Tải bản đầy đủ

Thực trạng và các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động của tỉnh Nghệ An

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện quốc tế hóa và bùng nổ đầu tư trong giai đoạn hiện nay, xuất
khẩu lao động (XLLĐ) đã dần trở thành một phần không thể thiếu của hệ thống
kinh tế thế giới. Đảng và Nhà nước ta đã xác định xuất khẩu lao động là một lĩnh
vực hoạt động kinh tế quan trọng của quốc gia đem lại những lợi ích kinh tế và xã
hội đáng kể. XKLĐ góp phần mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, tăng thu
nhập cho người lao động; giải quyết việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao động
trong nước; tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, củng cố và
phát triển cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về tổ quốc, tạo sự ổn
định cho xã hội...
Tuy nhiên, yêu cầu về xuất khẩu lao động ngày càng khắt khe về trình độ lao
động, kỹ năng tay nghề, về kỹ luật lao động và ngoại ngữ, nhất là đối với công
việc trong các công xưởng, nhà máy. Hiện lao động của nước ta ra nước ngoài cơ
bản đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp nước sở tại tuy nhiên tay nghề, trình độ còn
hạn chế, gây khó khăn khi thâm nhập vào thị trường lao động của các nước có nền
1


kinh tế phát triển.Vậy xuất khẩu lao động ở nước ta nói chung và các địa phương

nói riêng.
Từ những thực tế đó bản thân chọn vấn đề : “Thực trạng và các biện pháp
thúc đẩy xuất khẩu lao động của tỉnh Nghệ An” làm đề tài tiểu luận của mình.

NỘI DUNG
I. Tầm quan trọng của xuất khẩu lao động đối với Nghệ An
Tỉnh Nghệ An có dân số đứng thứ 4 cả nước (dân số cả tỉnh có trên 3.022.300
người), quy mô dân số đông, lao động lớn đang tạo nên nhiều áp lực đối với vấn đề
giải quyết việc làm cho người lao động. Mặc dù thời gian qua, công tác giải quyết
việc làm đã được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; các cấp, các ngành từ tỉnh đến các
huyện, thành phố, thị xã và các cơ sở xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện bằng
nhiều giải pháp tạo việc làm hiệu quả như phát triển các làng nghề thủ công, xây
dựng và mở rộng khu công nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động sau khi thu
hồi đất..., góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, đảm bảo trật tự xã hội,
quốc phòng an ninh và phát triển xã hội, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
của xã hội và người lao động, nhất là thiếu việc làm đối với người lao động đã tốt
nghiệp các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp. Lao động thiếu việc làm đã
dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Chính vì vậy xuất khẩu lao động có vai trò rất quan trọng đối với Nghệ An, là một

2


trong những biện pháp hữu hiệu đã và đang được Nghệ An đẩy mạnh ở hiện tại và
tương lai.
Trong giai đoạn 2014 - 2016, Nghệ An đưa được 1.000 lao động thuộc hộ
nghèo, hộ cận nghèo, lao động là người dân tộc thiểu số, lao động là thân nhân chủ
yếu của gia đình chính sách người có công với cách mạng và lao động thuộc hộ bị
thu hồi đất nông nghiệp đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ đào tạo lao động trình độ
cao về kỹ nâng nghề, ngoại ngữ và ngành nghề đặc thù cho khoảng 100 lao động
đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động.
Kết quả thực hiện Chương trình việc làm giai đoạn 2010- 2015, đến nay toàn
tỉnh đã tạo việc làm cho từ 35.000 - 37.000 lao động; trong đó: xuất khẩu lao động
đạt bình quân mỗi năm từ 12.000 - 13.000 người lao động đi làm việc có thời hạn
tại các nước (chiếm trên 1/3 số lao động giải quyết việc làm hàng năm) đưa tổng số
lao động Nghệ An đang làm việc tại các nước lên hơn 55.000 người, chiếm gần
32%; Giảm tỉ lệ lao động thất nghiệp khu vực thành thị xuống 2,8%, nâng tỷ lệ sử
dụng thời gian lao động khu vực nông thôn lên 85%, góp phần tích cực để giảm
sức ép về việc làm ở địa phương trong thời gian qua, giảm được tỷ lệ thất nghiệp ở
địa phương. Ngoài số lao động xuất khẩu theo con đường “chính ngạch" có nghĩa


