

17


Hệ thống cơ chế quản lý tài chính đóng vai trò quan trọng trong quản
trị tài chính công ty. Đây là cơ sở pháp lý thống nhất để các đơn vị tiến hành
hạch toán kinh doanh, lập các báo cáo tài chính phục vụ cho công tác phân tích
tài chính và quản trị tài chính đơn vị mình.
Nghị định 59/CP ngày 3/10/1996 của Chính phủ ban hành quy chế
quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với DNNN đã đánh dấu một bước
ngoặt trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn đổi mới quản lý tài chính DNNN.
Tuy nhiên, sau gần 3 năm thực hiện, một số điều quy định trong Nghị định này
không còn phù hợp, cần được sửa đổi nếu không sẽ trở thành vật cản trong quá
trình đổi mới, phát triển kinh tế. Ngày 20/4/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị
định 27/CP nhằm sửa đổi bổ sung quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh
doanh đối với DNNN. Về cơ bản, Nghị định 27/CP và các thông tư của Bộ tài
chính đã đáp ứng được yêu cầu thực tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Song
bên cạnh đó đã bộc lộ một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi và bổ sung
như: quy định về vấn đề sở hữu đối với DNNN, vấn đề về hạch toán doanh thu
và chi phí, hay quy định về các khoản dự phòng, quy định về công khai tài
chính...
Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty
Nhà nước cần xây dựng thị trường tài chính, thị trường vốn ổn định, phát triển
thị trường chứng khoán Việt Nam để mở rộng kênh dẫn vốn thông qua hệ thống
ngân hàng thương mại, các quỹ, các công ty tài chính trên thị trường để các
công ty có thể huy động vốn dễ dàng hơn, có thêm điều kiện để mở rộng sản
xuất kinh doanh.
Chính phủ cần sớm thành lập một cơ quan chuyên thu thập số liệu để đưa
ra hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành mang tính cập nhật nhất để các công ty có
cơ sở tham chiếu trong việc đánh giá vị thế của công ty mình
Chính phủ cần có biện pháp hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính
mà đặc biệt là thị trường chứng khoán để tạo nhiều kênh huy động vốn cho công
ty. Mặt khác cần tăng cường công tác cổ phần hoá các công ty Nhà nước để tạo
thêm nhiều hàng hoá cho thị trường tài chính từ đó thúc đẩy nhu cầu cần thiết
phải phân tích tài chính công ty tạo động lực đưa nền kinh tế phát triển hoà
nhập cùng các nước trong khu vực và trên thế giới
18


KT LUN
Phõn tớch ti chớnh l mt ni dung trong qun tr ti chớnh cụng ty. Cỏc
cụng ty Vit Nam hin nay l nhng n v kinh doanh t ch, t chu trỏch
nhim i vi hot ng sn xut kinh doanh ca mỡnh. Trong bi cnh nn kinh
t hin i, cỏc cụng ty phi i mt vi nhiu vn phc tp nh s bin
ng liờn tc ca th trng, s cnh tranh gay gt gia cỏc cụng ty trong v
ngoi nc.... Vỡ th, cụng tỏc phõn tớch ti chớnh nhm ỏnh giỏ thc trng ti
chớnh cụng ty t ú cú nhng quyt nh ti chớnh phự hp tr thnh mt
trong nhng vn sng cũn i vi cụng ty. Hn th na, nhng thụng tin do
cụng tỏc phõn tớch ti chớnh em li cũn thit thc i vi nhiu ch th trong
nn kinh t nh cỏc c quan nh nc, cỏc nh u t, cỏc ngõn hng... trong
vic ra quyt nh.
Công ty t vấn giám sát và xây dựng công trình cũng là
một công ty

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, với

những kết quả đạt đợc và những tồn ti hn ch trong hot ng ti
chớnh ca Cụng ty, Em thit ngh Cụng ty cn chỳ trng hn na ti cụng tỏc
phõn tớch ti chớnh v vic s dng, ỏp dng cỏc gii phỏp kin ngh trờn õy l
hon ton kh thi i vi cụng ty nhm nõng cao hot ng phõn tớch ti chớnh,
t ú nõng cao hiu qu hot ng ti chớnh, hiu qu hot ng kinh doanh ca
cụng ty.
Tuy nhiờn, do hn ch v mt trỡnh v thiu kinh nghim thc t, hn
na do cha cú nhiu thụng tin ng khi phõn tớch do ú nhng ỏnh giỏ trong
chuyờn cú th cha tht sỏt thc, cũn mang tớnh ch quan, cỏc gii phỏp a
ra cha chc ó l ti u. Vỡ vy em rt mong nhn c s úng gúp, b sung
t phớa cỏc Thy Cụ giỏo, cỏc cụ chỳ, anh ch phũng Ti chớnh- K toỏn Cụng ty
T Vn Giỏm sỏt v Xõy Dng Cụng Trỡnh v cỏc bn quan tõm ti vn ny,
bi vit hon thin hn.
Em xin chõn thnh cm n thy giỏo PGS.TS Vng Trng Ngha ó tn
tỡnh hng dn em hon thnh ỏn ny.
Ngy 15 thỏng 03 nm 2006
Sinh Viờn
19


