Tải bản đầy đủ

Vận dụng cặp phạm trù “Nội dung Hình thức” để phân tích chất lượng công trình xây dựng đường giao thông nông thôn

A. LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm của đầu thế kỷ với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây
dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của Nhà nước và của các thành phần kinh
tế, của nhân dân được triển khai xây dựng. Công trình xây dựng đường giao
thông nông thôn là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các
yêu cầu của đời sống con người. Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
(NSNN), của doanh nghiệp (DN) của người dân dành cho xây dựng là rất lớn,
chiếm từ 25 - 30% GDP. Vì vậy, kết cấu quy mô cấp đường và chất lượng công
trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến
sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người.
Sau khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì tốc độ
tăng trưởng nhanh về kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng về dân số tương đối
nhanh, mật độ dân số được phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung tại những
thành phố lớn, những trung tâm có nền kinh tế phát triển mạnh nên nhu cầu thiết
yêu trước mắt và lâu dài đó là nhà ở an sinh xã hội và hệ thống hạ tầng kỹ thuật
được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ
thuật khu vực nông thôn nhằm để rút ngắn khoảng cánh về kinh tế - xã hội giữa
vùng thành thị và nông thôn. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị
quyết về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới (NTM), nâng cao đời
sống của người nông dân; Trong đó, trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số
26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7, khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông

thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng NTM. Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết xác
định, đến năm 2020: 50% số xã đạt chuẩn NTM trên tổng số 9.121 xã của cả
nước theo 19 tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số
491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009. Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng
NTM gồm 5 nhóm nội dung (nhóm quy hoạch, nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội,
nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm hệ
thống chính trị), Chính phủ đã ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg ngày
04/6/2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 2020, nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp. Thực hiện chủ trương trên, phong
trào xây dựng NTM đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu
hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội. Đặc
biệt là Nội dung phát triển đường giao thông nông thôn gắn với duy tu bảo

1


dưỡng những công trình sau đầu tư, khi bắt đầu triển khia thực hiện trong những
năm đầu giai đoạn 2010-2015 các địa phương thực hiện rất tốt với việc phát
động phong trào ở từng địa phương, cơ sở khối lượng thi công nhanh, đạt và
vượt chỉ tiêu giao nhưng vì lẽ đó đến những năm cuối giai đoạn thì tiến độ thi
công và chất lượng thi công xây dựng đường giao thông nông thôn chững lại,
các địa phương chưa thực sự quan tâm và đi sâu về chất lượng sau đầu tư. Rồi
khi bước vào giai đoạn mới với các cơ chế chính sách mới thì cơ sở phải thực sự
thay đổi trong tư duy, sáng tạo trong công tác chỉ đạo, quan tâm hơn nữa đến
chất lượng các công trình sau đầu tư, nhất là các công trình xây dựng đường
giao thông nông thôn. Chính vì lẽ đó các cấp, các địa phương phải thường xuyên
thay đổi về nhận thức, hình thức và tổ chức quản lý từ khâu chuẩn bị đầu tư cho
đến công tác quản lý chất lượng công trình để đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu giao
và bắt kịp sự phát triển của nền kinh tế chung, giúp giảm khoảng cách giữa
thành thị và nông thôn. Khi thay đổi Hình thức tổ chức quản lý và thực hiện thì
các địa phương cũng cần phải quan tâm đến nội dung của nó bởi nội dung ý thức
luôn đi kèm với nhau, không thể tách rời nhau, trong đó Nội dung có vai trò
quyết định còn Hình thức thức đẩy nội dung phát triển. Đó chính là vấn đề mà
cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” của Triết học đề cập tới.
Vận dụng cặp phạm trù “Nội dung - Hình thức” để phân tích chất lượng
công trình xây dựng đường giao thông nông thôn trên địa bàn các xã vùng cao
cụ thể dưới góc nhìn của cặp phạm trù này là mục đích chính của Bài tiểu luận
này. Trong đó: Nội dung của bài tiểu luận được trình bày theo 3 phần:
PHẦN 1: LÝ LUẬN CỦA TRIỆT HỌC MÁC VỀ CẶP PHẠM TRÙ “NỘI
DUNG - HÌNH THỨC”.
PHẦN 2: PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG


GIAO THÔNG NÔNG THÔN TẠI CÁC XÃ VÙNG CAO CỤ THỂ DƯỚI GÓC
NHÌN CỦA CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC”.
PHẦN 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG GIAO
THÔNG NÔNG THÔN VÀ THỰC HIỆN QUẢN LÝ SAU ĐẦU TƯ.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC VỀ CẶP PHẠM TRÙ "NỘI DUNG HÌNH THỨC".