là theo kỷ kết giữa các tổ chức Việt Nam với các tổ chức nước ngoài, thì ở Nghệ
An còn có một số lượng không nhỏ lao động được xuất khẩu theo dạng “tiểu
ngạch" và hình thức này cũng đã ctó những đóng góp quan trọng cho sự phát triển
của địa phương.
So với thu nhập của người lao động cùng ngành nghề và trình độ trong nước
thì thu nhập của lao động xuất khẩu Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng cao
hơn 2-4 lần. Thêm vào đó, lao động xuất khẩu chủ yếu là những người chưa có
việc làm hoặc lao động phổ thông thì thu nhập của họ sẽ thấp hơn rất nhiều so với
mức lương trung bình chung của xã hội.
II. Đánh giá hoạt động XKLĐ của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2005-2015
1. Thành tựu và nguyên nhân
Để giải quyết việc làm Nghệ An đã rất chú trọng đến việc xuất khẩu lao
động. Bảng 1 cho thấy số lượng lao động xuất khẩu qua các năm tăng lên.
3


Bảng 1 .Số lượng lao động XK của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2005-2015
Đơn vị: người
Năm

Số lượng

Năm

Số lượng

2005

7.014

2011

13.364

2006

9.334

2012

13.707

2007

13.469

2013

11.671

2008

11.311

2014

12.366

2009

8.825

2015

12.800

2010

11.238
Tổng

125.099
Nguồn: Sở LĐTB&XH Nghệ An

Chỉ tính trong giai đoạn 2005 - 2015, toàn tỉnh đã đưa được 125.099 người
lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng (Cụ thể: năm 2005 là
7.014 người, năm 2011: 13.364 người, năm 2012: 13.707 người, năm 2013: 11.671
người và năm 2014: 12.366 người và năm 2015: 12.800).
Số lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đổng hàng năm chiếm trên 1/3
số lao động được giải quyết việc làm trong năm và Nghệ An luôn đứng đầu cả
nước về kết quả xuất khẩu lao động. Hiện số lao động của tỉnh đang làm việc có
thời hạn ở nước ngoài trên 55.000 người.
Cơ cấu lao động xuất khẩu cũng có sự thay đổi, với xu hướng lao động nữ
xuất khẩu ngày càng tăng (xem bảng 2).
Bảng 2. Cơ cấu lao động XK theo giới tính của Nghệ An giai đoạn 2005 – 2015
Đơn vị tính: người
Năm

Số lương

2005

7.014
9.334
13.469
11.311
8. 825
11.238

2006
2007
2008
2009
2010

Theo giới tính
Nam

Nữ

6.140
8.219
11.927
10.069
7.804
10.130

874
1.115
1.542
1.242
1.021
1.108
4


13.364
2011
13.707
2012
2013
11.671
2014
12.366
2015
12.800
Tổng
125.099
Nguồn: Sở LĐTB&XH Nghệ An

10.465
10.352
8.863
8.814
8.913
101.696

2.899
3.355
2.808
3.552
3.887
23.403

Tuy tỷ lệ lao động nữ có tăng lên nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với nam
giới. Dựa trên kết quả này, có thể thấy rằng trong thời gian tới Đảng và chính
quyền tỉnh Nghệ An cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa tới công tác xuất khẩu lao
động cho những lao động nữ - một số lượng tương đối lớn lao động còn chưa có
việc làm trong tỉnh. Tuy nhiên công việc mà những lao động nữ thường làm khi đi
xuất khẩu lao động là giúp việc gia đình, trông trẻ, chăm sóc người bệnh, may
mặc...nên thu nhập không cao, bởi vậy việc nâng cao thu nhập bằng cách mở rộng
loại hình công việc cho lao động nữ xuất khẩu là một việc cần thiết.
Thị trường XKLĐ cũng đã có những thay đổi theo hướng tích cực.
Bảng 3. Thị trường XKLĐ lao động Nghệ An giai đoạn 2005- 2015
(Đơn vị tính: nghìn người)
Chia ra theo thị trường
Năm Tổng số