Trần Trung Chuyên

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 -“ PHÂN TÍCH KINH TẾ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG”- GS.TS.Nguyễn Đăng Hạc – NXB Xây Dựng
-1998
2 - " QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG TY "- PTS Vũ Duy Hào- Đàm Văn Huệ,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống kê-1998
3 -"TÀI CHÍNH CÔNG TY " PTS Lưu Thị Hương, Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, NXB Giáo dục-1998
4 - "QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG TY "- PGS-PTS Nguyễn Đình Kiệm- PTS
Nguyễn Đăng Nam, Trường Đại học Tài chính- kế toán, NXB Tài chính 1999
5 -"QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CÔNG TY" Nguyễn Hải Sản- NXB Thống kê 1997
6 -"ĐỌC, LẬP, PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ DỰ ĐOÁN NHU CẦU
TÀI CHÍNH CÔNG TY " Đoàn Xuân Tiên- Vũ Công ty - Nguyễn Viết Lợi,
NXB Tài chính-1996
7 - "ĐỌC, LẬP, PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ DỰ ĐOÁN NHU CẦU
TÀI CHÍNH CÔNG TY " Nguyễn Năng Phúc- Nguyễn Văn Công- Trần Quý
Liên, NXB Tài chính-2000
8 - “ GIÁO TRÌNH PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH”.PGS. TS Phạm
Thị Gái- NXB Giáo Dục- 2004
9 - “ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP” PTS. Nguyễn Năng Phúc , Trường Đại học Kinh tế quốc dân- NXB
Thống Kê -1998
10 -"PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY " PTS Nguyễn Văn Công, NXB Giáo
dục-1996
11 - "HỆ THỐNG CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG TY " Bộ Tài chính1999
12 - Tạp chí Tài chính, Ngân hàng, Nghiên cứu kinh tế

- Các báo cáo tài chính của công ty Tư Vấn Giám Sát và Xây Dựng Công
Trình các năm 2003, 2004, 2005.
- Một số đồ án về phân tích tài chính doanh nghiệp

20


Bảng 2.1-

bảng cân đối kế toán

Công ty t vấn và XDCT ( ngày 31 tháng 12 năm 2005 )
n v : ng
ST

TàI sản

T
A TSLĐ và Đầu t ngắn hạn

MS

u nm

Cui nm

2005
2005
10 86.859.500.8 139.130.925.
0
11

51
550
432.774.176 7.253.833.18

0
1 Tiền mặt tại quỹ ( gồm cả 11

3
398.979.179

I Tiền

ngân phiếu)
2 Tiền gửi ngân hàng

1
11

3 Tiền đang chuyển

2
11

27.718.120

405.056.056 6.854.854.00
4

3
II Các khoản đttc ngắn hạn 12
0
1 Đầu t chứng khoán ngắn 12
hạn
2 Đầu t ngắn hạn khác

1
12

3 Dự phòng giảm giá đtnh

8
12

III Các khoản phải thu

9
13 40.778.563.2 74.626.578.1

1 Phải thu của khách hàng

0
00
11
13 38.244.928.4 61.131.806.8

2 Trả trớc cho ngời bán

1
61
84
13 1.051.525.78 4.097.587.45

3 Thuế gtgt đợc khấu trừ

2
13

2
441.257.516

4 Phải thu nội bộ

3
13

754.451.441 8.966.807.85

3
Vốn kinh doanh ở các đơn 13
21

5
0

6


vị trực thuộc
Phải thu nội bộ khác
5 Các khoản phải thu khác

4
13
5
13

286.400.000

430.375.916

8
6 Dự phòng các khoản phải 13
thu khó đòi
IV Hàng tồn kho

9
14 43.258.208.7 54.785.391.5

0
1 Hàng mua đang đi trên 14
đờng
2 Nguyên vật liệu tồn kho

22

32

1
14

393.273.368 1.132.787.39

2
3 Công cụ dụng cụ trong 14

2
63.225.145

59.318.197

kho
3
4 Chi phí sx kinh doạnh dở 14 42.805.617.1 53.589.378.9
dang
5 Thành phẩm tồn kho