2


1. Khái niệm Nội dung và Hình Thức.

Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình
tạo nên sự vật. Còn hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là
hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
Ví dụ: Nội dung của quá trình thi công xây dựng đường giao thông
nông thôn trên địa bàn các xã là tổng hợp tất cả những yếu tố vật chất như con
người, công cụ lao động, máy móc phục vụ lao động, các quá trình con người sử
dụng công cụ để tác động vào đối tượng lao động, cải biến nó để tạo ra sản
phẩm là con đường phục vụ cho chính đời sống sinh hoạt của họ. Còn Hình thức
của quá trình thi công xây dựng tuyến đường đó là trình tự kết hợp, thứ tự sắp
xếp tương đối bền vững các yếu tố vật chất quả quá trình sản xuất, thi công, quy
định đến vị trí của người trực tiếp thi công và giam sát thi công, người công
nhân xây dựng với tư liệu sản xuất và sản phẩm của quá trình sản xuất.
Bất cứ sự vật nào cũng có hình thức bên ngoài của nó, song phép biện
chứng duy vật chú ý chủ yếu đến hình thức bên trong của sự vật, nghĩa là cơ cấu
bên trong của nội dung. Thí dụ nội dung của tác phẩm văn học phẩn ánh, còn hình
thức bên trong của tác phẩm đó là thể loại, những phéo thể hiện được tác giả sử
dụng trong tác phẩm như phương pháp kết cấu bố cục, nghệ thuật xây dựng hình
tượng, cú pháp miêu tả, tu từ… ngoài ra còn cả vấn đề về hình thức bên ngoài,
trang trí bía, mầu chữ, khổ chữ, cỡ chữ. Cũng như trong xây dựng hệ thống đường
giao thông nông thôn thì nội dung là xây dựng tuyến đường giao thông nông thôn
phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân tại khu vực đó, là xây dựng tuyến đường
đó với kết cấu mặt là bê tông xi măng, nhựa thâm nhập hay dải cấp phối mặt với
quy mô chiều rộng mặt đường, chiều rộng nền, chiều dài tuyến đường, còn hình
thức là các cách bố trí các tổ đội thi công, các giai đoạn thi công, bố trí nhân lực và
vật tư đảm bảo thi công đạt tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình sau đầu tư….
Trong cặp phạm trù Nội dung và Hình thức, phép biện chứng duy vật chủ yếu
muốn nói đến hình thức bên trong gắn liền với nội dung, là cơ cấu của nội dung
chứ không muốn nói đến hình thức bên ngoài của sự vật.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa Nội dung và Hình thức.
A, Sự thống nhất giữa Nội dung và Hình thức.
Vì nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật,
còn Hình thức là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố
của Nội dung. Nên Nội dung và Hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong
một thể thống nhất. Không có Hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng

3


Nội dung, ngược lại cũng không có Nội dung nào lại không tồn tại trong một
Hình thức xá định, Nội dung nào có Hình thức đó.
Nội dung và Hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không vì thế
mà lúc nào Nội dung và Hình thức cũng phù hợp với nhau. Không phải một nội
dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện trong một hình thức nhất định, và một hình
thức luôn chỉ chứa một Nội dung nhất định, mà một Nội dung trong quá trình
phát triển có thể có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại một hình thức hệ thống
có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau. Thí dụ, Quá trình xây dựng đường
giao thông nông thôn trên địa bàn các xã vùng cao để xây dựng và hoàn thành
một tuyến đường đưa vào sử dụng có thể bao gồm những yếu tố nội dung như
nhau như: Con người lao động trực tiếp và gián tiếp, công cụ lao động sản xuất,
vật tư vật liệu, máy móc thi công và các dụng cụ thiết yếu như máy đẩm bê tông,
máy ủi, máy san, máy trộn bê tông, máy thủy bình… Nhưng cách tổ chức, phân
công trong quá trình thi công công trình giao thông đó có thể khác nhau, tùy
thuộc vào điều kiện thực tế mà áp dụng các hình thức tổ chức thi công sao cho
phù hợp với điều kiện thực tế và khí hậu của từng vùng. Như vậy, Nội dung quá
trình thi công xây dựng được diễn ra dưới nhiều Hình thức khác nhau. Hoặc
cùng một hình thức tổ chức thi công như nhau nhưng được thực hiện trong
những công trình khác, nội dung khác như thi công đổ bê tông sân nền.. Vậy là
một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau.
B. Nội dung giữ vai trò quyết định đối với Hình thức trong quá trình vận
động phát triển của sự vật.
Vì khuynh hướng chủ đạo của Nội dung là biến đổi, còn khuyên hướng
chủ đạo của Hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với Nội
dung. Dưới sự tác động lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hặc giữa các sự
vật với nhau trước hết làm cho các yếu tố của Nội dung biến đổi trước, còn
những mối liên hệ giữa các yếu tố của Nội dung, tức là Hình thức thì chưa biến
đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở nên lạc hậu hơn so với Nội dung và sẽ trở thành
nhân tố kìm hãm Nội dung phát triển. Do xu hướng chung của sự phát triển của
sự vật, Hình thức không thể kìm hãm sự phát triển của Nội dung mà sẽ phải thay
đổi cho phù hợp với Nội dung mới. Ví dụ, lực lượng nhân công thi công là Nội
dung của phương thức thi công xây dựng còn mối quan hệ và cách bố trí nhân
lực thi công trên công trường là Hình thức của quá trình thi công. Cách bố trí
nhân lực thi công trong một tổ đội thi công đổ bê tông mặt đường biến đởi chậm
hơn, lức đầu tổ đội thi công đó phù hợp với vị trí thi công trên tuyến đường, phù
hợp với nhân lực đã được biên chế trong tổ đội đó. Nhưng do lực lượng nhân lực
thi công biến đổi nhanh hơn, có sự thay đổi nhân sự khác chưa phù hợp với vị trí
trong tổ đội thi công đó có nghĩa là biến đổi nhanh hơn sẽ đến lúc quan hệ sản
xuất và cách bố trí nhân lực thi công trên công trường sẽ lạc hậu, không phù hợp
so với quá trình thay đổi, phát triển của lực lượng nhân công vè sẽ trở thành yếu