Đài
Loan

Malaysia

Hàn
Quốc

Nhật
Bản

Trung
Đông

Nước
khác

2005

7.014

2.141

2.507

660

62

88

1.556

2006

9.334

1.656

4.477

904

47

478

1.772

2007

13.469

2.135

5.463

562

121

1.193

3.995

2008

11.311

2.632

2.046

451

122

1.876

4.184

2009

8.825

1.665

1.144

775

126

888

4.227

2010

11.238
13.364

2.374
2.355

2.947
4.222

965

225

1.435

3.292

2.087

250

1.009

3.441

2012
2013

13.707

2.277

3.533

1.132

257

1.392

5.116

11.671

2.884

800

561

1.536

2.591

2014

12.366

3.917

3.299
2.697

982

874

1.503

2.393

2015

12.800

4.012

2.100

1.100

2.000

1.542

2.046

2011

5


Tổng 125.099 28.048 34.435
Nguồn: Sở LĐTB&XH Nghệ An

10.418

4.645

12.940

34.613

Nếu trước năm 2010, xuất khẩu lao động Nghệ An tập trung vào các thị
trường dễ tính, yêu cầu lao động chưa qua đào tạo như Đài Loan, Malaysia, thì sau
năm 2010 thì XKLĐ được mở rộng sang các thị trường đòi hỏi tay nghề cao, thu
nhập ổn định, đã qua đào tạo, có trình độ tay nghề và ngoại ngữ như Hàn Quốc,
Nhật Bản, Trung Đông... Đây là sự chuyển biến tích cực cần được ghi nhận.
Hoạt động XKLĐ của Nghệ An thời gian qua đạt được nhiều kết quả tích cực
do một số nguyên nhân sau đây:
- Tỉnh Nghệ An đã có chủ trương, chính sách nhất quán về xuất khẩu lao động
và đã có nhiều biện pháp hỗ trợ thiết thực cho hoạt động XKLĐ. Công tác mở rộng
thị trường đã được đặc biệt quan tâm, mở rộng, ổn định các thị trường sẵn có và
mở rộng sang các thị trường xuất khẩu lao động có thu nhập cao.
- Chất lượng lao động xuất khẩu đã tăng được tỷ lệ lao động có tay nghề lên
và mở rộng được sang những thị trường mới như các nước Trung Đông, ý thức của
người lao động đã tốt hơn nhờ có sự quan tâm đúng đắn của Nhà nước và các
doanh nghiệp tới công tác đào tạo bổi dưỡng kiến thức cho người lao động.
- Công tác đào tạo - bồi dưỡng kiến thức cũng đạt hiệu quả, đa phần số lao
động được xuất khẩu lao động đi nước ngoài đều được đào tạo – bồi dưỡng kiến
thức trước khi xuất cảnh. Nội dung đào tạo - bồi dưỡng kiến thức đúng theo những
yêu cầu và quy định cần thiết của pháp luật.
- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động ngày càng lớn mạnh về số lượng, quy mô
và hiệu quả. Xét về mặt lập kế hoạch xuất khẩu lao động, hầu hết các doanh nghiệp
và cơ sở đều đã lập được kế hoạch cho việc xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh đi
các nước theo từng năm và hoàn thành được kế hoạch của mình nhờ đó mà kế
hoạch xuất khẩu lao động của tỉnh Nghệ An đã được hoàn thành và hoàn thành
vượt mức.
- Công tác quản lý lao động đã xuất khẩu cũng đã được quan tâm nhiều hơn.
Một số doanh nghiệp đã có cơ quan đại diện ở nước ngoài hoặc một số thì đã cử
cán bộ quản lý sang nước bạn nhằm quản lý chặt chẽ số lao động đã xuất khẩu của
6


doanh nghiệp mình do đó đã giảm thiểu được một phần nào những tranh chấp cũng
như biến cố bất thường xảy ra cả trong nước và ngoài nước.
2. Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động XKLĐ của Nhệ An thời gian
qua vẫn còn nhiều hạn chế như sau:
- Số lượng lao động xuất khẩu tuy tăng nhưng chất lượng người lao động
tham gia xuất khẩu lao động còn thấp:Tỷ lệ lao động phổ thông còn chiếm tỷ lệ
cao, từ 60 - 70%, chỉ tính riêng năm 2014 chỉ có 3.985 lao động đã qua đào tạo
trong tổng số 12.366 lao động xuất khẩu. Chất lượng lao động xuất khẩu còn được
thể hiện ở tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật, văn hoá của người lao động. Tuy
đã tập trung rất nhiều cho công tác bồi dưỡng kiến thức cho người lao động song
về mặt này lao động của chúng ta còn rất yếu kém. Cụ thể là những hiện tượng vi
phạm hợp đồng, bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài của một bộ phận lao
động những năm gần đây trở lên khá phổ biến, thậm chí có một số người còn ở
nước ngoài sống cuộc sống buông thả, cờ bạc, rượu chè, hay gây sự,... vi phạm đến
luật pháp nước sở tại. Hiện tượng người lao động tự ý hoặc thông qua môi giới
bằng hình thức đi du lịch, thăm người thân, kết hôn giả... để sang một số nước như:
Angola, Nhật Bản, Hàn Quốc, Austraylia, Canada, các nước Đông Âu làm việc
không có hợp đồng lao động và cư trú bất hợp pháp còn diễn ra ở nhiều nơi. Tỷ lệ
lao động bỏ trốn ở các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là cao nhất, so
với lao động của các nước như Trung Quốc, Philipines, Indonexia, Thái Lan ...thì
tỷ lệ này của Việt nam nói chung là rất cao và số lao động đi xuất khẩu của tỉnh
Nghệ An cũng không thể tránh khỏi tình trạng chung ấy.
- Công tác quản lý lao động ở nước ngoài còn yếu kém nên khi có tranh chấp
hoặc sự cố xảy ra người lao động phải chịu rất nhiều thiệt thòi không đáng có. Việc
lao động vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật của nước sở tại vẫn xảy ra. Đặc biệt
là những hiện tượng người lao động bị ép buộc, lạm dụng vẫn còn xuất hiện mà
chưa được xử lý, ngăn chặn kịp thời. Việc quản lý đối với lực lượng lao động xuất
khẩu “tiểu ngạch” hầu như còn bị bỏ ngỏ.
- Thủ tục pháp lý trong hoạt động xuất khẩu lao động nhiều khi rất rườm rà
7