4
14

6 Hàng tồn kho

5
14

7 Hàng gửi đi bán

6
14

57

95

7
8 Dự phòng giảm giá hàng 14
tồn kho
V Tslđ khác

9
15 2.389.954.75 2.465.122.72

1 Tạm ứng

0
3
4
15 1.457.215.68 1.844.815.17

2 Chi phí trả trớc

1
15

3 Chi phí chờ kết chuyển

2
15

4 Tài sản thiếu chờ xử lý

3
15
4
22

6
922.739.067

3
620.307.551


5 Các khoản ký quỹ ký cợc 15

10.000.000

ngắn hạn
VI Chi sự nghiệp

5
16

1 Chi sự nghiệp năm trớc

0
16

2 Chi sự nghiệp năm nay

1
16

B tscđ và đâù t dàI hạn

2
20 30.127.31.87 30.592.109.1

I Tài sản cố định

0
5
17
21 30.117.341.8 30.518.472.7

1 Tài sản cố

định

0

0

0
75
53
hữu 21 30.117.341.8 30.518.472.7

hình
Nguyên giá

1
75
53
21 52.510.231.6 61.629.383.5

Giá trị hao mòn luỹ kế

2
21
3

97
-

49
-

22.392.889.8 31.110.910.7
22

96

9
22

10.000.000

10.000.000

0
1 Đầu t chứng khoán dài hạn 22

10.000.000

10.000.000

2 Tài sản cố định thuê tài 21
chính
Nguyên giá

4
21

Giá trị hao mòn luỹ kế

5
21

3 Tài sản cố định vô hình

6
21

Nguyên giá

7
21

Giá trị hao mòn luỹ kế

8
21

II Các khoản đttc dài hạn

23


2 Góp vốn liên doanh

1
22

2
3 Các khoản đầu t dài hạn 22
khác
8
4 Dự phòng giảm giá đầu t 22
dài hạn(*)
III Chi phí XDCB dở dang

9
23

63.636.364

0
IV Các khoản ký quỹ ký cợc 24
dài hạn
Tổng cộng tàI sản

0
25 116.986.842. 169.723.034.
0

726

667

ST nguồn vốn

Ms

T
A nợ phảI trả

30 113.459.094. 163.931.507.

I Vay ngắn hạn

0
23
765
31 103.377.560. 144.641.944.

1 Vay ngắn hạn

0
075
136
31 64.551.432.1 85.772.763.9

2 Nợ dài hạn đến hạn trả

1
25
22
31 5.250.700.00 5.690.046.30

3 Phải trả cho ngời bán

2
0
0
31 14.475.618.8 23.499.720.0

4 Ngời mua trả tiền trớc

3
21
11
31 10.231.425.5 9.039.567.79

S u nm

S cui nn

4
09
3
5 Thuế và các khoản phải 31 -169.467.042 -417.856.676
nộp nhà nớc
6 Phải trả công nhân viên

5
31 2.394.480.53 5.553.747.14

6
9
9
7 Phải trả các đơn vị nội 31 5.018.581.89 11.502.627.2
bộ
7
7
65
8 Các khoản phải trả phải 31 1.624.788.22 4.001.328.37
24


nộp khác
II Nợ dài hạn

8
6
2
32 10.016.534.1 19.289.563.6

1 Vay dài hạn

0
68
29
32 10.016.534.1 19.289.563.6

2 Nợ dài hạn

1
32

68

29

III Nợ khác

2
33

65.000.000

0

1 Chi phí phảI trả

0
33

65.000.000

2 Tài sản thừa chờ xử lý

1
33

2
3 Nhận ký quỹ ký cợc dài hạn 33
B nguồn vốn chủ sở hữu

3
40 3.527.748.48 5.791.526.90

I Nguồn vốn quỹ

0
3
2
41 3.568.317.54 5.763.994.96

1 Nguồn vốn kinh doanh

0
5
4
41 3.511.175.80 5.141.604.23

1
2 Chênh lệch đánh giá lại tài 41

4

sản
3 Chênh lệch tỷ giá

2
41

4 Quỹ đầu t và phát triển

3
41

131.569.536

278.282.678

5 Quỹ dự phòng tài chính

4
41

7.126.206

86.322.939

6 Lợi nhuận cha phân phối

5
41

-81.554.001

257.785.104

-40.569.062

27.531.938

6
7 Nguồn vốn đầu t xây 41
dựng cơ bản
7
II Nguồn kinh phí, quỹ khác 42
0
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x