4


tố kìm hãm tiến độ thi công, chất lượng thi công và hiệu quả ngày công lao
động. Để mở đường cho lực lượng nhân lực thi công phát huy hết tiền lực hiện
có và phát triển, con người phải thay đổi mối quan hệ và cách bố trí nhân lực thi
công trong từng tổ đội mới để phù hợp với lực lượng nhân công mới. Như vậy
sự biến đổi của Nội dung quy định sự biến đổi của Hình Thức.
C. Sự tác động trở lại của Hình thức đối với Nội dung.
Hình thức do Nội dung quyết định nhưng hình thức có tính độc lập,
tương đối và tác động trở lại Nội dung. Sự tác động của Hình thức đến Nội dung
thể hiện ở chõ: Nếu phù hợp với Nội dung thì Hình thức sẽ tạo điều kiện thuận
lợi thức đẩy nội dung phát triển; Nếu không phù hợp với Nội dung thì sẽ ngăn
cản, kìm hãm sự phát triển của Nội dung.
II. PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG
GIAO THÔNG NÔNG THÔN TẠI CÁC XÃ VÙNG CAO CỤ THỂ DƯỚI
GÓC NHÌN CỦA CẶP PHẠM TRÙ “NỘI DUNG - HÌNH THỨC”.
1. Xây dựng đường giao thông nông thôn là gì?
Đường giao thông nông thôn là bộ phận giao thông đường bộ ở các vùng
nông thôn nối tiếp với mạng lưới đường bộ quốc gia (quốc lộ, đường tỉnh,
đường đô thị, đường huyện, đường xã), nhằm phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp và phục vụ giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội của các làng, xóm, thôn,
bản, ấp, buôn, sóc và các điểm dân cư tương đương. Nó là điều kiện thiết yếu
để thức đẩy phát triển kinh tế xã hội củ từng địa phương, địa phương nào hệ
thống đường giao thông nông thôn được đầu tư phát triển mạnh mẽ thì địa
phương đó tạo được nền tảng quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển kinh tế xã hội ở tại địa phương đó.
Dấu hiệu đặc trưng và phân loại các tuyến đường giao thông nông thôn:
Đường huyện: có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
huyện, là cầu nối chuyển tiếp hàng hóa, hành khách từ hệ thống đường quốc gia
(quốc lộ, tỉnh lộ) đến trung tâm hành chính của huyện, của xã và các khu chế
xuất của huyện; phục vụ sự đi lại và lưu thông hàng hóa trong phạm vi của
huyện; Đường xã: có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
xã, kết nối và lưu thông hàng hóa từ huyện tới các thôn, làng, ấp, bản và các cơ
sở sản xuất kinh doanh của xã. Đường xã chủ yếu phục vụ sự đi lại của người
dân và lưu thông hàng hóa trong phạm vi của xã; Đường thôn: chủ yếu phục vụ
sự đi lại của người dân và lưu thông hàng hóa trong phạm vi của thôn, làng, ấp,
bản; kết nối và lưu thông hàng hóa tới các trang trại, ruộng đồng, nương rẫy, cơ
sở sản xuất, chăn nuôi; Đường dân sinh: chủ yếu phục vụ sự đi lại của người dân
giữa các cụm dân cư, các hộ gia đình và từ nhà đến nương rẫy, ruộng đồng, cơ