nhưng lại chưa chặt chẽ nên bị nhiều đối tượng lợi dụng làm thiệt hại cho các
doanh nghiệp và bản thân người lao động. Sự phối hợp giữa chính quyền địa
phương với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hướng dẫn luật doanh nghiệp
chưa tốt. Điều này dẫn đến việc một số doanh nghiệp XKLĐ lợi dụng tuyển chọn
lao động xuất khẩu trái pháp luật.
- Cơ chế tài chính trong hoạt động XKLĐ của địa phương như thu, chi, quản
lý dịch vụ, môi giới...chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.Một số quy định,
chính sách của người lao động chưa phù hợp dẫn đến việc người lao động phải
đóng những khoản chi phí rất lớn. Bên cạnh đó, trong chính sách hỗ trợ người lao
động vay vốn, mặc dù ngân hàng Nhà nước đã có quyết định về việc cho người lao
động vay nhưng quy trình cho vay ở các ngân hàng địa phương còn phức tạp,
không rõ ràng. Điều này gây khó khăn cho người lao động khi tiếp cận nguồn hỗ
trợ này.
Những hạn chế này xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
- Một là, quản lý nhà nước về XKLĐ trên địa bàn Nghệ An còn bất cập.
Tỉnh Nghệ An đang thiếu một chiến lược về XKLĐ bền vững, thiếu kế hoạch
xuất khẩu lao động phù hợp, thiếu cơ chế, chính sách quản lý lao động trong quá
trình xuất khẩu lao động và sau khi lao động xuất khẩu trở về. Hoạt động quản lý
nhà nước của các cấp chính quyền địa phương về xuất khẩu lao động còn chưa
đòng bộ, thiếu sự gắn kết giữa các chủ thể tham gia quản lý xuất khẩu lao động.
Một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thật sự vào cuộc, chưa quan tâm đúng mức,
chưa chỉ đạo quyết liệt công tác XKLĐ dẫn đến kết quả chưa cao.
- Hai là, nhận thức về vai trò của XKLĐ chưa đầy đủ.
Công tác tuyên truyền trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người
dân về tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của XKLĐ vẫn còn bị xem nhẹ; công tác tư
vấn cho người lao động tại một số địa phương chưa tốt nhất là cấp xã, phường, thị
trấn do đó nhiều lao động có nhu cầu đi xuất khẩu lao động chưa hiểu biết đầy đủ
các chủ trương, chính sách, quy trình thủ tục và lợi ích đi xuất khẩu lao động.
- Ba là, các tổ chức xuất khẩu lao động còn yếu kém.
Năng lực của các đơn vị xuất khẩu lao động vẫn chưa đáp ứng kịp thời và đầy
8