5


sở sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ... Phương tiện giao thông trên các tuyến đường dân
sinh chủ yếu là xe đạp, xe mô tô hai bánh, xe kéo tay, ngựa thồ; Đường nối với
các khu vực sản xuất (KVSX): chủ yếu phục vụ sự đi lại của người dân và lưu
thông nguyên vật liệu, hàng hóa đến các cơ sở sản xuất, chăn nuôi, gia công, chế
biến Nông Lâm Thủy Hải sản; vùng trồng cây công nghiệp; cánh đồng mẫu lớn;
đồng muối; làng nghề; trang trại và các cơ sở tương đương.
2. Giá trị của đường giao thông nông thôn đối với việc phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương.
Có nhiều luận điểm để đánh giá nhận thức về giá trị của việc xây dựng
đường giao thông nông thôn ở các xã vùng cao: Nó giúp thức đẩy nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, giao thông thông
thoáng, tạo điều kiện cho người dân phát triển sản xuất, tăng thu nhập, bộ mặt
nông thôn ngày càng khởi sắc, làm rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông
thôn.
Giá trị vô hình: Giao thông phát triển đã có những tác động trực tiếp và
gián tiếp tới các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương theo
hướng nhanh và bền vững. Đường giao thông nông thôn đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc
phòng, đồng thời góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá nông
nghiệp nông thôn và xây dựng nông thôn mới của địa phương.
Giá trị hữu hình: Nhờ việc đầu tư phát triển đường giao thông nông thôn
phát triển nên việc vận chuyển hàng hoá, nông sản, giao lưu, buôn bán, đi lại của
nhân dân được thuận lợi, kinh tế- xã hội phát triển, đời sống nhân dân có những
bước cải thiện đáng kể.
Sự nhận thức về chất lượng giá trị của công trình sau đầu tư: Nhận thức
tổng quát của nhân dân về chất lượng và hình ảnh đối với tuyến đường. Qua
nhiều năm thực hiện các Chủ chương, chính sách của Đảng ta phong trào xây
dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu
hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội. Các
địa phương đã tạo cho người dân luôn có ý thức, trách nhiệm trong việc hiến đất,
đóng góp tiền của, công sức để làm đường giao thông nông thôn. Phát triển
đường giao thông nông thôn đã trở thành phong trào rộng khắp trong toàn xã với
tinh thần: “Người người làm đường giao thông, nhà nhà làm đường giao thông”
với sự vào cuộc sau sát và nỗ lực của cả hệ thống chính trị tại cơ sở, đã tạo nên
phong trào thi đua trong toàn dân về việc phát triển và xây dựng đường giao
thông nông thôn, đảm bảo vượt nhanh về tiến độ, chất lượng công trình tuân thủ
đúng theo các quy phạm, quy định về quản lý chất lượng hiện hành. Ví dụ:

6


Người dân xã Võ Lao huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã có những nhận thức cực
kỳ quan trọng trong công tác xây dựng đường giao thông nông thôn trên địa bàn
xã. Xã Võ Lao là một xã vùng 2 thuộc huyện Văn Bàn một huyện nghèo trên địa
bàn tỉnh Lào Cai, các cơ chế chính sách được áp dụng trên địa bàn xã còn nhiều
hạn chế, nguồn lực đầu tư của Trung ương và của tỉnh chỉ hỗ trợ 50% giá trị vật
tư đưa vào công trình để thi công, ngân sách huyện đảm bảo hỗ trợ 30% giá trị
vật tư, còn lại là sự đóng góp và vào cuộc của nhân dân, đóng góp bằng ngày
công lao động để thực hiện xây dựng tuyến đường, hiến đất để xây dựng đường
và đóng góp 20% giá trí vật tư còn lại để hoàn thành các tuyến đường theo chỉ
tiêu giao hằng năm. Xã đã tích cực vận động và vào cuộc quyết liệt để hoàn
thành 32,7km đường giao thông nông thôn trong vòng 03 năm thực hiện với tư
duy và nhận thức là xã thực hiện xây dựng đường giao thông nông thôn nhanh
nhất, chất lượng thi công đảm bảo nhất trên địa bàn toàn tỉnh cho dù nhận thức
này không có gì là đảm bảo.
3. Thực trạng việc thực hiện đầu tư xây dựng đường giao thông nông
thôn ở tỉnh Lào Cai hiện nay.
Sau khi có nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đầu tư xây dựng các tuyến
đường giao thông nông thôn theo tính hình thức, báo cáo sai thực trạng về tiến
độ và chạy theo thành tích dẫn đến chất lượng các công trình đường sau đầu tư
kém, vừa mới đưa vào sử dụng đã xuống cấp, công tác duy tu bảo dưỡng sửa
chữa nhỏ chưa được quan tâm đúng mức.
Việc xây dựng đường giao thông nông thôn ở địa phương đã được thực
hiện theo phong trào ngoài việc thực hiện đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu giao cần
phải trú trọng vào chất lượng công trình sau đầu tư, tích cực hơn nữa trong công
tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên để hiệu quả của nguồn vốn đầu tư được sử
dụng lâu dài. Tình trạng đầu tư thi công lấy thành tích ngày càng phổ biến ở các
địa phương trong tỉnh, đầu tư dàn trải không có trọng tâm, xuất hiện các lợi ích
nhóm đã tạo ra một áp lực lớn cho lãnh đạo các địa phương và toàn xã hội. Công
tác giám sát cộng động chưa được thực hiện thường xuyên, manh tính hình thức,
đội ngũ cán bộ thực hiện giám sát cộng động đa số là những thành viên của Mặt
trận tổ quốc các cấp và người có uy tín trong cộng đồng nên chưa có trình đọ
chuyên sâu kết hợp với sự hời hợt của cơ quan quản lý nhà nước các cấp nhất là
cấp huyện và cấp xã đã gợi lên làn sóng trong dư luận, đầu tư vượt xa mức huy
động của nhân dân để xẩy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản lớn, nợ công
lớn không có khả năng hoàn trả.
Trong công tác xây dựng đường giao thông thôn thôn việc đảm bảo thi
công đúng kỹ thuật, chất lượng, chủng loại vật liệu đưa vào công trình, thành

7


phần cấp phối vật liệu phải được ưu tiên hàng đầu chú trọng đặc biệt thì hình
thức bên ngoài cũng phải được quan tâm vì nó là cả bộ mặt của khu vực nông
thôn, là uy tín, sự tín nhiệm của nhân dân đối với lãnh đạo các cấp….để thực sự
nhân dân là người được hưởng lợi nhiều nhất từ các nguồn vốn đầu tư này. Một
xã mạnh trong công tác xây dựng đường giao thông nông thôn là một xã biết
chăm chút cả về Nội dung và Hình thức trong công tác chỉ đạo của mình. Theo
như ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “Nội dung – Hình thức” cũng
đã khẳng định “Trong nhận thức và ngoài hành động phải thống nhất giữa nội
dung và hình thức không được tách rời nhau, tuyệt đối hóa một mặt là đề phòng
rơi vào chủ nghĩa hình thức”.
Ví dụ: Xã Khánh Yên Trung huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai là một xã anh
hùng với truyền thống cánh mạng từ thời ký kháng chiến trống thực dân Pháp,
đến thời bình trong thời ký Nước ta đang trong quá trình quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội là một xã dẫn đầu trong các phong trào thi đua trên địa bàn huyện. Khi
triển khai xây dựng Chương trình mực tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới
trong đó xây dựng đường giao thông nông thôn cũng là một trong những xã dẫn
đầu của huyện, bắt đầu thực hiện năm 2011 với tổng số 34 tuyến đường chưa
được đầu tư nâng cấp và cứng hóa, trước khi Chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới được triển khai, xã Khánh Yên Trung gặp rất nhiều khó
khăn: Kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp theo phong tục tập quán, sản xuất
manh mún, tình trạng sản xuất tự phát nên chất lượng, hiệu quả sản xuất thấp,
đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, dân cư sống
chưa tập trung, trình độ dân trí không đồng đều, cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ
không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, đường giao thông nông thôn chủ
yếu là đường đất trơn trượt, có một vài tuyến được rải đá cấp phối, đi lại gặp
nhiều khó khăn vv…Trong 5 năm thực hiện đầu tư xây dựng, cứng hóa đường
giao thông nông thôn xã đã chỉ đạo nhân dân các thôn bản thực hiện cứng hóa
được 34 tuyến đường với tổng chiều dài là 31,466 km trong đó BTXM được
18,88 km; Cấp phối được 10,656 km; Đường ngõ xóm thực hiện 1,91 km. Với
sự chủ động, tích cực, nỗ lực hết mình của đảng bộ và nhân dân địa phương,
cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của BCĐ XD NTM & GNBV huyện, các nguồn
lực được huy động triệt để từ kinh phí bố trí đầu tư của UBND tỉnh, UBND
huyện, kinh phí xã hội hóa từ sự ủng hộ của các đơn vị được BCĐ tỉnh phân
công giúp đỡ xã, các doanh nghiệp trên địa bàn. Đến nay, đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân đã được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người tăng
cao, đạt trên 22,5 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm xuống chỉ
còn 10.84%. tỷ lệ hộ khá, giàu tăng cao. Đến hết năm 2016 cơ sở hạ tầng trên