đủ nhu cầu ngày càng gia tăng của các thị trường và cả của những người lao động
trong khi đó không ít những trường hợp lừa đảo, lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao
động để làm việc trái pháp luật tình trạng cò mòi, lừa đảo, cư trú bất hợp pháp vẫn
xảy ra trên địa bàn tỉnh. Một số doanh nghiệp xuất khẩu lao động chưa thực hiện
tốt việc quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài, không quan tâm đến việc
bảo vệ quyền và lợi ích của lao động xuất khẩu, thực hiện không đúng theo hợp
đồng ký kết làm mất niềm tin của người lao động vào công tác xuất khẩu lao động,
từ đó gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu lao động của địa phương.
III. Giải pháp nâng cao chất lượng xuất khẩu lao động của Nghệ An
1. Đổi mới quản lý nhà nước về XKLĐ, xây dựng chiến lược XKLĐ hiệu quả và
bền vững
Cần đổi mới quan điểm về vai trò của XKLĐ đối với phát triển kinh tế trên
địa bàn Nghệ An, phải coi XKLĐ không chỉ là mưu sinh, tìm việc làm mà phải coi
mỗi người lao động xuất khẩu là một đại sứ hình ảnh cho Nghệ An ở nước ngoài.
XKLĐ không phải là công việc đột xuất mà là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm lâu dài của tỉnh. Lãnh đạo tỉnh phải chỉ đạo ngay cho các cơ quan hữu quan
của tỉnh xây dựng chiến lược XKLĐ. Trong chiến lược này phải đề ra mục tiêu, lộ
trình, nguồn lực và các giải pháp chủ yếu. Trước mắt để từng bước hoàn thiện quản
lý nhà nước đối với hoạt động XKLĐ, Nghệ An cần tiến hành một số công việc sau
đây:
- Một là, đổi mới cơ chế chính sách của Tỉnh về XKLĐ
Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động xuất
khẩu lao động như: các quy định về thủ tục, quy trình đăng ký hợp đồng, các chính
sách như chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động, chính sách cho vay vốn nhằm đảm
bảo tính đồng bộ và chặt chẽ của các văn bản, chính sách liên quan đến hoạt động
xuất khẩu lao động. Xây dựng một kế hoạch cụ thể cho công tác xuất khẩu lao
động của mình.
Có chính sách giải quyết việc làm cho người lao động khi họ trở về nước để
ổn định cuộc sống của bản thân họ và gia đình họ, thực hiện an sinh xã hội trong
hoạt động xuất khẩu lao động.
9


Đổi mới chính sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, đối tượng nghèo, bộ
đội xuất ngũ, đòng thời có những biện pháp quản lý chặt chẽ nguồn, quỹ hỗ trợ đó
sao cho hợp lý và hiệu quả nhất; quản lý chặt chẽ và chỉ đạo đúng đắn cho công tác
đào tạo nghề, đào tạo bổi dưỡng kiến thức cho người lao động trước khi đi làm
việc ở nước ngoài sao cho chất lượng lao động xuất khẩu ngày càng được nâng cao
hơn nữa. Hoàn thiện các điều kiện cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động xuất
khẩu lao động nhằm nâng cao tính pháp lý của họ và hạn chế tình trạng lừa đảo, lợi
dụng người lao động.
Thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết những tranh chấp về lao
động trong nước và đặc biệt là ở nước ngoài sao cho phù hợp với luật pháp nước
sở tại và luật pháp quốc tế đảm bảo tối thiểu thiệt hại cho người lao động.
- Hai là, nâng cao năng lực quản lý và cán bộ các cấp
Sở Lao động thương binh và xã hội, cơ quan trực tiếp có trách nhiệm quản lý
đối với hoạt động xuất khẩu lao động thì phải thực hiện tốt các kế hoạch chỉ đạo
của Uỷ ban nhân dân tỉnh từ đó xây dựng những kế hoạch trình tỉnh uỷ, chỉ đạo các
cơ quan phụ trách chuyên môn, các phòng chuyên trách cấp huyện thực hiện tốt kế
hoạch đề ra; Sở cũng có trách nhiệm trực tiếp theo dõi tình hình biến động trên thị
trường xuất khẩu lao động để có những biện pháp chỉ đạo mới thích hợp, quản lý
hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh để
đảm bảo tính hợp pháp của công tác xuất khẩu lao động.
Hoàn thiện tổ chức bộ máy và biên chế của các cơ quan quản lý về xuất khẩu
lao động phù hợp với tình hình thực tiễn.
- Ba là, thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu lao động
Tỉnh cần nâng cao năng lực nghiên cứu, phân tích và dự báo về thị trường
xuất khẩu lao động. Việc nâng cao năng lực nghiên cứu, phân tích và dự báo về thị
trường xuất khẩu lao động giúp địa phương xác định rõ nhu cầu tuyển dụng lao
động của thị trường cả về số lượng, yêu cầu, chất lượng lao động...từ đó có thể
từng bước lập kế hoạch và tăng thị phần với từng loại thị trường (thị trường có thu
nhập cao, thị trường tiềm năng ổn định tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam, các thị
trường mới...). Để làm tốt công tác này thì địa phương cần:
10