8


địa bàn xã đã được hoàn thiện; 100% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 100%
số thôn có nhà văn hóa; 100% nhân dân trên địa bàn xã được tiếp cận đầy đủ các
dịch vụ viễn thông; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt trên 98%.
Đến hết năm 2016 xã đã vinh dự được UBND tỉnh Lào Cai quyết định xã hoàn
thành và đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới. Đạt được kết quả ngày hôm nay là
do ban lãnh đạo xã, Ban chỉ đạo xã đã biết vận dụng sáng tạo và chỉ đạo trọng
tâm cả về Nội dung và Hình thức, các công trình hạ tầng nông thôn được tổ chức
thực hiện, tổ chức giám sát thực hiện rất tốt, chất lượng đảm bảo theo quy định,
đạt thẩm mỹ cao, phục vụ rất tốt cho nhu cầu cả về đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, nhận được sự đồng thuận cao của nhân dân trên địa bàn xã.
Tuy nhiên xét về góc độ chung không phải xã nào trên địa bàn huyện cũng
coi trọng việc thực hiện xây dựng đường giao thông nông thôn đảm bảo chất
lượng công trình, tiến độ thực hiện hoặc chỉ coi trọng một phần chưa đầy đủ
nghĩa là coi trọng vấn đề Hình thức. Ví thử các xã đăng ký thực hiện từ đầu năm
để lấy thành tích hay vì lợi ích nhóm nên thực hiện rất hời hợt, tiến độ không
đảm bảo, công tác quản lý kém, không kiểm soát vật liệu đầu vào, không chỉ đạo
thực hiện hoặc thực hiện theo hình thức chống đối, chất lượng công trình chưa
đưa vào sử dụng đã hư hỏng một phần hoặc hoàn toàn, khi các cơ quan chức
năng vào cuộc thì báo cáo sai sự thật, chất lượng không trình không đảm bảo
nên không thể nghiệm thu được, làm mất uy tín và lòng tin của nhân dân. Lấy đó
để làm bước đệm cho một số cá nhân lãnh đạo nhanh vượt cấp, nhanh được cân
nhắc. Trong khi đó xu thế chung trên địa bàn toàn quốc các công trình được đầu
tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn tài trợ, vốn vay ưu đãi của
nước ngoài là phải phát huy được hiệu quả đầu tư của nguồn vốn, phải tạo được
lòng tin của nhân dân vào các chính sách của Đảng ta, Đảng ta lấy nhân dân làm
gốc, chất lượng công trình phải được đảm bảo, người dân phải được thụ hưởng
thành quả của các nguồn vốn đầu tư xây dựng. Việc quản lý chất lượng các công
trình xây dựng đường giao thông nông thôn sau đầu tư và phát huy được hiệu
quả đầu tư được quan tâm nhiều hơn so với làm thế nào để kéo về địa phương
mình nhiều nguồn lực hơn nhưng thực hiện thì chất lượng kém, đầu tư không
hiệu quả và mất uy tin, lòng tin của nhân dân. Theo sự chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh
Ủy, UBND tỉnh nếu làm những việc thuận lòng dân, được nhân dân ủng hộ thì
có khó đến đấu, có vất vả thế nào thì nhân dân liệu cũng xong, nó trở thành bất
hủ, nó có khả năng tồn tại đáng ngạc nhiên khi nguồn lực đầu tư từ ngân sách và
các nguồn vốn vay ngày càng hạn hẹp, chủ yếu dựa vào nguồn lực và nội lực
của nhân dân và thậm trí nó có thể tổn tại và ảnh hưởng rất nhiều đến các
Chương trình khác khi sau này Chính phủ ban hành chương trình mới. Nhận

9


định trên là hoàn toàn đúng vì trong mối quan hệ biện chứng giữa Nội dung và
Hình thức đã khẳng định rằng “Nội dung thường biến đổi nhanh còn hình thức
tương đối ổn định” vì thế nó là một thế lực vô hình cố định mà các nhà lãnh đạo
có thể từ đó để chỉ đạo hoàn thành vượt những chỉ tiêu giao hằng năm. Để các
công trình có chất lượng đảm bảo tuân thủ theo các quy phạm hiện hành thì các
địa phương phải chú trọng trong công tác quản lý vật liệu đầu vào, quá trình thi
công các cấu kiện của công trình, xử lý nền tốt, lót cát và lót bạt li lông trước khi
thực hiện đổ bê tông mặt đường, trộn cấp phối bê tông đúng tỷ lệ, không được
dùng nước bẩn để trộn bê tông, các vật liệu phải sạch, đảm bảo đúng thành phần
hạt như thiết kế…nếu không đủ năng lực giám sát quản lý nên mạnh dạn chỉ
thầu cho những đơn vị tư vấn có đủ điều kiện về pháp lý và năng lực để thực
hiện. Ví dụ khi thực hiện giám sát nhân dân thực hiện đổ bê tông xi măng mặt
đường, tuyến đường liên thôn với quy mô mặt đường Bm=3m, chiều dày bê
tông 16cm, kết cấu mặt đường đã được dải cấp phối. Thì trước khi thi công phải
kiểm tra rõ thành phấn cấp phối mác bê tông, tỷ lệ các hạt trong cấp phối vật
liệu đảm bảo phải sạch nguồn nước phải sạch, tiến hành ghép cốt pha theo đúng
kỹ thuật đã được cơ quan chuyên môn hướng dẫn, lót cát, dải bạt và kiểm tra lại
cao độ mặt đường, đong đúng tỷ lệ cấp phối theo mác bê tông, tiến hành đổ, đầm
bê tông và làm mặt bê tông đảm bảo bê tông sau khi đổ xong có bề mặt không
quá nhẵn cũng không quá gồ ghề rồi tiến hành kiểm tra cao độ mặt đường, thực
hiện bảo dưỡng bê tông theo đúng tiêu chuẩn sau đó mới cắt dãnh co dãn, khe
lún…Khi đầu tư thực hiện đúng quy trình thì chất lượng công trình sẽ được đảm
bảo, phát huy được hiệu quả của nguồn lực đầu tư, phục vụ tốt cho nhu cầu đi lại
và trao đổi hoàng hóa của nhân dân, lầm nhân dân tin tưởng và tuyệt đối trung
thành với sự chỉ đạo Đảng.
III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG GIAO
THÔNG NÔNG THÔN VÀ THỰC HIỆN QUẢN LÝ SAU ĐẦU TƯ.
*. Phương hướng phát triển.
Muốn đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng
sau đầu tư phải thực hiện quản lý chặt chẽ và đảm bảo tính bền vững không có
lợi ích nhóm hay cá nhân trong khi thực hiện, phải thực hiện mục tiêu cuối cùng
là người dân được thụ hưởng hoàn toàn nguồn lực đầu tư. Do đó các địa phương
cần tập trung vào các vấn đề sau:
1. Về Nhận thức: Có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về quản lý chất lượng

10


công trình, hiệu quả nguồn lực sau đầu tư. Nội dung của nó là tạo ra những nhận
thức thông nhất trong toàn thể ban lãnh đạo của địa phương, đòi hỏi địa phương
phải có một chiến lược về kế hoạch chi tiết để đăng ký, tổ chức thực hiện và
giám sát thực hiện đầu tư xây dựng đến từng thôn bản từ đó thực hiện chung trên
toàn địa bàn.
Trong nhận thức về Chất lượng chú ý đến các khía cạnh: Coi chất lượng cong
trình là cái chung, nhân dân được thụ hưởng hoàn toàn làm mục tiêu song cần
phải thấy được các hình thức biểu hiện của nó, không nên đồng nhất làm một.
Đầu tư thực hiện xây dựng phải phù hợp với nha cầu, ước muốn và nguyện
vọng của nhân dân, chống quan liêu và cửa quyền.
Các địa phương cần thường xuyên tổ chức các cuộc giao ban giữa các xã để
trao đổi rõ kinh nghiệm thực hiện với nhau, cùng giúp nhau phát triển.
Linh hoạt hơn nữa trong công tác chỉ đạo thi công, tổ chức thi công.
2. Cần có thiết chế phù hợp.
Muốn biến nhận thức này thành hiện thực phải có thiết chế phù hợp và hình
thức quản lý phù hợp với Nội dung yêu cầu. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ giám
sát chuyên sâu được đào tạo bài bản, thường xuyên tập huấn kỹ năng thực hiện
nhiệm vụ, ký thuật trong thi công cho từng thôn bản. Điều này đòi hỏi lãnh đạo
cơ sở phải luôn tìm cách hoàn thiện kỹ năng lãnh chỉ đạo, phương thức chỉ đạo
tập trung vào chất lượng và hình thức chỉ đạo để có những công trình có chất
lượng cao nhất.
Kế hoạch thực hiện chi tiết phải bao hàm các nội dung sau:
Xác định nhu cầu cần đầu tư thông qua nguyện vọng của nhân dân trong địa
phương mình.
Căn cứ trên tổng mức huy động và bố trí vốn hàng năm của địa phương để
làm cơ sở bố trí thực hiện.
Kế hoạch phân định rõ khối lượng công việc cần thực hiện, xác định Nội
dung công việc, Hình thức thực hiện, ai chịu trách nhiệm chính, ai là người triển
khai, giám sát thực hiện, tiến độ, thời gian hoàn thành và quy trách nhiệm cụ thể
với từng vị trí công việc gắn với con người thực hiện.
3. Thực hiện tốt công tác phối hợp thực hiện.