Định hướng cho DN XKLĐ chủ động phát triển thị trường và có chiến lược
dài hạn, tăng cường xúc tiến, mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác và ký hợp đồng
xuất khẩu lao động.
Đa dạng hóa các hình thức đi làm việc ở nước ngoài, đa dạng hóa ngành
nghề, trình độ...để có thể xâm nhập vào nhiều thị trường xuất khẩu lao động khác
nhau, tăng cương chiếm lĩnh các thị trường ngành mà lao động Nghệ An có thế
mạnh.
- Bốn là, nâng cao sự phối hợp và trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia vào
hoạt động xuất khẩu lao động
Các Sở, ban, ngành có liên quan khác của tỉnh như cơ quan Công An, Ngân
Hàng, Sở Tài chính phải phối hợp hoạt động với Sở Lao động - TB và XH tỉnh
nhằm quản lý tốt các khâu, các bước trong quá trình quản lý hoạt động xuất khẩu
lao động.
Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, thanh tra cũng như sự phối hợp chặt
chẽ giữa các ban, ngành trong công tác này nhằm hạn chế những tiêu cực và nâng
cao hiệu quả thực sự.
Các cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục triển khai thực hiện
có hiệu quả các giải pháp công tác xuất khẩu lao động. Hàng năm, đưa chỉ tiêu
xuất khẩu lao động vào chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội chung của địa phương,
nhất là cấp huyện và cấp xã.
Các ngành chức năng, các cấp ủy, chính quyền địa phương cần tiếp tục tăng
cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xuất khẩu lao động.
Kịp thời phát hiện, xử lý và đề nghị xử lý nghiêm túc đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm pháp luật trong hoạt động xuất khẩu lao động
- Năm là, thúc đẩy công tác đào tạo, tạo ra nguồn lao động có chất lượng cao
cho hoạt động XKLĐ
Phát triển hệ thống trường lớp đào tạo nghề nhằm cung cấp lao động có
chuyên môn, có tay nghề cho nguồn xuất khẩu lao động, cần xây dựng đội ngũ
giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ để đảm bảo công tác đào tạo lao động xuất
khẩu đáp ứng tiêu chuẩn, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, các thiết bị học tập,
11


tăng cường phòng thực hành nhằm phục vụ cho các cơ sở đào tạo giáo dục định
hướng thực hiện việc đổi mới các hình thức đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo,
giáo dục, định hướng.
Đào tạo ngoại ngữ cho lao động xuất khẩu phải đặc biệt quan tâm, lựa chọn
phương án thiết thực nhất để đạt được hiệu quả cao nhất như: tăng cường thời
lượng học ngoại ngữ cho lao động xuất khẩu, nội dung đào tạo ngoại ngữ phải gắn
liền với nhu cầu thực tiễn, nâng cao số bài học thực tế, tăng cường kỹ năng giao
tiếp, cần trang bị cho lao động xuất khẩu một số tài liệu giúp họ có thể thực hiện
giao tiếp hàng ngày, dễ dàng tự học khi họ có thời gian rảnh rỗi. Đồng thời, cần
lòng ghép chương trình học ngoại ngữ vào các trường nghề, góp phần xây dựng
nguồn lao động xuất khẩu chất lượng cao trong tương lai.
2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức về
xuất khẩu lao động
Trước khi người lao động đi xuất khẩu lao động, cần khơi dây trong họ lòng
tự hào dân tộc, lòng yêu nước, để họ tránh những hành vi gây ấn tượng không tốt
về lao động Nghệ An nói riêng và con người Việt Nam nói chung.Phải làm cho
người lao động nhận thức một cách đúng đắn về hoạt động xuất khẩu lao động,
nắm rõ những quy định của nhà nước về hoạt động này để xác định rõ ràng rằng
mình đi lao động chứ không phải là đi du lịch từ đó có ý thức lao động và tuân thủ
kỷ luật lao động. Nhận thức rõ hơn nữa những hậu quả sẽ phải trả giá nếu vi phạm
hợp đồng hoặc pháp luật của Việt Nam và nước sở tại.
Nâng cao trình độ học vấn cho người lao động thông qua việc tích cực học
tập rèn luyện trong nhà trường.
Người lao động phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề
thông qua việc tham gia vào các lớp đào tạo nghề. Việc này không phải là chờ các
doanh nghiệp tới tuyển dụng hay Nhà nước ra chính sách thì người lao động mới
bắt đầu đi học mà người lao động cần phải chủ động tham gia vào các khoá đào tạo
nghề để nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, chuẩn bị cho việc đăng ký
tuyển mộ, tuyển chọn đi lao động xuất khẩu.
Người lao động cần phải thường xuyên liên hệ với các cơ quan đại diện Việt
12


Nam tại nước sở tại và cơ quan đại diện hoặc người quản lý của doanh nghiệp xuất
khẩu lao động để khi cần thiết có thể giải quyết những tranh chấp hoặc sự cố xảy
ra. Khi trở về nước, người lao động phải thực hiện tốt những nghĩa vụ khai báo,
làm thủ tục cần thiết với cơ quan Nhà nước để nhập cảnh trở về quê hương và liên
hệ với doanh nghiệp để làm thủ tục chấm dứt hợp đồng, về với gia đình, người lao
động cần phải tích cực tìm kiếm việc làm cho bản thân và sử dụng hợp lý khoản
thu nhập mà bản thân dành dụm được trong thời gian lao động ở nước ngoài.
Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần phải:
- Cung cấp cho lao động xuất khẩu các thông tin cần thiết, pháp luật nước
nhập khẩu và tuyệt đối chấp hành pháp luật nước đó, thực hiện kỷ luật lao động,
tác phong công nghiệp, tuân thủ theo đúng nội quy và quy định nơi làm việc, thực
hiện nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh nơi làm việc...
- Cung cấp cho lao động xuất khẩu các thông tin cần thiết, pháp luật nước
nhập khẩu và tuyệt đối chấp hành pháp luật nước đó, thực hiện kỷ luật lao động,
tác phong công nghiệp, tuân thủ theo đúng nội quy và quy định nơi làm việc, thực
hiện nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh nơi làm việc...
- Nhắc nhở lao động tránh các hành động như bãi công, đình công, đánh
nhau, tụ tập gây mất trật tự nơi công cộng, tránh xa các tệ nạn xã hội...gây ảnh
hưởng đến hình ảnh lao động Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao tinh thần học hỏi
đồng nghiệp, chia sẻ và tiếp thu ý kiến của đòng nghiệp, nâng cao kỹ năng làm
việc nhóm, giúp đỡ đòng nghiệp khi gặp khó khăn.
- Đào tạo người lao động hiểu biết về vấn đề an toàn lao động để đảm bảo an
toàn cho bản thân họ và đòng nghiệp trong quá trình làm việc.Đồng thời, hướng
dẫn người lao động biện pháp xử lý trong trường hợp họ phải đối mặt với các vấn
đề phát sinh, rủi ro có thể gặp phải khi làm việc ở nước ngoài, giúp họ lường trước
được những vấn đề xảy ra, định hướng và chủ động trong cách xử lý.
- Tư vấn cho lao động xuất khẩu về vấn đề lựa chọn ngành nghề và thị trường
phù hợp với sức khỏe, năng lực chuyên môn và khả năng trang trải chi phí của họ,
đồng thời cảnh báo về các ngành nghề có độ rủi ro cao như công nhân công trình
xây dựng, thuyền viên, những công việc trong nhóm 3D-jobs (Dirty, Dangerous và
13


Difficult)...
Chính quyền các cấp từ Tỉnh đến huyện, xã cần tổ chức thường xuyên các
khóa tuyên truyền phổ biến thông tin đầy đủ cho người lao động xuất khẩu bao
gồm các thông tin về thị trường lao động, thủ tục xuất khẩu lao động, quyền và
nghĩa vụ của người lao động khi tham gia vào xuất khẩu lao động, nâng cao ý thức
người lao động tiết kiệm trong quá trình sống và làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là
những lao động xuất khẩu ở lứa tuổi trên 20.
Cần tăng cường giáo dục cho người lao động xuất khẩu về thái độ học hỏi,
tiếp thu, tự thay đổi bản thân để có thể hòa nhập và thích nghi với môi trường văn
hóa nước nhập khẩu lao động, hạn chế các xung đột xảy ra do sự thiếu hiểu biết về
phong tục, tập quán cũng như văn hóa nước nhập khẩu lao động.
3. Nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Các doanh nghiệp XKLĐ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định
thành công của hoạt động XKLĐ tại địa phương. Các doanh nghiệp này cũng cần
phải xây dựng chiến lược kinh doanh XKLĐ bài bản, theo hướng bền vững chứ
không kinh doanh theo lợi ích trước mắt, chụp giật. Doanh nghiệp cần phải xây
dựng một kế hoạch xuất khẩu lao động theo đúng yêu cầu của thực tế và của bản
thân doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng lao động doanh nghiệp phải sử dụng
các biện pháp sau
- Các doanh nghiệp XKLĐ cần nâng cao chất lượng đào tạo - bồi dưỡng kiến
thức cho người lao động bằng cách sửa đổi, bổ sung thêm những nội dung thiết
thực vào trong giáo trình đào tạo, có cơ chế ưu tiên đối với những lao động có tay
nghề cao, đã qua đào tạo. Đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng
như hiểu biết cho đội ngũ cán bộ giảng dạy cũng như cán bộ làm công tác tuyển
mộ, tuyển chọn.
- Công khai hoạt động tài chính của doanh nghiệp đặc bịêt là các khoản đóng
góp của người lao động nhằm minh bạch hoá chế độ tài chính của doanh nghiệp,
tránh hiện tượng lừa đảo, gian lận tài chính cũng là để Nhà nước và người lao động
tin tưởng vào năng lực thực sự của doanh nghiệp.
- Do lao động xuất khẩu của tỉnh Nghệ An có nhiều nữ giới và với những
14