11


Căn cứ trên nhiệm cụ của UBND tỉnh giao các ngành của tỉnh, nhiệm vụ của
UBND huyện giao cho các phòng ban chuyên môn của huyện, các ngành của
huyện. Lãnh đạo địa phương phải phối hợp chặt chẽ trong công tác chỉ đạo, tổ
chức thực hiện xây dựng đường giao thông nông thôn trên địa bàn mình, phối
hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn được UBND tỉnh giao phụ trách đơn
vị, các phòng ban chuyên môn của huyện phụ trách các tiêu chí, đặc biệt là tiêu
chí giao thông trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới. Thường
xuyên trao đổi hai chiều trong quá trình triển khai thực hiện và chịu sự giám sát
chuyên môn của các ngành, thường xuyên báo cáo những khó khăn vướng mắc
trong quá trình triển khai thực hiện tại cơ sở.
4. Tăng cường thực hiện công tác giám sát chuyên môn và giám sát cộng
đồng trong quá trình đầu tư.
Trú trọng và nâng cao chất lượng giám sát chuyên môn của các cơ quan ban
nhành thực hiện việc giám sát chuyên sâu, thường xuyên chỉ đạo cán bộ trực tiếp
xuống cơ sở giám sát việc tổ chức thi công, hình thức thi công và chất lượng thi
công xây dựng đường giao thông nông thôn. Kịp thời chấn chỉnh những sai sót
của việc tổ chức thực hiện để mang lại hiệu quả và chất lượng cao nhất cho công
trình.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của cộng đồng các ban
ngành đoàn thể các cấp phải nhất là ở cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền
nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về công tác giám sát đầu tư cộng
đồng, từ đó có thái độ đúng đắn, ủng hộ, tạo điều kiện cho ban Giám sát đầu tư
cộng đồng hoạt động có hiệu quả.
5. Tăng cường thực hiện công tác duy tu bảo dưỡng sửa chữa thường
xuyên các công trình đường giao thông nông thôn sau đầu tư.
Tăng cường hơn nữa trong công tác duy tu bảo dưỡng sửa chữa thường
xuyên các công trình đường giao thông nông thôn sau đầu tư như quan tâm chỉ
đạo nhân dân tiến hành đào vét dãnh dọc thoát nước, đắp phụ lề đường, thường
xuyên phát dọn cở hai bên hành lang đường, sửa chữa đúng theo quy chuẩn đối
với những hư hỏng nhỏ trên tuyến phát sinh do quá trình sử dụng. Đảm bảo chất
lượng công trình luôn được đảm bảo, hiệu quả nguồn vốn đầu tư được lâu dài và
phục vụ tốt cho việc lưu thông hoàng hóa và nhu cầu đi lại của nhân dân, thúc
đẩy nền kinh tế của địa phương ngày càng phát triển.

12


6. Kết luận.
Trong xu thế hiện nay thì công tác quản lý chất lượng công trình đường giao
thông thôn nông và quản lý sau đầu tư đóng vai trò rất lớn, quyết định sự thành
công của địa phương trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia. Nó
giúp cho nhân dân được thụ hưởng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước,
giúp thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương, làm rút ngắn khoảng
cách giữa thành thị và nông thôn, giúp địa phương thực hiện thắng lợi các
Chương trình và chính sách của đất nước. Tuy nhiên các địa phương chưa quan
tâm sâu sát hoặc lơ đãng đến vấn đề này. Mong rằng các địa phương trên địa bàn
tỉnh Lào Cai nói riêng và trên toàn Quốc nói chung cần có cái nhìn đúng đắn,
cần lựa chọn các phương thức chỉ đạo sao cho hợp lý nhất, phù hợp chất với
điều kiện thực tế của địa phương mình để chỉ đạo thực hiện và nâng cao chất
lượng, hiệu quả đầu tư của các công trình xây dựng đường giao thông nôn thôn,
thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đưa ra khi ban hành
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới và chính sách xây
dựng đường giao thông nôn thôn đối với các xã ở khu vựa nông thôn.

13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Triết học Mác – Lê Nin.
2. Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020;
3. Quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng
nông thôn mới”;
4. Căn cứ Quyết định số 30/2011/QĐ-UBND ngày 14/10/2011 của UBND
tỉnh Lào Cai Ban hành Quy định về Phong trào thi đua "Chung sức xây dựng nông
thôn mới" trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011 – 2015.
5. Nghị quyết số số 11/2013/NQ-HĐND ngày 12 tháng 07 năm 2013 của
UBND tỉnh Lào Cai về chính sách đầu tư xây dựng đường giao thông nông thôn
gắn với xây dựng nông thôn mới.
6. Quyết định số 359/QĐ-UBND ngay 5/02/2013 của UBND tỉnh Lào Cai
về việc ban hành kế hoạch phát động các phong trào thi đua chuyên đề các lĩnh vự:
Bảo vệ rừng và trồng cây xanh; xây dựng đường giao thông nông thôn; vệ sinh môi
trường nông thôn.
7. Một số tài liệu khác

14


MỤC LỤC
A. Lời mở đầu.......................................................................................................Trang
1
B. Nội dung……. .................................................................................................Trang 3
I. Lý luận của Triết học Mác về cặp Phạm trù “Nội dung – Hình Thức”….........Trang 3
II. Phân tích chất lượng một công trình xây dựng đường giao thông nông thôn tại xã
vùng cao dưới góc nhìn cụ thể của cặp phạm trù “Nội dung – Hình thức”........Trang 5
III. Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chuấ lượng các công trình
xây dựng đường giao thông nông thôn và thực hiện quản lý sau đầu tư..............Trang 10

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×