công việc như: thợ may, giúp việc gia đình, trông trẻ, chăm sóc người bệnh nên các
doanh nghiệp có lao động đưa đi làm trong các lĩnh vực này cần có các biện pháp
đào tạo nghiệp vụ cho lao động như mở các lớp dạy nấu ăn, nữ công gia chánh,
những lớp đào tạo sơ bộ về y tế để chăm sóc người già, người bệnh, đòng thời có
các biện pháp hỗ trợ giúp đỡ gia đình của các chị em trong thời gian vắng nhà để
họ yên tâm hơn trong công việc của mình.
- Phối hợp với các trung tâm giới thiệu việc làm trong việc tuyển chọn và đào
tạo giáo dục lao động. Kết hợp với các cơ sở y tế, bệnh viện để tiến hành kiểm tra
sức khoẻ cho người lao động. Doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống các tiêu
chuẩn tuyển chọn lao động.
- Doanh nghiệp cũng phải thường xuyên báo cáo định kỳ và phối hợp chặt chẽ
với các cơ quan Nhà nước hữu quan như Cục quản lý lao động ngoài nước, Sở
LĐTB&XH tỉnh để cùng quản lý chặt chẽ hoạt động tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo
- bổi dưỡng kiến thức cho người lao động tránh những hiện tượng tiêu cực.
- Doanh nghiệp phải có những chính sách hỗ trợ chi phí cho người lao động
thuộc diện khó khăn, ưu tiên đối với các đối tượng thuộc diện chính sách, diện
nghèo,... theo đúng quy định của pháp luật.
Khi lao động làm việc ở nước ngoài doanh nghiệp phải thường xuyên theo
dõi, giám sát, quản lý việc thực hiện hợp đồng của lao động bằng nhiều cách khác
nhau. Có thể liên hệ với bên chủ sử dụng lao động và trực tiếp với người lao động
theo định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý đối với những thị trường có ít lao động.
Doanh nghiệp XKLĐ cần phải xây dựng một hệ thống những biện pháp xử lý
đối với những người lao động vi phạm hợp đồng như đơn phương chấm dứt hợp
đồng, tự động trở về nước, bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp bên nước bạn như yêu cầu
đặt tiền đặt cọc, quản lý chặt chẽ chế độ tiền lương cũng như việc chu chuyển tiền
về nước của lao động để răn đe và ngăn chặn, hạn chế tối thiểu những thiệt hại do
người lao động gây ra cho bản thân doanh nghiệp và chủ sử dụng lao động nước
ngoài.Doanh nghiệp XKLĐ cũng phải có trách nhiệm hơn nữa với lao động khi lao
động trở về nước trong việc hoàn tất thủ tục cho người lao động cũng như thủ tục
cho họ gia hạn hợp đồng hoặc ký kết hợp đồng mới nếu họ có nhu cầu./.
15


KẾT LUẬN
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những mối quan tâm lớn nhất
của bất cứ một địa phương nào. Việc giải quyết việc làm như thế nào cho có khoa
học và đạt được hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn xã hội là một câu hỏi không chỉ đặt
ra đối với cơ quan chức năng mà đối với tất cả mọi người. Để giải quyết việc làm,
ngày nay trong xu thế hội nhập, hoạt động XKLĐ đang được các quốc gia hết sức
quan tâm, tạo nên những thị trường sôi động cho các quốc gia . Hoạt động này
cũng được nhà nước ta khuyến khích phát triển trong những năm trở lại đây và đó
thu được những thành tựu to lớn. Do vậy, nhằm tạo sự phát triển mạnh hơn nữa
trong hoạt động XKLĐ, cần thiết phải có những giải pháp cụ thể cho từng địa
phương, đại diện là tỉnh Nghệ An như đã trình bày, để có thể hoàn thiện công tác
này, cho kết quả hoạt động ngày càng cao, góp phần đẩy nhanh sự phát triển của
địa phương cũng như của đất nước.

16


Tài liệu tham khảo
1. Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thu Hòa, Xuất khẩu lao động để giảm nghèo: Tình hình
và triển vọng, Viện Kinh tế Việt Nam, 2008.
2. Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Hân, Một số vấn đề về phát triển
thị trường lao động ở Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2003.
3. Nguyễn Thị Hồng Bích, Xuất khẩu lao động ở một số nước Đông Nam Á - Kinh
nghiệm và bài học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2007.
4. Nguyễn Ngọc Bình, Trần Sỹ Luận, Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế từ việc
đi xuất khẩu lao động Việt Nam tại một số thị trường nước ngoài, Tạp chí Khoa học lao
động và xã hội, số 30 - Quý I/2012.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×